Video
Công đức
Sách: LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM TÁI BẢN 2024 CÓ BỔ SUNG

CHƯƠNG XII: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH

12.1. Thời đại Hồ Chí Minh: Thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (ngày /3/2/1930) do Nguyễn Ái Quốc (sau này là Hồ Chí Minh) sáng lập và lãnh đạo. Đã trải qua cuộc cách mạng tháng 8/1945  giành được độc lập mở ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945. Trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên ngày 7/5/1954 để lập lại hoà bình ở miền Bắc, tiến hành cuốc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam và kết thúc cuộc chiến tranh này bằng cuộc Tổng tiến công trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước ngày 30/4/1975. Rồi sau đó đi vào con đường xây dựng một nước Việt Nam độc lập, hoà bình, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

“Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội”.Trích diễn văn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại lễ kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2015) (http://baoquangninh.com.vn/, 18/05/2015)

12.2. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc (19 tháng 5 năm 18902 tháng 9 năm 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 02/9/1969 tại Hà Nội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.

Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 02/9/1969) ( https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/)

Ngày 03/6/1911, Nguyễn Tất Thành nhận thẻ nhân viên lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin với cái tên là Văn Ba. Hai ngày sau, 05/6/1911 con tàu rời cảng Nhà Rồng đến Pháp.

Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động. Qua thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.

Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. (https://dangcongsan.vn/, ngày 03/06/2011).

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 18 đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920 (https://www.google.com.vn)

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái  Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” -  một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

Tháng 5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu Á.

Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.

Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.

Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1942, Người lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.

Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt Chính phủ lâm thời do Người làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam.

Ngày 01/01/1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Tháng 01/1946, Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 02/3/1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 3/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ 11/1946 đến 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ 11/1946 đến 1947).

Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.

Ngày 19/12/1946, Người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (7/5/1954).

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Tháng 10/1956, tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, kiêm làm Tổng Bí thư của Đảng.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. (https://tuoitre.vn/, ngày 17/07/2016)

Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 02/9/1969, tại Hà Nội.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc Đảng và nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.(https://www.thanhuytphcm.vn/, ngày 30/9/2015).

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc

Từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, trong khóa họp lần thứ 24 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.6.5, lấy năm 1990 nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/, ngày 30/4/2018)

Bản tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. (https://vi.wikipedia.org)

 Bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ ngày 2/9/1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập.( http://baotintuc.vn/) 

Toàn văn bản tuyên ngôn độc lâp:

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập trên quảng trường Ba Đình. (https://vi.wikipedia.org)

"Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.(https://vietnamnet.vn/, ngày 02/09/2021)

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp tấn công Sài Gòn. Quân dân Sài Gòn chống cự quyết liệt. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập với Trần Văn Giàu là chủ tịch. Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ điện ra Trung ương xin cho được đánh. Chính phủ ra huấn lệnh, bản thân Người gửi thư khen ngợi "lòng kiên cường ái quốc của đồng bào Nam Bộ"

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I của Việt Nam đã cử ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại biểu quốc hội chủ yếu là nhân sĩ trí thức, người ngoài Đảng. Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và với chức danh Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người cũng đảm nhiệm công việc của thủ tướng. Chính phủ này, cho tới cuối năm 1946, đã trải qua 3 lần thay đổi cơ cấu và nhân sự vào các thời điểm: ngày 1 tháng 1; tháng 3; và ngày 3 tháng 11.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên, là: “...kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già, trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc”./. (https://binhphuoc.gov.vn/, ngày 28/12/2020)

Nhà nước và chính phủ của Người đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, khi này Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận, không phải thành viên Liên hiệp quốc cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước khác. Ngoài 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, còn có quân Anh và quân Pháp (vào thời điểm toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, Pháp có khoảng 6 vạn quân), và khoảng 6 vạn quân Nhật. Về đối nội, "giặc đói, giặc dốt" - như chính cách Người gọi - và ngân quỹ trống rỗng là những vấn đề hệ trọng nhất.

Bởi thế, Người chú trọng đến việc phát triển giáo dục, mà trước hết là xóa nạn mù chữ bằng cách mở các lớp học Bình dân học vụ. Ngày 15 tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cho học trò Việt Nam. Thư có đoạn:

Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em Hồ Chí Minh (https://www.qdnd.vn/, ngày 14/09/2018 )

Để diệt "giặc đói", ngoài việc kêu gọi tăng gia sản xuất, Người đề nghị đồng bào "cứ 10 ngày nhịn ăn 1 bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa" để đem số gạo tiết kiệm được cứu dân nghèo. Bản thân Người gương mẫu thực hiện việc nhịn ăn để cứu đói này.

Để đối phó với giặc ngoại xâm, Người thi hành một chính sách đối ngoại mềm dẻo.

Theo Hiệp ước Pháp-Hoa, ký ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp sẽ thay thế quân của Tưởng Giới Thạch. Một tuần sau, ngày 6 tháng 3 năm 1946, Người cùng Vũ Hồng Khanh ký với Jean Sainteny - Ủy viên Pháp ở miền bắc Ðông Dương - bản Hiệp định sơ bộ với Pháp, với 3 nội dung chủ chốt:

< >Pháp công nhận Việt Nam "là một nước tự do, là một phần tử trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp". Trước đó, đàm phán căng thẳng khi Người muốn Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập và phản đối kịch liệt khi Pháp muốn dùng chữ "Quốc gia Tự trị" để mô tả tổ quốc của Người.Pháp được đưa 1,5 vạn quân ra Bắc thế cho quân Tưởng, nhưng phải rút trong 5 năm, mỗi năm rút 1/5 quân số.http://truongchinhtritinhphutho.gov.vn/, ngày 23.02.2021)

Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris, 1946 (https://vi.wikipedia.org)

 

Ngày 31 tháng 5 năm 1946, Người lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này; cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau 1946. Trước khi đi, Người bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho ông Huỳnh Thúc Kháng với lời dặn "Dĩ bất biến, ứng vạn biến". Tại Việt Nam, Người dự đoán thời gian ở Pháp là "...có khi một tháng, có khi hơn" nhưng cuối cùng Người ở Pháp 4 tháng (Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946). Hội nghị Fontainebleau 1946 thất bại vì phía Pháp chần chừ không ấn định chắc chắn thời điểm và cách thức thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về việc sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo yêu cầu của phái đoàn Việt Nam. Phái đoàn Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu về nước nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nán lại Pháp ký Tạm ước với Pháp. Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện chính phủ Pháp, bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet, bản Tạm ước Việt - Pháp (Modus vivendi). Trong bản Tạm ước này, hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của kiều dân, chế độ tài sản của hai bên; thống nhất về các vấn đề như: hoạt động của các trường học Pháp, sử dụng đồng bạc Đông Dương làm tiền tệ, thống nhất thuế quan và tái lập cải thiện giao thông liên lạc của Liên bang Đông Dương, cũng như việc thành lập ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn, và hai bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia, và hợp tác để những kiều dân hai bên không làm hại nhau. Tạm ước cam kết sẽ có một nhân vật do Việt Nam chỉ định và Chính phủ Pháp công nhận được uỷ nhiệm cạnh thượng sứ để xếp đặt cộng tác thi hành những điều thoả thuận này. Cuối cùng, Chính phủ hai bên sẽ sớm tiếp tục đàm phán (chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947) để tìm cách ký kết những bản thoả thuận riêng nhằm dọn đường cho một hiệp ước chung dứt khoát. (https://www.hcmcpv.org.vn/).

Thế nhưng những nhân nhượng đó cũng không tránh nổi chiến tranh. Sau khi nhận được liên tiếp 3 tối hậu thư của Pháp trong vòng chưa đầy một ngày đòi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố, Người kí lệnh kháng chiến. Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do Người chấp bút được phát trên đài phát thanh. 20 giờ tối cùng ngày, kháng chiến bùng nổ.

“Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

Kháng chiến thắng lợi muôn nǎm!” (https://dangcongsan.vn/, ngày 17/09/2019)

 Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Ảnh tư liệuGiai đoạn kháng chiến chống Pháp

Tháng 3 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chuyển lên Việt Bắc. Người kêu gọi nhân dân tiêu thổ kháng chiến, tản cư cũng là kháng chiến, phá hoại (cho quân Pháp không sử dụng được cơ sở hạ tầng) cũng là kháng chiến.

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc  ( www.google.com.vn)

 

Chuyến đi sang Trung Quốc và Liên Xô gặp Stalin và Mao Trạch Đông năm 1950 có ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong vấn đề Trung Quốc và Liên Xô hỗ trợ chính phủ Bắc Việt Nam phát triển chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và chống Pháp. Đúng dịp Tết Nguyên đán Canh Dần năm 1950, Người thực hiện một chuyến đi sang Trung Quốc, Liên Xô. Ngày 2-1-1950, Người cùng Trần Đăng Ninh, từ Tuyên Quang đi bộ tới Trùng Khánh - Cao Bằng, rồi đi tiếp đến Long Châu, Quảng Tây. Đến đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt được liên lạc với Đảng cộng sản Trung Quốc. Văn phòng Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã bố trí xe đón đoàn đi Nam Ninh, từ đó đoàn đi xe lửa đến Bắc Kinh. Người làm việc ở Bắc Kinh một tuần, sau đó cùng Trần Đăng Ninh đi xe lửa liên vận đến Liên Xô. Chuyến đi này, Người đã thành công ở cả hai phương diện chính trị và ngoại giao, đó là chuyến đi lịch sử làm tiền đề cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam - Liên Xô, giữa Việt Nam - Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác. Ngày 11-3-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Trần Đăng Ninh về đến Bắc Kinh, giữa tháng 4 -1950, Người về đến Tuyên Quang.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đài quan sát trận đánh mở màn của bộ đội ở Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới (1950) (https://hochiminh.vn/)

 Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức vào trung tuần tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang, Người quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai trở lại. Với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam. Người tuyên bố:

Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam - Hồ Chí Minh (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ngày 30/9/2015).

Tại Đại hội này Đảng Lao động đã khởi xướng Cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là "bóc lột", "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập... để lập lại công bằng xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng.

Chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1953  (www.google.com.vn)

Cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, khi thực dân Pháp bị đánh bại tại Điện Biên Phủ - sự kiện báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới - và dẫn đến Hiệp định Genève. (https://vi.wikipedia.org)

Nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 10/1954 nhận định: "Hội nghị Genève đã đi đến thỏa thuận lập lại hòa bình Đông Dương, đã ký kết hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Campuchia và Lào... Thắng lợi to lớn đó đã kết thúc ách thống trị của thực dân Pháp ở miền Bắc, nhân dân miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hòa bình kiến thiết đất nước sau này..." (http://vnexpress.net/ ngày 18/7/2014)

Giai đoạn sau năm 1954

Ngày 8/7/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghé thăm Bắc Kinh trên đường đi Bắc Hàn, Liên Xô và Đông Âu khi chiến dịch chống phái hữu ở Trung Quốc bắt đầu. 

Tháng 8 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bỏ ra năm ngày thực hiện cuộc viếng thăm hữu nghị Cộng hoà Nhân dân Hungary. Một kỹ sư người Hungary đã ghi nhận:

 “Bỏ qua mọi thứ lễ nghĩa nhưng vẫn khiến người khác phải kính trọng, con người ít lời, thông tuệ ấy có một tính cách rất lôi cuốn… Và ngày hôm đó đã đi vào tâm trí của tôi như một trong những kỷ niệm thật đẹp của đời tôi”.(https://www.bqllang.gov.vn/, ngày 2/10/2015).

Các cháu thiếu nhi thủ đô Mát-xcơ-va hân hoan chào đón Bác Hồ, ngày 27/8/1957

( http://quehuongonline.vn)

Bác Hồ và các cháu dự trại hè thiếu nhi Đức và Hungari tổ chức tại Cộng hòa Dân chủ Đức, năm 1957 ( http://quehuongonline.vn)

Trên đường quay về Việt Nam, vào cuối tháng 8/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa ghé thăm Trung Quốc và gặp các lãnh đạo Trung Quốc. Khoảng hai tuần sau khi trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng bút danh Trần Lực, đăng một bài trên báo Nhân dân ngày 16/9/1957 với tựa đề “Đập tan tư tưởng hữu khuynh”, lên án đó là tư tưởng độc hại và dễ lan tràn như cỏ dại, sau đó Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm bị dập tắt. Trước đó, một xã luận của báo Nhân dân ở Việt Nam, viết rằng: “Chúng ta không thể cho phép bất kỳ ai lợi dụng tự do dân chủ và tự do ngôn luận để tách rời nhân dân khỏi Đảng.”

Hai năm sau (1959), Người tới thăm thủ đô Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm 10 năm cách mạng Trung Quốc. Trong những cuộc đàm phán riêng, Người nhận được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moskva để viện trợ thêm vũ khí và dân sự, nhưng đã khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam.  (https://vi.wikipedia.org/)

Khi Hoa Kỳ bắt đầu cuộc chiến tranh không kích, ném bom vào miền Bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được điện từ nhà triết học nổi tiếng người Anh Bertrand Russell - một người yêu hòa bình. Trong điện này, Russell nêu ra quan điểm chống đối của mình đối với sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Đáp lại, Người gửi Russell điện cảm ơn vào ngày 10 tháng 8 năm 1964. Điện này có đoạn:

Chúng tôi luôn thiết tha với hoà bình và chủ trương giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương pháp hoà bình. Tôi cảm ơn cụ đã quan tâm đến tình hình nghiêm trọng do Mỹ gây ra trên đất nước chúng tôi và xin gửi cụ lời chào kính trọng” - Hồ Chí Minh (https://tennguoidepnhat.net/, ngày 04/03/2013).

Tháng 8-1965, Mỹ ồ ạt đưa 30 vạn quân viễn chinh và rất nhiều vũ khí, thiết bị quân sự vào miền Nam Việt Nam hòng nhanh chóng tiêu diệt quân cách mạng và bình định miền Nam..

Đồng thời quân đội Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc bằng cuộc chiến tranh phá hoại do không quân và hải quân thực hiện. Nhưng ngay mùa khô năm 1965 - 1966, quân Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường miền Nam, còn ở miền Bắc quân và dân ta đã bắn rơi hàng nghìn máy bay các loại của Mỹ.

Trước âm mưu đó và lường trước khả năng cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn lan rộng và vô cùng ác liệt, để khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi quan trọng : “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” Chủ tịch Hồ Chí Minh (https://tuoitre.vn/, ngày 17/07/2016).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đồi cây ở Phú Thọ, 1964  (https://vi.wikipedia.org)

Ngày 15.2.1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời TT Johnson. Bằng những lời đanh thép, Người đã khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người chỉ rõ: "Chính phủ Mỹ đã gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ muốn nói chuyện thì trước hết Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Cuối thư, Người viết: "Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước vũ lực và quyết không nói chuyện trước sự đe dọa của bom đạn". Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh leo thang. Nhưng chính quyền Mỹ và Sài Gòn không dự báo được cuộc tổng tiến công bất ngờ Tết Mậu Thân 1968. Kết quả là cuộc đàm phán bốn bên khai mở. (https://daibieunhandan.vn/ , ngày 12/02/2007)

Giai đoạn cuối đời

Từ khoảng nửa cuối thập niên 1960, do sức khỏe suy giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh giảm dần các hoạt động chính trị, thường xuyên sang Trung Quốc tham quan, nghỉ ngơi và dưỡng bệnh (nhất là trong 3 năm cuối đời khi Người liên tục ốm nặng).

 Trong thời gian chuẩn bị diễn ra sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Người đang trong đợt dưỡng bệnh dài ngày tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Tuy vậy Người vẫn quay về Việt Nam ít ngày vào tháng 12 năm 1967 để phê duyệt quyết định tiến hành cuộc tổng tấn công. Hiệu lệnh mở màn cuộc tổng tấn công chính là bài thơ chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát trên Đài tiếng nói Việt Nam: "Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta."

Bút tích di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969  (https://dangcongsan.vn/)

Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người vào ngày 10 tháng 5 năm 1965 và sửa lại trong những dịp sinh nhật tiếp theo. Người mang di chúc ra viết và dặn lại Vũ Kỳ: "Chú cất giữ cẩn thận, sang năm, mồng 10 tháng 5 nhớ đưa lại cho Bác". Mở đầu bản di chúc năm 1965 có đoạn: "Nhân dịp mừng 75 tuổi... Năm nay tôi 75 tuổi, tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng là lớp người 'xưa nay hiếm'...". (https://baotanghochiminh.vn/, ngày 6/12/2019)

Trong di chúc, Người có viết:

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới Hồ Chí Minh (https://www.thanhuytphcm.vn/, ngày 30/9/2015)

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân – Chủ tịch Hồ Chí Minh (https://dangcongsan.vn/, ngày 28/10/2019)

Image result for Hồ chủ tịch qua đờiNgười đặt bút viết bản Di chúc ngày 10 tháng 5 năm 1965, và bổ sung thêm đến tháng 5 năm 1969 mới xong. Với tổng số 7 trang viết tay và đánh máy, Người chọn đúng vào dịp sinh nhật mình, bắt đầu từ sáng ngày 10 tháng 5 đến ngày 20 tháng 5 hàng năm, mỗi ngày một giờ đồng hồ, chọn giờ đẹp nhất từ 9 giờ đến 10 giờ sáng, để suy nghĩ, để chỉnh sửa bản Di chúc. Thư ký riêng của Người là ông Vũ Kỳ là người duy nhất biết tường tận sự kiện này từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.

Bản Di chúc được công bố một phần sau khi Người qua đời.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước bên lĩnh cữu Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969  (www.google.com.vn)

 

Hội nghị bất thường của Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa 3) chiều 3/9/1969 đã giao Bộ Chính trị trách nhiệm công bố di chúc của Người. Bản công bố chính thức chủ yếu dựa vào bản 1965, trong đó đoạn mở đầu lấy nguyên văn bản 1969. Phần giữa, từ đoạn nói về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào cộng sản thế giới giữ nguyên văn bản 1965.

Sau 20 năm ngày mất và cũng để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, Bộ Chính trịBan chấp hành trung ương Đảng khóa VI cho thông báo về ngày mất chính xác và toàn văn di chúc của Người. Thông tin được công bố trong thông báo của Bộ Chính trị số 151 ngày 19/8/1989. (https://tuyengiao.vn/, ngày 2/9/2019)

Qua đời

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969 (tức ngày 21 tháng 7 âm lịch) tại thủ đô Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Do hoàn cảnh thời chiến, để tránh trùng với ngày Quốc khánh, ngày mất của Người ban đầu được Ban Lãnh đạo Đảng công bố là ngày 3 tháng 9, đến năm 1989 mới công bố lại là ngày 2 tháng 9.

Hà Nội đã nhận được hơn 22.000 bức điện chia buồn từ 121 nước trên khắp thế giới. Nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa đã tự tổ chức truy điệu và đưa ra những lời ca ngợi Người. Một tuyên bố chính thức từ Moskva đã gọi Hồ Chí Minh là một "Người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, nhà lãnh đạo xuất chúng của Cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, và một người bạn lớn của Liên bang Xô Viết". Từ các nước Thế giới thứ ba, người ta ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vai trò của người bảo vệ những con người bị áp bức. Một bài báo xuất bản ở Ấn Độ miêu tả Người là sự kết tinh của "Nhân dân và hiện thân của khát vọng đấu tranh cho tự do và cho sự đấu tranh bền bỉ của nhân dân".

Quang cảnh lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quảng trường Ba Đình lịch sử năm 1969 (http://kenh14.vn)

Những bài báo khác đề cao phong cách giản dị và đạo đức cao của Người. Một bài xã luận trên một tờ báo của Uruguay viết:

“ Ông có một trái tim bao la như vũ trụ và tình yêu trẻ thơ vô bờ bến. Ông là hình mẫu của sự giản dị trong mọi mặt”.

Phản ứng từ các nước phương Tây dè dặt hơn. Nhà Trắng và các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ từ chối bình luận. Báo chí phương Tây đặt sự chú ý cao đối với cái chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các tờ báo ủng hộ phong trào phản chiến có xu hướng miêu tả Người như là một đối thủ xứng đáng và là người bảo vệ cho những con người bị áp bức. Ngay cả những tờ báo đã từng phản đối mạnh mẽ chính quyền Hà Nội cũng ghi nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã cống hiến cả cuộc đời cho công cuộc kiếm tìm độc lập và thống nhất đất nước Việt Nam của Người, đồng thời là tiếng nói nổi bật trong việc bảo vệ những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Tại Vương quốc Anh, hay tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, vào ngày 12 tháng 9 năm 1969 Pet-ghi Đap-phơ - nhà báo tờ "Báo Diễn đàn", đã ghi nên một bài báo có độ dài không ít, trong đó Người được xem như: “Hồ Chí Minh, một người vừa là G. Oasinhtơn, vừa là A. Linhcôn của đất nước mình”.

Tang lễ được tổ chức vào ngày 9 tháng 9 tại quảng trường Ba Đình với hơn 100.000 người đến dự, trong đó có các đoàn đại biểu từ các nước xã hội chủ nghĩa.

Các thiếu nhi khóc trong lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969  (https://www.google.com/)

Hàng triệu người trên khắp đất nước Việt Nam đã khóc. Điếu văn truy điệu Người do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc, có đoạn viết:

Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn ! Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại. Và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta...” Lê Duẩn (https://vietnamnet.vn/, ngày 2/9/2021)

Trong di chúc, Người muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước. Tuy nhiên, theo nguyện vọng của Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh để sau này nhân dân cả nước, nhất là nhân dân miền Nam, khách quốc tế có thể tới viếng Người. Từ đó đến nay, thi hài Người được bảo quản trong lăng tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. (https://vi.wikipedia.org).

Bia tưởng niệm tại khách sạn Carlton, nơi Nguyễn Tất Thành làm việc năm 1913 (https://www.google.com/)

Ngoài Việt Nam, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được tổ chức trọng thể tại các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tại các nước dân tộc chủ nghĩa anh em, tại các nước dân tộc chủ nghĩa tại Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Ý, Ecuađo, Urugoay, Pêru, Cốtxtarica, Thổ Nhĩ Kỳ, Áo, Thụy Điển... Những nơi mà tên tuổi của Người được coi là tượng trưng cho sự đấu tranh kiên quyết, bền bỉ và thắng lợi của một dân tộc nhỏ chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, những nơi mà: “Tên tuổi của đồng chí Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi gắn bó với những hành động cao cả nhất và những ước mơ cao quý nhất của nhân loại nhằm thực hiện một khối cộng đồng anh em thực sự của nhân dân các nước được hưởng quyền bình đẳng và được thoả mãn đầy đủ về những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình...” (Trích điện chia buồn của Đảng Cộng sản Mỹ).

 Nhân dân cách mạng trên thế giới bằng nhiều hình thức, đã tưởng nhớ đến Người mà họ gọi bằng tên trìu mến “Bác Hồ”. Ở nhiều nước, nhiều quảng trường, đường phố, trường học, con tàu, công trình lớn mới xây dựng đã được mang tên mới vô cùng kính yêu: Hồ Chí Minh - Theo http://www.ditichhochiminhphuchutich.gov.vn (https://www.facebook.com 10/9/2010)

Quyết định của Bộ Chính trị vừa phù hợp với truyền thống, phong tục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, một dân tộc từ lâu đời đã có truyền thống thờ phụng ông bà, tổ tiên, xây dựng Lăng mộ để tưởng nhớ những người có công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời cũng đáp ứng với nguyện vọng của mọi người dân Việt Nam được tận mắt trông thấy Người, được thường xuyên đến viếng thăm Người, được thể hiện tấm lòng tôn kính và đời đời biết ơn công lao to lớn của Người đối với dân tộc. Đặc biệt là tình cảm của đồng bào, chiến sĩ miền Nam đang ngày đêm trực tiếp đối mặt với quân thù, chưa một lần được gặp Bác.

Image result for lăng chủ tịch hồ chí minh"Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta"....- Lê Duẩn.

 

Lăng Chủ tich Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội ( www.google.com.vn)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của những giá trị tinh thần cao quý của dân tộc và thời đại. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người, tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là nhà văn hoá lớn của nhân loại. Nghị quyết của UNESCO khẳng định: "Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".

Bh1Với công lao to lớn của Người, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng. Tấm gương hy sinh cả cuộc đời vì dân, vì nước; tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người luôn cổ vũ, động viên các thế hệ người Việt Nam vững bước đi theo con đường mà Người và dân tộc đã lựa chọn. Giữ gìn lâu dài thi hài và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. (http://www.bqllang.gov.vn/).

Hình ảnh của Người trên tạp chí Time số ra ngày 22-11-1954  ( http://bqllang.gov.vn)

Không chỉ nhân dân Việt Nam ta tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà nền văn minh nhân loại và lịch sử thế giới hiện đại sẽ luôn ghi nhớ một bậc đại trí - đại nhân - đại dũng bởi: “Trung tâm cuộc đời của Người, lẽ sống của Người là nền độc lập và sự thống nhất của nước Việt Nam và do đó, Người được triệu triệu nhân dân Việt Nam và thế giới kính mến. Nhiệt tình yêu nước và ý thức sâu sắc về chủ nghĩa quốc tế cách mạng luôn luôn gắn liền với nhau trong quá trình hoạt động của đồng chí Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch thuộc lớp người vô song khó ai có thể sánh kịp, khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người là một tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo” - Báo Gramma ( Cuba) số ra ngày Chủ nhật 14.9.1969 (Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb Thanh Niên 2000, tr 28) (http://quehuongonline.vn)

Tờ New York Times, số ra ngày Chủ nhật 9-5-1954 viết: " Người không những là thần tượng của nhân dân Việt Nam mà còn được Pháp công nhận là người phát ngôn đầu tiên của Việt Nam... Người Việt Nam này từng để lại ấn tượng sâu sắc và đặc biệt có cảm tình đối với các quan chức và nhà báo nước ngoài. Một người Pháp, sau này trở thành Cao ủy Pháp tại Đông Dương, cũng phải thừa nhận ông Hồ là người có tính cách rất mạnh mẽ và đáng tôn kính...Ngày nay, không một tên tuổi nào ở Châu Á lại nổi tiếng như nhà cộng sản và dân tộc chủ nghĩa lão thành Hồ Chí Minh. Người chính là biểu tượng, là nhân vật truyền thuyết hơn là một con người bằng da bằng thịt".

Bh3Tạp chí Time, số ra ngày 22-11-1954 đã đăng trên trang bìa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và dành năm trang nói về thân thế và sự nghiệp cùng với việc Việt Nam chiến thắng Pháp trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Tạp chí này nhấn mạnh: "Với thắng lợi (Điện Biên Phủ), uy tín của Ông Hồ Chí Minh đã vươn tới đỉnh cao mới tại Châu Á. Các nhà dân tộc chủ nghĩa tại nhiều nước, mặc dù họ chống cộng, cũng không thể không lấy làm tự hào trước chiến công của một quân đội một nước Châu Á đánh bại những kẻ từng là "ông chủ" của họ từ Châu Âu tới... Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, lực lượng Việt Minh đã có được một quân đội chiến đấu trong rừng có hiệu quả nhất Đông Nam Á, có vị tướng tài ba nhất Đông Nam Á là Võ Nguyên Giáp, có một tổ chức chính trị vững chắc nhất do Hồ Chí Minh đứng đầu và có trình độ lãnh đạo lão luyện".

Hình ảnh của Người trên tạp chí Time số ra ngày 12-9-1969  (http://bqllang.gov.vn)

Tờ New York Times, số ra ngày Chủ nhật 28-3-1965, trong bài Bác Hồ bất chấp chú Sam, đã viết: "Khuất trong rặng hoa và cây xanh bao quanh tòa nhà của cựu Toàn quyền Pháp ở Hà Nội là một ngôi nhà nhỏ với những đồ đạc giản dị. Trước đây là căn phòng của người làm vuờn, nay là nhà của một cụ già mảnh khảnh có nụ cười luôn ấm lòng người khác. Cụ chính là người đã phá tan hệ thống thuộc địa Pháp ở Đông Dương và giờ đây lại bất chấp sức mạnh của Mỹ trong cuộc chiến tranh mới, có thể là tiền đề cho một sự sụp đổ hoặc một chiến thắng vĩ đại nhất". 

Tờ Washington Post, có số phát hành và ảnh hưởng lớn nhất ở Mỹ, sau Lễ tang Bác tháng 9 năm 1969, đã viết: "Không một nhà hoạt động lớn nào trong thập kỉ cách mạng dân tộc đầy sôi động này lại sống lâu, có ảnh hưởng lớn trên thế giới, thực hiện nhiều sách lược đường lối với nhiều thách thức to lớn như vị lãnh tụ cộng sản Việt Nam - Ông Hồ Chí Minh. Con người mảnh khảnh, nhưng đôi mắt tinh anh sáng rực, đã trải qua nhiều nghề nghiệp, từ khi còn là bồi bàn trên tàu thủy, rồi làm nghề rửa bát, cấp dưỡng, giáo viên, thợ rửa ảnh và trở thành nhà tổ chức không mệt mỏi, vươn lên trên những nhân vật đương thời".

Tờ New York Times, số ra ngày 4-9-1969: "Trong số các chính khách của thế kỉ 20, ông Hồ Chí Minh là nhân vật nổi bật về tính bền bỉ, dẻo dai và lòng kiên nhẫn trong việc tìm kiếm mục tiêu độc lập cho Việt Nam và thành công trong việc dung hòa chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa dân tộc".. (http://bqllang.gov.vn, 22/1/2013)

Cuộc sống cá nhân

Trong buổi tiếp William C. Baggs, biên tập viên của Tin tức Miami tại Hà Nội đầu năm 1967, Người ăn mặc đúng mực, lịch thiệp, nhạy cảm và không tạo áp lực lên người khác. Kiểu ăn mặc thường là áo pijama trắng cao cổ, đi dép cao su. Ông Harry Ashmore, người của Trung tâm nghiên cứu của các tổ chức dân chủ và cựu biên tập viên của Công báo Arkansas nhớ lại:

Ông Hồ là một người có phong thái tao nhã, rất tinh tế với một cách xử sự nhẹ nhàng và không có tâm địa cá nhân - Harry Ashmore.(https://vi.wikipedia.org)

Trên Tờ Time (Mỹ), nhà báo, tác giả cuốn “Việt Nam - Một lịch sử” Stanley Karnow đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn, Hồ Chí Minh đã tạo ra một hình ảnh Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng Người là nhà cách mạng dày dạn kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất: Mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình. Không có sự dao động trong niềm tin của Hồ Chí Minh, không thể lay chuyển ý chí của Người, ngay cả khi cuộc chiến tranh của Mỹ leo thang, tàn phá đất nước, người vẫn giữ niềm tin đối với nền độc lập của Việt Nam. Dưới con mắt phương Tây, điều dường như không thể tưởng tượng được là Hồ Chí Minh có thể cống hiến sự hy sinh to lớn như ông đã làm”. Và Time đã bình chọn Bác Hồ là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ XX. (http://bqllang.gov.vn, 22/1/2013).

Người là tấm gương sáng về người lãnh đạo, người đứng đầu ở vị trí cao nhất nhưng luôn trung thành, tận tụy vì lợi ích của Tổ quốc  và nhân dân, không mưu cầu lợi ích riêng cho cá nhân và gia đình. Người tâm sự khi phải giữ trọng trách Chủ tịch nước: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thi tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Ở cương vị Chủ tịch nước, Người khước từ ở ngôi nhà sang trọng thuộc thời toàn quyền Đông Dương, mà chỉ ở ngôi nhà nhỏ của người thợ điện phục vụ cho Toàn quyền thời đó để  làm việc.  Với phong cách sống giản dị, tiết kiệm, hòa mình với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá,  gần gũi với quần chúng nhân dân, trong ngôi nhà sàn Bác đã sống và làm việc những năm cuối đời, chỉ có những vật dụng rất đơn sơ: một chiếc bàn, giá sách, tủ quần áo, giường gỗ cá nhân, tấm chăn đơn, chiếc chiếu cói, cây quạt cọ, chai nước lọc... biểu trưng sinh động cho phong cách sống của một con người vĩ đại: thanh tao, khiêm tốn, yêu lao động, không ham danh lợi, đạt đến độ mẫu mực, cảm hoá được tình cảm của con người Việt Nam.

Những ngày đầu sau Cách mạng thành công, đất nước phải đối phó với muôn vàn khó khăn, thử thách:giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Đối với giặc đói, Người kêu gọi toàn dân thực hành tiết kiệm, phát động phong trào “hũ gạo khách chiến” để nuôi quân,  bằng những lời lẽ thiết tha, xúc động, Người viết thư động viên đồng bào cả nước nêu cao tinh thần "xẻ cơm nhường áo" để cứu dân nghèo: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Ðem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo"...

Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng mong muốn niềm vui riêng của mình hoà trong niềm vui chung của toàn dân tộc.  Năm 1963, khi biết tin Quốc hội định trao tặng Người Huân chương Sao vàng cao quý, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biêu rất chân thành: "Tôi vừa nhận được một tin tức làm cho tôi rất cảm động và sung sướng. Đó là tin Quốc hội có ý định tặng cho tôi Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của nước ta. Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội. Nhưng tôi xin Quốc hội cho phép tôi chưa nhận Huân chương ấy. Vì sao? Vì Huân chương là để tặng thưởng người có công huân; nhưng tôi tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội". Và Người mong muốn: "Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng".

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ duy nhất trên thế giới có nhiều đóng góp vĩ đại cho Tổ quốc mình, nhưng khi đi vào cõi vĩnh hằng trên ngực áo không hề có bất kỳ một tấm huân, huy chương nào….( http://tuyengiaothaibinh.vn)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người giản dị, yêu thiên nhiên, luôn gần gũi với thiên nhiên. Trong bất cứ thời điểm nào, đang làm gì, ở đâu thì cuộc sống đời thường của Người cũng luôn thanh đạm, nề nếp, có chừng mực, điều độ, ngăn nắp, gọn gàng. Là một vị Chủ tịch nước đang sống kham khổ nơi chiến khu trong những năm kháng chiến, hay là một vị nguyên thủ quốc gia đang sống và làm việc tại khu Phủ Chủ tịch ở Thủ đô Hà Nội, thì cũng vẫn là một Hồ Chí Minh yêu lao động, hết sức giản dị và tiết kiệm. Không chỉ yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, sống hoà quyện với thiên nhiên một cách bình dị, thanh tao, với nếp nhà sàn nhỏ, có vườn cây, ao cá, những khóm hoa của Người luôn lộng gió thời đại, song vẫn đậm đà bản sắc, cốt cách tâm hồn Việt.

Ngôi nhà của Hồ Chí Minh tại thủ đô Hà Nội (https://www.google.com/)

Bữa ăn hàng ngày của Bác thường có canh cua, tương cà, dưa muối, cá bống kho với lá gừng… Đó là những món ăn quen thuộc, dân giã, mang hương vị của mỗi làng quê Việt Nam mà Người ưa thích. Quý trọng công sức, tài sản và cả thời gian của nhân dân, trong mỗi bữa ăn, Người không bao giờ để thừa, tránh lãng phí. Nếu biết không thể ăn hết, Người thường san ra trước khi ăn để phần người khác dùng hoặc để lại cho bữa sau. Những lúc làm việc ở nhà thường mặc bộ quần áo bà ba lụa màu nâu, đi đôi guốc gỗ. Còn khi tiếp khách, đi công tác Người thường mặc bộ quần áo ka ki bốn túi và đi đôi dép cao su. Người luôn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả đời mình cho nhân dân, không hề quan tâm tới bản thân.

Trong sinh hoạt hàng ngày, Người luôn đặt cho mình một kỷ luật hết sức chặt chẽ, giữ nếp trật tự, ngăn nắp gọn gàng, thường xuyên chú ý đến việc rèn luyện sức khoẻ, đồng thời sắp xếp thời gian thực hiện mọi công việc thật hợp lý và hiệu quả. Người luôn giữ thói quen đọc báo chí, bản tin trước giờ làm việc hàng ngày, đánh dấu các bài cần chú ý để tiện việc theo dõi, trao đổi ý kiến và sử dụng khi cần thiết.(http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn, 15/9/2011)

Tuy Người là chủ tịch của một nước nhưng đời sống sinh hoạt hằng ngày cũng chẳng khác mấy so với người thường. Bữa ăn đạm bạc của Người đã được nhận xét là rất giản dị và đơn sơ và theo thủ tướng Phạm Văn Đồng, người đã nhiều lần ăn chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhận xét Người ăn vừa đủ không bỏ món thừa và ăn không sót một hột cơm vì Người tôn trọng thành quả lao động của nông dân.

Tượng bán thân Hồ Chí Minh trên đại lộ Simon Bolivar, Caracas, Venezuela  (https://www.google.com/)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất chăm tập thể dục và thích chăm sóc cây cối, là người có cuộc sống khá điều độ. Theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói được 29 thứ tiếng, chưa kể tiếng đồng bào các tộc người ở Việt Nam, trong đó Người nói thành thạo các thứ tiếng gồm: Nga, Pháp, Trung Quốc, Anh, Ý. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh được miêu tả: "Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha". Bên cạnh đó, theo lịch sử ghi chép về các chuyến công du nước ngoài hoặc tiếp đón ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có khả năng nói Tiếng Xiêm (Thái Lan bây giờ), tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập.

Trong các thư từ, bản thân Bác nhiều lần khẳng định rõ Bác là người không có gia đình riêng và không có con cái. Chẳng hạn như trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng khi nghe tin con trai ông này hi sinh:

“ Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. ” (https://vi.wikipedia.org)

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Là một nhà lãnh đạo nổi tiếng ở Đông Nam Á, Người đã kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Tư tưởng chủ đạo trong các cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh là kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản. Người đi theo trào lưu chủ nghĩa cộng sản do Karl MarxFriedrich Engels đề xuất vốn đang nổi lên vào thời của Người. Người tiếp nhận tư tưởng của Lenin về vấn đề thuộc địa, và xem đó làm kim chỉ nam cho các hoạt động của mình sau này. Người viết trên tạp chí Các vấn đề phương Đông (Liên Xô), dẫn lại trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 4 năm 1960: "Chủ nghĩa Lenin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản."

Người đề nghị tất cả mọi người đều tuân theo 6 điều: “Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ. Có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình. Sẵn sàng học hỏi nhân dân. Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính để nhân dân noi theo”. (https://tuyengiao.vn/, ngày 13/10/2020)

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng:

Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”  (https://hochiminh.nhandan.vn/)

Di sản

Tại Việt Nam, Người được xem là nhân vật chính trong công cuộc giải phóng dân tộc. Đối với nhiều người, Người là một nhà yêu nước đã vận dụng chủ nghĩa Marx-Lenin vào công cuộc giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thực dânđế quốc. Tính giản dị và kiên cường của Người được nhiều người kính mến. Giáo sư David Thomas cho rằng "Chính viễn kiến của ông, sự hy sinh, tính bền bỉ và sự lãnh đạo của ông trong một nước nghèo nàn, lạc hậu đã thúc đẩy người Việt Nam đứng dậy, đánh thắng thực dân Pháp và quân đội Mỹ." Cũng chính giáo sư này xem Người là một nhân vật trong thời kỳ Phục Hưng, là người nói giỏi không ít ngoại ngữ, lại còn viết được thơ bằng chữ Hán. Trong đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham khảo những danh nhân về văn học và triết học như Victor Hugo, Charles Dickens, Lev Nikolayevich Tolstoy hay Fyodor Mikhailovich Dostoevsky thông qua các tài liệu bằng ngôn ngữ bản xứ của họ.

Tượng Bác Hồ với thiếu nhi của Diệp Minh Châu tại TP. Hồ Chí Minh (https://www.google.com/)

Giáo sư David Thomas cho rằng "Họ (Chính phủ Việt Nam) đã thánh hóa hình ảnh của Người, biến Người thành một vị thánh và điều đó khiến việc có được bức tranh thực và đầy đủ về cuộc đời Người trở thành bất khả."(http://www.bbc.com)

Nhiều người dân Việt Nam yêu quý Người, gọi Người bằng cái tên thân mật Bác Hồ. Trong văn thơ, Người còn được gọi là "Người Cha già dân tộc". Một số dân tộc thiểu số Việt Nam, như Vân Kiều, Pa Cô, Kor, đã lấy họ Hồ vì yêu quý Người. Người được thờ tại nhiều gia đình Việt Nam, cũng như tại nhiều gia đình Việt kiều ở Thái Lan, Lào,... và một số gia đình ở các nước khác như Na Uy..

Với chiến thắng quyết định ở trận Điện Biên Phủ, những nước thuộc địa trước đây của Pháp, chủ yếu ở Bắc PhiTây Phi cũng theo gương Việt Nam nổi dậy. Chủ tịch Hồ Chí Minh được người dân ở những nước này rất kính trọng, và được coi như tấm gương cho cuộc giải phóng tại đất nước họ. Tên Người đã được đặt cho các đại lộ tại Luanda (Angola), tại Ouagadougou (Burkina Faso) và tại Maputo (Mozambique). Tại Berkeley, California, nơi có nhiều cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, nhiều nhà hoạt động cộng đồng đã từng gọi Công viên Frances Willard là Công viên Hồ Chí Minh một cách không chính thức. Nhiều nước trên thế giới đã phát hành tem bưu chính kỷ niệm Người: Liên bang Xô viết, Ấn Độ, Lào, Madagascar, Algérie, Cuba, Đông Đức, Triều Tiên, Quần đảo Marshall, Dominica,...

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị xã Sa Đéc (https://www.google.com/)

Tượng đài Người được đặt tại nhiều thành phố trên thế giới, trong đó có La Havana (Cuba), Moskva (Nga), Zalaegerszeg (Hungary), Montreuil (Pháp), Calcutta (Ấn Độ), Antananarivo (Madagascar), và Caracas (Venezuela) (https://vi.wikipedia.org).

Trong bài “ Di sản Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho chúng ta” nhân kỷ niệm 120 năm  ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh báo http://dangcongsan.vn đã nêu: “Là sự kết tinh của truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân của thời đại chúng ta bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử nhân loại” và đưa ra ba nhóm vấn đề về tư tưởng của Người để lại:

Một là, di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Hai là, di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc

Ba là, các vấn đề văn hóa, đạo đức, nhân cách trong di sản Hồ Chí Minh”.

Tưởng niệm

Trong nước:

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, phủ toàn quyền Đông Dương bên cạnh Quảng trường Ba Đình, nơi Người đã đọc Tuyên ngôn độc lập được chọn là nơi làm việc của Đảng, Nhà nước và đồng thời là nơi ở, nơi làm việc của Chủ tịch nước. Từ đó trở đi, nơi đây trở thành Khu di tích Phủ Chủ tịch. Khu này là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người - từ 19 tháng 12 năm 1954 đến 2 tháng 9 năm 1969 (đây cũng là khoảng thời gian Người có những đóng góp quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam). Khu di tích Phủ Chủ tịch hàng năm đón nhiều khách tham quan trong và ngoài nước. Một công trình khác là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tuần có hơn 15.000 người đến đây viếng thăm, trong đó có nhiều nguyên thủ các nước.

Mọi tờ tiền giấy tại Việt Nam hiện nay đều in hình chủ tịch Hồ Chí Minh (https://vi.wikipedia.org)

Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội là khu tưởng niệm về Hồ Chí Minh lớn nhất Việt Nam. Tại các tỉnh thành phố khác cũng có các bảo tàng, nhà lưu niệm về Người, đặt tại những địa điểm Người đã từng sống và làm việc. Nổi bật nhất là bến Nhà Rồng tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi Người đã xuống tàu "Đô đốc Latouche Tréville" ra đi tìm đường cứu nước, và Nhà tưởng niệm xây dựng năm 1970 ở quê nội của Người.  Tại các quốc gia khác cũng có các nhà lưu niệm về Hồ Chí Minh chẳng hạn như ở Pháp. Ngoài ra còn có rất nhiều đài kỷ niệm và bia tưởng niệm. Tại Việt Nam, Hồ Chí Minh còn được thờ trong một số đền, chùa và gia đình. Ngoài phạm vi Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh được tưởng niệm tại nhiều công trình trên thế giới.

hochiminh ngaNhằm tôn vinh Người, năm 1976, kỳ họp Quốc hội đầu tiên sau ngày Việt Nam được thống nhất đã thống nhất quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh. Chiến dịch quân sự lịch sử xảy ra trên thành phố này, kết thúc Chiến tranh Việt Nam và mở đầu thời kỳ thống nhất của Việt Nam cũng mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Bức phù điêu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nga  (http://www.hanoitourist.com.vn)

Tên Người còn được đặt cho các giải thưởng và huân chương cao quý nhất của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Huân chương Hồ Chí Minh là huân chương bậc cao thứ nhì của Nhà nước; Giải thưởng Hồ Chí Minh là giải thưởng cao quý nhất dành cho những cống hiến trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. "Cháu ngoan Bác Hồ" là danh hiệu dành cho các thiếu nhi có thành tích cao trong học tập và hoạt động xã hội. Tên Người còn được đặt cho hai tổ chức chính của thanh thiếu niên Việt Nam: Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Các tên Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Tất Thành còn được đặt cho nhiều công trình công cộng, như đường quốc lộ, quảng trường, đường phố, trường học.

Hình ảnh và tượng của Người hiện diện tại nhiều nơi công cộng, cũng như trên tất cả các đồng tiền giấy đang lưu hành tại Việt Nam. Cùng với quốc kỳ, tượng bán thân hoặc hình của Người được đặt tại nơi trang trọng nhất của mỗi cơ quan nhà nước và trường học tại Việt Nam.

Quốc tế

Tại các quốc gia khác cũng có các nhà lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, chẳng hạn như ở Pháp. Ngoài ra còn có rất nhiều đài kỷ niệm và bia tưởng niệm và tại nhiều công trình trên thế giới. 

Danh hiệu

 Người được xem là một danh nhân không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của thế giới. Trong Khóa họp Đại hội đồng lần thứ 24 tại Paris (20/10 - 20/11/1987), UNESCO đã tôn vinh Người là "Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa" (nguyên văn: Hero of national liberation and Great man of culture) và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người do "các đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật", và vì Người "đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc trên thế giới".

Phát biểu tại hội thảo quốc tế ở Hà Nội tháng 3/1990, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương Modagat Ahmet, khẳng định: "Hội nghị UNESCO phiên thứ 24 đã quyết định kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông vào năm 1990. Đây là một cử chỉ tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập. UNESCO rất vui sướng được tham gia vào sự kiện đáng ghi nhớ này. Điều đó biểu hiện sự cam kết sâu sắc của tổ chức này trong việc duy trì các giá trị và công lao của các nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng". Năm 2010, văn bản gốc bằng tiếng Pháp của Nghị quyết đã được Tổng Giám đốc UNESCO trao tặng cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để trưng bày.

Tuần báo TIME của Hoa Kỳ bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20. Tờ Time 2000 đã nhận định Hồ Chí Minh là người đã góp phần "làm thay đổi diện mạo hành tinh chúng ta trong thế kỷ XX". Ngày 15 tháng 10 năm 2010, báo Time cũng đã bầu chọn Hồ Chí Minh là một trong 10 tù nhân chính trị nổi bật chiến đấu cho tự do nổi tiếng nhất mọi thời đại cùng với Aung San Suu Kyi, Nelson Mandela, Martin Luther King Jr., Mohandas Gandhi... (https://vi.wikipedia.org)

Các Danh hiệu khác do thế giới đặt cho Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Người vô song khó ai có thể sánh kịp, khó ai có thể vượt hơn”: danh hiệu trong Xã luận báo Granma (Cuba) đăng ngày 14-9-1969.

“Người cách mạng vĩ đại nhất của thời đại ngày nay”: danh hiệu do báo Sự kiện (Ấn Độ) dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết số tháng 9-1969

“Chiến sỹ kiên cường đấu tranh cho công lý”: danh hiệu do L.N.Daicôp (Liên Xô) dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài phát biểu được báo Nhân dân đăng số ra ngày 19-5-1996

“Anh hùng của thời đại”, “Anh hùng của cuộc đấu tranh cho tự do và tiến bộ của toàn thể loài người”,  “Người sáng tạo ra lịch sử”: danh hiệu do Báo chiến sỹ tự do của Quân đội Ba Lan dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết ra ngày 10-9-1969.

“Tấm gương sáng cho tất cả những người cách mạng ở Việt Nam và trên toàn thế giới”: danh hiệu do Ianôt Kađa (Hungari) dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Điện chia buồn” đăng trên tạp chí Học tập số tháng 9-1969.

“Một trong những nhân vật nổi tiếng nhất… làm kinh ngạc nhất của thế kỷ chúng ta”: danh hiệu do báo Lơ Fhigarô (Pháp) dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài viết được đăng lại trên tạp chí Học tập số tháng 01-1970.

“Người tiêu biểu cho hình thức cao cả của sự đoàn kết mà chính nền văn minh cũng cần phải có”: danh hiệu do báo Đoàn kết, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Italia dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xã luận ra ngày 5-9-1969.

“Vị thánh”: danh hiệu do N.X. Khơrusôp (Liên Xô) dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Hồi ký”, Rôbec Laphông, Paris, 1971.

“Nhân vật thần thoại”: danh hiệu do báo Bình Minh (Pakixtan) số ra ngày 5-9-1969 dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Vĩ nhân của thời đại”: danh hiệu do báo Tiến lên (Xry Lanca) số ra ngày 9-9-1969 dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.(http://tuyengiaoangiang.vn)

Ảnh hưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam ngày nay

Tại Việt Nam, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh phổ biến khắp nơi như là một "tấm gương sáng ngời về đạo đức", một "nhân cách cao thượng" và được coi là một "thần tượng". Những tác phẩm nói về Hồ Chí Minh thường ca ngợi những đức tính tốt đẹp của Người. Các cấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi năm, chính quyền và Đảng bộ đều tổ chức các cuộc thi Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho nội bộ lẫn quần chúng.

Ngoài những phát biểu của chính Hồ Chí Minh và hình vẽ, hình chụp của Người, những câu nói và khẩu hiệu tuyên truyền có thể đọc thấy ở mọi nơi đó là:

  • Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại
  • Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta

Các câu nói nổi tiếng

  • “Hỡi đồng bào cả nước. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc!"-Trích tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”- Trích thư trả lời Tổng thống Mỹ Johnson 1967
  • "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người",
  • “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.- Tuyên ngôn độc lập 1945
  • “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” - Lời kêu gọi trước thời cơ Cách mạng tháng 8-1945
  • “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?”- Câu nói trước đồng bào khi đọc tuyên ngôn độc lập 2/9/1945
  • “Quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh”. (Thư của Hồ Chí Minh gửi những người lính của Việt Minh ở Hà Nội những ngày đầu toàn quốc kháng chiến 1946)
  • “Nay, tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu (tôi) cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”. - Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946
  • “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.- Bác Hồ đến thăm bộ đội ở đến Hùng trước khi về tiếp quản thủ đô, 1954 -
  • “Hình ảnh miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”.
  • "Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì".
  • Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi Nước nhà đã cho mình những gì, mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho Nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?- Trích trong bài nói chuyện tại buổi Lễ khai mạc trường Đại học Nhân dân Việt Nam vào ngày 19 tháng 1 năm 1955. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, trang 454-455.
  • “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” - Trích phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lễ kỉ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, năm 1964.
  • Hỡi đồng bào cả nước! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”- Trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946
  • Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”- Trích Báo Cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II, tháng 2 năm 1951.
  • Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” - Trích thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945.
  • Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” -Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 216, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2000.
  • Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chǎn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”- Hồ Chí Minh - Trả lời các nhà báo nước ngoài  (Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946).
  • Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; Học tập tốt, lao động tốt; Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt; Giữ gìn vệ sinh thật tốt; Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”- Lời dạy các cháu thiếu niên, nhi đồng 1961.
  • “Bây giờ, Đảng cầm quyền, có nhà cao cửa rộng, có ô tô sang trọng, dễ lên mặt “quan” lắm. Xe của cơ quan là để đi việc công, không phải để các chú đi chơi, mang theo cả quan ông, quan bà, quan cô, quan cậu, thế là hỏng đấy", "Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông vua con ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh họe. Đối với cấp trên thì coi thường, đối với cấp dưới thì độc quyền, lấn áp, đối với quần chúng thì ra vẻ quan cách, làm cho quần chúng sợ hãi. Cái đầu óc “ông tướng, bà tướng” ấy đã gây ra bao ác cảm, bao chia rẽ, làm cho cấp trên xa cấp dưới, đoàn thể xa nhân dân." - Để Đảng ta xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân (Tạp chí Tuyên giáo số 5 -http://tuyengiao.vn/)
  • "Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chí ắt làm nên", - Bác phát biểu trong lần đến thăm liên phân đội thanh niên xung phong 312 ở Nà Tu thuộc tỉnh Bắc Cạn đêm ngày 30 tháng 3 năm 1951
  •  “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”
  • “Kính Chúa phải gắn liền với yêu n­ước, phụng sự Thiên chúa và phụng sự Tổ quốc, nư­ớc có vinh thì đạo mới sáng, nư­ớc có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do”.
  • "Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi. Nhờ lực lượng ấy mà tổ tiên ta đã đánh thắng quân Nguyên, quân Minh, đã giữ vững quyền tự do, tự chủ. Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta làm cách mạng thành công giành được độc lập. Nhờ lực lượng ấy mà sức kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng đánh tan quân giặc cướp nước." (https://vi.wikipedia.org)

Hồ Chí Minh trong văn học nghệ thuật

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ, nhà thơ sáng tác nhiều tác phẩm.

Âm nhạc

Người về đem tới ngày vui Mùa thu nắng toả Ba Đình Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời. Người về đem tới xuân đời từ đất nước cằn, Từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên.

Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh. Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn. Hồ Chí Minh muôn năm chỉ lối cho nhân dân. Đến ngày chiến thắng vẻ vang.

  • Bài hát "Người là niềm tin tất thắng" của nhạc sĩ Chu Minh:

Đất nước nghiêng mình đời đời nhớ ơn. Tên người sống mãi với non sông Việt Nam. Lời thề sắt son theo tiếng bác gọi, bốn ngàn năm dồn lại hôm nay, người sống trong muôn triệu trái tim... Thế giới nghiêng mình, loài người tiếc thương. Đây người chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Người là ước mơ của các dân tộc. Tiếng người vang vọng đến mai sau. Nguyện ước theo con đường Bác đi...

...Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ trung thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương..."

...Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm tin...

...From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh...

...I'll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho!

Tenía la figura pequeña y la barbita blanca el camarada Ho Chi Minh querido tío Ho Chi Minh inolvidable Ho Chi Minh indoblegable Ho Chi Minh inolvidable Ho Chi Minh indoblegable Ho Chi Minh...

  • Nhiều sáng tác khác: "Bác đang cùng chúng cháu hành quân" (Huy Thục), "Thanh niên làm theo lời Bác" (Hoàng Hà), "Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ" (Triều Dâng), "Tấm áo Bác Hồ", "Gửi tới Bác Hồ" (Kapapúi - Tường Vi), "Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác" (An Thuyên), "Vầng trăng Ba Đình", "Miền Trung nhớ Bác", "Người về thăm quê" (Thuận Yến), "Bên lăng Bác Hồ", "Bên tượng đài Bác Hồ" (Lê Giang), "Đêm Trường Sơn nhớ Bác" (Trần Trung), "Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên", "Cô gái Pakô con cháu Bác Hồ" (Huy Thục), "Đôi dép Bác Hồ" (Văn An - thơ Tạ Hữu Yên), "Bài ca dâng Bác" (Trọng Loan), "Như có Bác trong ngày đại thắng" (Phạm Tuyên), "Lời Bác dặn trước lúc đi xa" (Trần Hoàn), "Tình Bác sáng đời ta" (Lưu Hữu Phước), "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người" (Trần Kiết Tường)...

Thơ, văn, tuyển tập

...Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba-lê

Một viên gạch hồng Bác chống lại cả một mùa băng giá

Và sương mù thành Luân Đôn, người có nhớ

Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya...

...Nhớ ông cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường...

Bức huyết họa về Bác Hồ của Diệp Minh Châu (http://www.vanchuongviet.org)

  • Bài thơ "Bác ơi" của Tố Hữu, sáng tác ngày 6 tháng 9 năm 1969 ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, có đoạn:

Bác để tình thương cho chúng con

Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

Mong manh áo vải hồn muôn trượng

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên:

Giữa một vầng trǎng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim!

  • Bài thơ "Một con người chủ nghĩa Mác sinh ra" của Hải Như:

Bác đã cho ta, Bác đã cho đời

Lẽ sống của ngày mai trên Trái Đất

Lẽ sống đẹp, không coi mình cao nhất

Mong kiếp người, ai cũng cất đầu cao

Vị thánh sống của nghìn thánh sống

Và ân nhân của cả muôn đời

Hồ Chí Minh! - Chưa dễ thấy người

Chúng tôi đây bọn mù mắt sáng!

Tác phẩm Búp sen xanh của Sơn Tùng kể về thời tuổi trẻ của Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh toàn tập, ấn bản I: Nhà xuất bản Sự thật (1980-1989), ấn bản II: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1995-1996), bản số hóa trên CD-ROM: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001-đến nay)

Bác Hồ về nước'' - Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng.  (http://vnca.cand.com.vn)

Hội họa

Bác Hồ cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều họa sỹ. Đã có ít nhất bốn bức vẽ bằng máu về Hồ Chí Minh (huyết họa)

Điện ảnh

  • Hình tượng Hồ Chí Minh trong phim truyện video "Hà nội - Mùa đông 1946" do NSƯT Tiến Hợi thể hiện.
  • Hình tượng Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) trong phim truyện nhựa "Hẹn gặp lại Sài Gòn" do NSƯT Tiến Hợi thể hiện.
  • Hình tượng Tống Văn Sơ trong phim truyện Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông do NSƯT Trần Lực thể hiện.

Sân khấu

  • Hình tượng Hồ Chí Minh trong vở kịch "Đêm trắng" NSƯT Tiến Hợi thể hiện.
  • Hình tượng Hồ Chí Minh trong vở chèo "Những vần thơ thép" do NSƯT Mạnh Kiên thể hiện.
  • Hình tượng Hồ Chí Minh trong nhiều vở kịch nói do nghệ sĩ Văn Tân thể hiện từ năm 1974 - nay.( https://vi.wikipedia.org)

Đánh giá

Trong một hội thảo "Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay" - một hội thảo mang tầm cỡ quốc tế, Ahn Kyong Hwan - một giáo sư của Trường Đại học Chosun (Đại Hàn Dân quốc) nói: "Hồ Chí Minh có thể khác về mặt tư tưởng hay tôn giáo so với các vĩ nhân khác trên thế giới nhưng nhân cách của Người thì đáng để mọi người trên thế giới tôn kính…. Những nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới phải noi gương tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, yêu đồng bào vĩ đại của Người".

Nhà báo Úc Wilfred Burchett, người từng có nhiều cuộc phỏng vấn Hồ Chí Minh, cho biết: "Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp gỡ tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến tôi có ấn tượng vô cùng sâu sắc".

Thượng tọa Thích Huệ Đăng, một nhà tu hành rất nổi tiếng ở Việt Nam mà nhiều người gọi là một vị Bồ Tát tái sinh, có những tham luận của ông về tư tưởng Phật giáo của Hồ Chí Minh, Trần Nhân Tông và của Phật Thích Ca Mâu Ni. Thượng tọa cho rằng, giữa 3 người này có một nét chung đó là tìm đường cứu dân, cứu nước bằng chân lý Phật pháp. Đó là:

  • Tư tưởng hy sinh cho nhân loại và chúng sinh;
  • Tư tưởng vì con người, lo cho con người;
  • Tư tưởng sống thanh bạch, giản dị, tránh xa hoa lãng phí;
  • Tư tưởng chống chủ nghĩa cá nhân, chống thói hư tật xấu tha hóa về đạo đức;

Báo Nhân dân coi Người như một vị bồ tát, một vị la hán, còn Thượng tọa Thích Huệ Đăng thì gọi Người là đại bồ tát: "Người là một vị Đại Bồ Tát tái sinh, đã nhập thế, từ bỏ mọi vinh hoa phú quý, từ bỏ cuộc sống đang yên bình để dấn thân vào con đường mịt mù chông gai, gian khổ, từ đó tìm ra con đường giành độc lập cho dân tộc. Điều này giống Phật Thích Ca Mâu Ni từ bỏ cung vàng điện ngọc, ngai vàng, vợ đẹp con ngoan, đi tu hành tìm ra chân lý cứu độ chúng sinh."  (https://vi.wikipedia.org)

 Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) về kỉ niệm 100 năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “ Người là vị anh hùng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn (1990)”.

X. Aphônin và E. Côbêlép (Liên Xô) trong quyển “Đồng chí Hồ Chí Minh ”, một tiểu sử chính trị, đã xem Hồ Chí Minh là một trong những nhà cách mạng kiệt xuất “trước hết là người con của dân tộc mình, người anh hùng dân tộc của đất nước mình. Bởi vì ý nghĩa quốc tế của những con người như vậy trong bất cứ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xã hội nào cũng là thành tựu vô giá đối với phong trào cách mạng thế giới. Trong một mức độ đầy đủ, điều này rất đúng với Hồ Chí Minh” 

Giáo sư Nhật Bản Singô Sibata đã chứng minh rằng: “Hồ Chí Minh là nhà lý luận tài giỏi trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tư tưởng …”

Tác giả Nhật Bản đã khẳng định “Những cống hiến của Hồ Chí Minh đã thực sự mở ra một giai đoạn mới trong những lý luận về dân tộc và thuộc địa”. (http://www.bbc.com/vietnamese).

12.3. Nguyễn Thị Minh Khai (1 tháng 1 năm 1910- 28 tháng 8 năm 1941) là nhà cách mạng Việt Nam, một trong những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1930-1940.

Bà tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1910 tại xã Vĩnh Yên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ngày sinh của bà các tài liệu ghi không thống nhất. Theo trang web của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam thì bà sinh ngày 1 tháng 11. Theo báo Đại đoàn kết, thì bà sinh ngày 30 tháng 9.

Thân phụ bà là ông Nguyễn Huy Bình, người làng Mọc (Nhân Chính, Hà Nội), làm công chức hỏa xa ở Vinh, thường gọi là Hàn Bình. Mẹ là Đậu Thị Thư, quê Đức Tùng, Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm nghề buôn bán nhỏ. Trước năm 1940, gia đình bà sống tại 132 phố Maréchal Foch (nay là phố Quang Trung), Vinh. Về sau, gia đình bà về sống ở quê mẹ là xã Đức Tùng, Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

Năm 1919, bà bắt đầu học chữ Quốc ngữ rồi vào trường tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh.

Kết quả hình ảnh cho Nguyễn Thị Minh KhaiNăm 1927, bà tham gia hoạt động trong phong trào công nhân ở Vinh và tham gia thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng, sau đó được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ.

Năm 1930, bà gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, phụ trách tuyên truyền, huấn luyện đảng viên tại Trường Thi, Bến Thủy. Sau đó, bà sang Hương Cảng làm thư ký cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở văn phòng chi nhánh Đông phương bộ của Quốc tế Cộng sản.

Năm 1931, bà bị bắt tại Hương Cảng, bị kết án và giam ở đây. Năm 1934, bà ra tù và được Đông phương bộ Quốc tế Cộng sản cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva cùng với Lê Hồng Phong.

Nguyễn Thị Minh Khai (https://www.google.com.vn /)

Năm 1936, bà được cử về nước truyền đạt chỉ thị của Quốc tế Cộng sản và được cử vào Xứ ủy Nam kỳ, giữ chức Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, một trong những người lãnh đạo cao trào cách mạng 1936-1939Sài Gòn. Thời gian này, bà lấy bí danh là Năm Bắc.

Năm 1940, bà bị bắt ngay sau phiên họp của xứ ủy Nam kỳ về phổ biến chủ trương khởi nghĩa và bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Tuy nhiên, bà vẫn liên lạc với bên ngoài và vẫn tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh.

Sau khi Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, bà bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị xử bắn tại Ngã Ba Giồng, Hóc Môn ngày 28 tháng 8 năm 1941.(https://vi.wikipedia.org)

Nguyễn Thị Minh Khai ngã xuống khi mới 31 tuổi. Trước khi ra pháp trường chị đã nhắn nhủ cùng đồng bào, đồng chí:

 “Vững chí bền gan ai hỡi ai

Kiên tâm giữ dạ mới anh tài

Thời cuộc đẩy đưa người chiến sĩ

Con đường cách mạng vẫn chông gai”(http://baonghean.vn, 27/08/2016)

Vinh danh

Tên của bà được đặt cho nhiều đường phố trên khắp Việt Nam như tại: thành phố Hạ Long (từ đường Vũ Văn Hiếu đến hang Luồn), Đồng Hới (gần sân vận động), Đà Lạt (khu chợ đêm), Nha Trang (ngay cạnh quảng trường 2 tháng 4,từ đường Trần Phú đến đường Trần Nhật Duật ). Tại Hà Nội, tên của bà được đặt cho một con đường dài hơn 4 km từ đường Nguyễn Khoái xuyên qua ngã ba cầu Vĩnh Tuy, vượt cầu Mai Động qua sông Kim Ngưu đến ngã tư Trung Hiền, nối với đường Đại La, ở chỗ giáp ranh chân cầu Vĩnh Tuy có khu đô thị cao cấp Times City được xây dựng trên cơ sở Nhà máy Dệt 8-3 cũ. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tên của bà được đặt cho một con đường thẳng dài 4,0 km từ cầu Thị Nghè đến vòng xoay Ngã sáu Cộng Hòa.

Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Minh Khai ở phường Quang Trung, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. (http://baonghean.vn)

Dọc hai bên đường là nhiều địa điểm nổi tiếng của thành phố: Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Trụ sở Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV), Dinh Độc Lập (Hội trường Thống Nhất), công viên Tao Đàn, bệnh viện Từ Dũ.

Tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cũng đã xây Nhà lưu niệm để tưởng niệm và trưng bày một số hình ảnh về cuộc đời và sự nghiệp của bà.( https://vi.wikipedia.org/)

12.4. Nguyễn Hữu Tiến (1901-1941), tức Trương Xuân Trinh, còn gọi là Thầy giáo Hoài hay Hai Bắc KỳXứ ủy viên Nam Kỳ, là tác giả của mẫu Quốc kỳ Việt Nam.

Ông sinh ngày 5 tháng 3 năm 1901 tại xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Năm 1927, ông tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1931 ông bị bắt và bị đưa ra nhà tù Côn Đảo. Năm 1935, ông cùng một số tù chính trị khác là Tạ UyênTống Văn TrânVũ Công Phụ vượt ngục, trở về đất liền, hoạt động cách mạng tại Nam Bộ, sau đó được phân công phụ trách công tác tuyên truyền, in ấn tài liệu cách mạng.

Nguyễn Hữu Tiến (https://vi.wikipedia.org)

Chính trong thời gian này, ông được Xứ ủy Nam Kỳ trao nhiệm vụ vẽ cờ hiệu để sử dụng trong các cuộc đấu tranh. Ông đã vẽ lá cờ có nền đỏ và ngôi sao vàng năm cánh, thể hiện ý tưởng máu đỏ da vàng, tượng trưng cho dân tộc và sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân bao gồm sỹ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Mẫu cờ đã được Xứ ủy Nam Kỳ nhất trí và đã xuất hiện lần đầu tiên trong khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940.

Tâm huyết của tác giả khi sáng tạo ra lá cờ được khắc họa rõ nét trong bài thơ của ông:

“Việt Nam ta con Hồng cháu Lạc

Dòng máu đỏ, giống da vàng, trải bốn ngàn năm oanh liệt.

Thế mà chịu tám mươi năm rên xiết

Dưới giày đinh đế quốc sài lang!

Hỡi những ai máu đỏ da vàng

Mẫu cờ nguyên thủy (https://vi.wikipedia.org)

Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc

Nền cờ thắm máu đào vì nước

Sao vàng tươi da của giống nòi

Đứng lên mau! Hồn nước gọi ta rồi

Chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đang ngồi vẽ cờ (tác phẩm của cố nhạc sĩ Văn Cao).Hỡi sĩ, nông, công, thương, binh

Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh

Đoàn kết lại sức mình sẽ mạnh

Quyết đánh tan phát xít Nhật - Tây

Hỡi hai lăm triệu con yêu nước Việt Nam này

Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh...”.

Tuy nhiên, ông không kịp nhìn thấy lá cờ của mình tung bay. Tháng 8 năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam.

Chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến đang ngồi vẽ cờ (tác phẩm của cố nhạc sĩ Văn Cao). (http://dantri.com.vn/)

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, thực dân Pháp đàn áp đẫm máu và khủng bố rất tàn bạo. Chúng đưa ông và nhiều yếu nhân của Đảng Cộng sản Đông Dương như Nguyễn Thị Minh KhaiVõ Văn TầnHà Huy Tập,... xử bắn ngày 28 tháng 8 năm 1941.( https://vi.wikipedia.org/)

Trước khi ra pháp trường, ông đã để lại lời nhắn tha thiết về lòng yêu nước, căm thù giặc cũng như tinh thần bất khuất, cùng niềm tin vào tương lai. Những dòng nhắn nhủ của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến được in ra và treo ngay trên tấm chân dung của ông do cố nhạc sĩ Văn Cao vẽ.

"Vĩnh biệt hôm nay có mấy lời

Nhắn cùng đồng chí khắp nơi nơi

Tinh thần để lại cho non nước

Thù hận ghi sâu giữa đất trời

Án chém Hà Nam đà rũ sạch

Khổ sai Côn Đảo đã qua rồi

Anh em đi trọn con đường nhé

Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai".

Lá cờ của Nguyễn Hữu Tiến đã lan rộng ra và trở thành cờ hiệu của phong trào Việt Minh. Tại Hội nghị Tân Trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Quốc dân đại hội đã nhất trí chọn lá cờ của Nguyễn Hữu Tiến làm Quốc kỳ của đất nước Việt Nam độc lập.

Nhà lưu niệm

Năm 1993, để ghi ơn Nguyễn Hữu Tiến, tỉnh Hà Nam đã cho xây dựng Nhà lưu niệm, mang tên: "Nhà lưu niệm Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến". Hiện, nơi này do người con gái duy nhất của Nguyễn Hữu Tiến là bà Nguyễn Thị Xu trông nom. Trong căn nhà có treo một bức tranh sơn dầu vẽ cảnh Nguyễn Hữu Tiến đang ngồi vẽ lá cờ đỏ sao vàng, do cố nhạc sĩ Văn Cao vẽ.

Mộ Nguyễn Hữu Tiến hiện được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh (P.Long Bình, Q.9).(dantri.com.vn/, 26/07/2012)

12.5. Nguyễn Đức Cảnh (2 tháng 2 năm 190831 tháng 7 năm 1932) là một nhà hoạt động cách mạng Việt Nam. Ông nguyên là Bí thư đầu tiên của Thành ủy Hải Phòng và là Tổng biên tập đầu tiên của báo Lao Động.

Ông người làng Diêm Điền, tổng Hổ Đội, huyện Thụy Anh (nay thuộc thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy), tỉnh Thái Bình.

Cha của ông là cụ ông Nguyễn Đức Tiết, từng tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp do Đề đốc Tạ Quang Hiện lãnh đạo. Năm 1888, cụ đỗ Cử nhân khoa Mậu Tý, nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Thân mẫu của ông là cụ bà Trần Thị Thùy, người làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng). Ông bà có với nhau 4 người con là Nguyễn Đức Phúc, Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Đức Cảnh và Trần Thị Thừa

 

Nguyễn Đức Cảnh (https://vi.wikipedia.org/)

Từ nhỏ, ông được thừa hưởng sự giáo dục Nho học của cha. Tuy nhiên, sau khi cha ông qua đời vào năm 1915, ông được Nguyễn Đạo Quán và Trần Mỹ, bạn học của cha, là tri phủ, nhận làm con nuôi và cho đi học trường Hương học. Sau khi học xong bậc tiểu học, năm 1923, ông được cho đi học tiếp ở Trường Thành Chung Nam Định. Tại đây, ông kết thân với một số bạn bè trẻ tuổi, trong đó có Đặng Xuân Khu, Đặng Xuân Thiều, Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Văn Năng.

Chịu ảnh hưởng tư tưởng chống Pháp từ cha, trong thời gian học tại Nam Định, ông cùng nhiều bạn học tham gia các phong trào đòi thả Phan Bội Châu năm (1925), để tang Phan Chu Trinh năm (1926) và vì thế bị đuổi học.

Ông rời Nam Định lên Hà Nội tìm việc làm để tự nuôi sống. Ban đầu, ông làm thư ký cho hiệu ảnh Hưng Ký, rồi làm giáo viên Trường tư Công Ích tại phố Bạch Mai. Do thường xuyên truyền bá tư tưởng yêu nước trong giờ dạy cho học sinh nên Hiệu trưởng nhà trường rất lo sợ, đã yêu cầu ông chỉ được dạy đúng nội dung sách giáo khoa do Nhà nước bảo hộ quy định. Ông bèn thôi việc, vào làm thợ sắp chữ ở nhà in Mạc Đình Tư.

Cuối năm 1926, ông đã có những tiếp xúc đầu tiên với những hạt nhân của Nam Đồng Thư xã, và dần chịu ảnh hưởng chính trị của tổ chức này, dẫn đến việc ông tham gia vào một tổ chức chính trị mà về sau được biết đến với tên gọi là Việt Nam Quốc dân Đảng.

Mùa thu năm 1927, ông và Lý Hồng Nhật được tổ chức cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) để tìm hiểu về Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Tại đây, ông đã dự thính một lớp huấn luyện chính trị do Tổng bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội mở. Điều này đã có ảnh hưởng sâu sắc dẫn đến việc ông và người bạn Lý Hồng Nhật gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội.

Sau khóa huấn luyện tại Quảng Châu, ông về nước. Tháng 2 năm 1928, ông được phân công làm Ủy viên Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ, phụ trách khu Duyên hải và trực tiếp làm Bí thư Tỉnh bộ Hải Phòng. Tháng 9 năm 1928, thực hiện chủ trương "Vô sản hóa" của Tổng bộ Thanh niên, ông xin vào làm thợ tại xưởng Caron, và trở thành một trong lãnh đạo công nhân trong các đợt đấu tranh với giới chủ. Cuối năm 1928, ông viết tập tài liệu 16 trang với tiêu đề "Tổ chức công hội" nhằm truyền bá Chủ nghĩa Marx-Lenin, tổ chức bí mật in ấn lưu hành trong công nhân

Đầu năm 1929, xu hướng Cộng sản hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ trong nội bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Tháng 3 năm 1929, 7 đoàn viên trong Kỳ bộ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Bắc Kỳ quyết định thành lập chi bộ cộng sản và bầu Trần Văn Cung (bí danh Quốc Anh) làm bí thư. Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam. Chi bộ này chủ trương tiến tới thành lập đảng cộng sản. Trên cơ sở đó, chi bộ tích cực chuẩn bị để đi đến thành lập một đảng cộng sản thay thế cho Việt nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Ngày 17 tháng 6 năm 1929 tại số nhà 312 Khâm Thiên, Hà Nội đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc họp đại hội quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua tuyên ngôn, điều lệ của đảng, quyết định xuất bản báo Búa Liềm, cử ra ban chấp hành trung ương lâm thời của đảng gồm: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Ngô Gia Tự, Trần Văn Cung, Nguyễn Phong Sắc, Trần Tư Chính, Nguyễn Tuân (Kim Tôn). Tổ chức này phát triển ở Bắc kỳ và cử người vào Trung kỳ, Nam kỳ vận động thành lập đảng trong toàn thể Việt Nam.

Ngày 28 tháng 7 năm 1929, thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời về công tác công vận, ông triệu tập Đại hội đại biểu công nhân các tỉnh Bắc kỳ tại 15 Hàng Nón (Hà Nội), thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ. Ông được cử làm Hội trưởng lâm thời, phụ trách tờ báo Lao động và tạp chí Công hội đỏ.

Tháng 8 năm 1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản đảng Hải Phòng thành lập. Ban Chấp hành Đảng bộ lâm thời gồm 3 người là Nguyễn Đức Cảnh (Bí thư), Hoàng Văn Đoài và Nguyễn Hữu Căn (Ủy viên).

Đầu tháng 1 năm 1930, ông và Trịnh Đình Cửu được cử làm đại diện của Đông Dương Cộng sản đảng sang Cửu Long (Trung Quốc) để dự Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Sau khi về nước, các ông đã triệu tập Hội nghị tại số nhà 42 Hàng Thiếc (Hà Nội) bàn triển khai Nghị quyết Hội nghị Cửu Long và Chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng thời cử ra Ban Chấp hành lâm thời. Ông tuy được giới thiệu vào Trung ương nhưng đã đề cử ông Trần Văn Lan thay thế.

Tháng 5 năm 1930, ông được Trung ương cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ. Đến cuối tháng 10 năm 1930, ông được Trung ương cử vào tham gia Xứ ủy Trung kỳ và được Hội nghị toàn thể Xứ ủy đã bầu ông vào Ban Thường vụ Xứ ủy và phân công phụ trách công tác tuyên huấn, tham gia chỉ đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Ngày 9 tháng 4 năm 1931, trên đường từ cuộc họp quan trọng của Xứ ủy Trung kỳ trở về cơ sở, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giữ tại làng Yên Dũng Hạ (nay thuộc phường Hưng Thủy, Vinh), cách thành Vinh chừng vài cây số. Ông lập tức bị chuyển giải về giam giữ tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) chờ xét xử.

Tại phiên tòa Hội đồng đề hình của thực dân Pháp mở ngày 15 đến ngày 17 tháng 11 năm 1931 tại Hà Nội, ông bị kết án tử hình. Khi chánh án hỏi có xin ân xá không, ông trả lời khẳng khái: “Đánh đuổi quân cướp nước, giành độc lập cho Tổ quốc, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam là không có tội. Đã không có tội, cần gì ân xá”

Trong những ngày cuối cùng trong xà lim án chém, ông đã dồn sức viết nhiều tài liệu như "Gia đình và Chủ nghĩa Cộng sản", "Nói chuyện với nước Tàu", và đặc biệt là tập "Công nhân vận động" nêu rõ đặc điểm giai cấp công nhân và kinh nghiệm vận động công nhân. Ông cũng viết bài thơ tuyệt mệnh "Tạ từ ngôn", nhờ anh ruột là Nguyễn Đức Phúc gửi lời vĩnh biệt về cho mẹ và gia đình.

...Một mình trằn trọc canh trường,

Nát lòng muôn việc giữa đường chưa xong.

Ngổn ngang trăm mối bên lòng,

Xông pha giông tố chỉ mong độ về.

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân chưa dễ đền nghì trời mây.

Tạ từ vĩnh biệt từ đây,

Cúi xin từ mẫu chóng khuây nỗi buồn!

Ngày 30 tháng 7 năm 1932, chính quyền thực dân Pháp đã đưa ông cùng với một đồng chí là Hồ Ngọc Lân từ nhà tù Hỏa Lò Hà Nội xuống nhà lao Sông Lấp Hải Phòng để xử chém. Hai ông thọ hình tại đây vào sáng sớm ngày 31 tháng 7 năm 1932

Vinh danh

Tên ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam như: tại Hải Phòng, đường Nguyễn Đức Cảnh là con phố chính nằm cạnh hồ Tam bạc, từ ngã tư Tam Kỳ tới Nhà hát Lớn Thành phố, tại thành phố Cẩm Phả (từ đường Lê Thanh Nghị tới đường Đặng Châu Tuệ), thành phố Hạ Long (Từ phố Tuệ Tĩnh đến đường Lê Thánh Tông), Đường Nguyễn Hữu Cảnh ở phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội...

Ngày 20 tháng 7 năm 1984, Tổng cục Bưu điện Việt Nam phát hành bộ tem "Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28-7-1929 – 28-7-1984)", mã số 444, trong đó có 1 mẫu tem về Nguyễn Đức Cảnh - người lãnh đạo đầu tiên của Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ (tiền thân của Công đoàn Việt Nam, nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam).

Một khu lăng mộ tưởng niệm ông được xây dựng tại Thị trấn Diêm ĐiềnThái ThụyThái Bình. Năm 2007, di thể của ông sau khi được tìm thấy đã được quy tập về đây. Tại trung tâm thành phố Thái Bình, một bức tượng ông được đặt tại quảng trường 14 tháng 10.

Ở xã An Đồng, huyện An DươngHải Phòng cũng có một đền thờ ông.

Tên ông còn được đặt cho một giải thưởng mang tên "Giải thưởng Nguyễn Đức Cảnh" nhằm tôn vinh những công nhân có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất. (https://vi.wikipedia.org)

12.6. Nguyễn Văn Cừ (9 tháng 7, 1912- 28 tháng 8, 1941) nguyên là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1938-1940). 

Ông sinh trong một gia đình nhà Nho, quê xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

Tháng 6 năm 1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1930, được cử làm Bí thư đặc khu Hồng GaiUông Bí. Bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo.

Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội. Nguyên Văn Cừ đã tập trung vào công tác khôi phục cơ sở Đảng, khôi phục và đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân và đã thành công trong việc lập lại Xứ uỷ Bắc kỳ và trở thành uỷ viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ (tháng 3 năm 1937). Tháng 9 năm 1937, được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định). Năm 1938, ông được bầu làm Tổng bí thư khi mới 26 tuổi.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành trung ương tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Cừ đã cùng Trung ương Đảng xây dựng Nghị quyết kiểm điểm các công tác, vạch ra nhiệm vụ của Đảng trong thời kỳ mới, xác định “vấn đề lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại” và chỉ rõ rằng “cần đưa hết toàn lực của Đảng”, “dùng hết phương pháp làm thế nào cho thực hiện được Mặt trận dân chủ, ấy là công cuộc của Đảng ta trong lúc này”.

Nguyễn Văn Cừ (https://vi.wikipedia.org)

Xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương, một hình thức mặt trận đoàn kết dân tộc thay thế cho Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương trước đó, được đảng đánh giá là chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trước sự vận động nhanh chóng của tình hình mới trong nước và thế giới. Để thực hiện nhiệm vụ này, Nguyễn Văn Cừ và Đảng đã chủ trương phải tiến hành cuộc đấu tranh chống khuynh hướng “tả”- đưa ra những khẩu hiệu quá cao, và đề phòng khuynh hướng “hữu”- không chú trọng phong trào quần chúng công nông. Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, ông đã xúc tiến ngay việc thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương. Đóng góp của Nguyễn Vãn Cừ vào nội dung Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 3 năm 1938 cũng như những vấn đề nêu ra trong tác phẩm Tự chỉ trích do ông viết hoàn toàn sát đúng với nội dung trong thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho Đảng vào cuối tháng 7 năm 1939.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành trung ương (tháng 11 năm 1939) đã quyết định những vấn đề quan trọng trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, mà nội dung trọng yếu là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc – giai cấp, giai cấp-dân tộc, vấn đề xây dựng Đảng, Mặt trận và phương pháp cách mạng trong tình hình lịch sử mới.

Để tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống nặng lãi và tạm gác khẩu hiệu lập chính quyền xô viết công nông binh, thay bằng thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ...Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay không còn thích hợp nữa, phải thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương.

Tháng 6 năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với một số đảng viên khác.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), thực dân Pháp ghép ông vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình.

Ngày 28 tháng 8 năm 1941, bản án được thi hành cùng lúc với một số đảng viên cộng sản khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu... tại trường bắn Hóc Môn.

Viết về Nguyễn Văn Cừ:

  • Lê Duẩn: "Về tuổi đời anh Cừ kém chúng tôi và các anh Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập từ 5 đến 10 tuổi nhưng anh là một trí tuệ lỗi lạc của Đảng, rất sắc sảo và nhạy bén về chính trị lại có khả năng đoàn kết và thuyết phục anh em".
  • Võ Nguyên Giáp: "...Thật tự hào cho Đảng ta đã có một đồng chí Tổng Bí thư rất trẻ mà đã có tài năng lãnh đạo xuất sắc - đồng chí Nguyễn Văn Cừ".
  • Hoàng Quốc Việt: "Nhớ ngày nào còn về Tam Sơn gặp Nguyễn Văn Cừ, rồi ngày ở Côn Đảo, mắt le lé nhìn, miệng hơi nhô ra tranh luận,... một trí tuệ siêu việt của Đảng đã mất rồi".( https://vi.wikipedia.org)

Trang http://www.quan7.hochiminhcity.gov.vn đã viết:

“Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng bí thư trẻ nhất trong lịch sử đảng ta. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn Cừ sớm giác ngộ cách mạng, đi theo lý tưởng Bác Hồ vĩ đại. Từ khi mới 15 tuổi, đồng chí đã được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên giới thiệu đi “vô sản hoá” vào tháng 8/1928 ở vùng mỏ Đông Bắc. Chỉ một năm sau, đồng chí đã trở thành người chỉ đạo trực tiếp phong trào công nhân, phong trào cộng sản ở khu vực có lực lượng công nhân đông đảo nhất lúc bấy giờ. Từ đó, đồng chí nhanh chóng thể hiện rõ bản năng của một nhà lãnh đạo tài ba của Cách Mạng Việt Nam, trở thành Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử Đảng ta khi chưa đầy 26 tuổi.

Một nhà lãnh đạo kiệt xuất: Chỉ sau một năm “vô sản hoá”, năm 1929, ở tuổi 17, Nguyễn Văn Cừ đã trở thành người trực tiếp chỉ đạo phong trào công nhân, phong trào cộng sản ở khu vực có số lượng công nhân tập trung lớn nhất nước ta. Đồng thời, đồng chí Nguyễn Văn Cừ trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đông Dương cộng sản Đảng. Cuối tháng 2/1930, đồng chí thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở mỏ Mạo Khê - chi bộ đầu tiên của Đảng ta ở vùng mỏ Quảng Ninh. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của đồng chí, các chi bộ Đảng ở Uông Bí, Vàng Danh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông lần lượt ra đời. Tháng 02/1931, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt và giam cầm ở các nhà tù Hòn Gai, Hoả Lò rồi lưu đày đi Côn Đảo. Chính những năm tháng tù đày khổ ải, Nguyễn Văn Cừ đã cùng đồng chí của mình biến nơi tù đày thành trường học cách mạng, thành nơi trui rèn ý chí, bản lĩnh người chiến sĩ cách mạng.  

Đó còn là một nhà lý luận xuất sắc của Đảng. Tháng 6/1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ viết: “Người cộng sản chẳng bao giờ hô hào những chuyện cao xa viển vông cho sướng miệng nhưng căn cứ vào sự thực, đồng thời nắm lấy sự đi tới của sự vật, hiểu thấu luật tiến hóa của xã hội... để khi tình thế thay đổi thì chính sách sẽ thay đổi”. Với khả năng nhạy bén nắm bắt tình hình trong và ngoài nước, thêm vào khả năng lý luận chính trị xuất sắc, Nguyễn Văn Cừ đứng đầu bộ máy nhà nước ta lúc bấy giờ đã đưa đất nước giảm bớt tổn thất cho Đảng khi chiến cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai nổ ra vào năm 1939, đồng thời góp phần đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc ta tiến lên. Từ đây người chiến sĩ ấy đã chỉ đạo thay đổi chiến lược cách mạng, tạo ra bước ngoặt quan trọng mà ngày nay nhân dân ta hay nhắc đến - giai đoạn cách mạng những năm 1938-1342 - giai đoạn cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.

Một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng: Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp Cách Mạng, cho lý tưởng cao đẹp của Đảng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một mẫu mực về phẩm chất cao quý của người cộng sản. Ngoài tinh thần say sưa học tập, rèn luyện và vươn lên không ngừng, bằng niềm tin và nghị lực, đồng chí đã biến nhà tù đế quốc thành trường lớp lý luận cách mạng, tự trang bị cho mình những hiểu biết sâu rộng về khoa học chính trị, trở thành Tổng bí thư – cán bộ lãnh đạo cao nhất của Đảng. Không chỉ là tinh thần học tập đáng khâm phục, ở đồng chí còn là một tấm gương sáng về sự liên hệ quần chúng, gắn bó máu thịt với quần chúng và vận động quần chúng. Bất kỳ ở đâu, sống giữa những người bạn phu mỏ, hay bạn tù Côn Đảo, dù là đảng viên hay lúc giữ cương vị cao nhất của Đảng, đồng chí luôn thể hiện là người cán bộ có đạo đức cách mạng trong sáng, giản dị, gương mẫu trong cuộc sống, có tác phong chan hòa, gần gũi với mọi người, có khả năng tập hợp, đoàn kết cán bộ, đảng viên và nhân dân, được nhân dân yêu mến và cảm phục.

Tên của ông được đặt cho các đường phố Hà Nội (nối cầu Chương Dương với Ngô Gia Tự), thành phố Hồ Chí Minh (từ ngã sáu Cộng hòa nối Dương Bá Trạc), Đà Nẵng (từ đèo Hải Vân đến cầu Nam Ô), Vũng Tàu (cắt Nguyễn An Ninh), Vinh, Cần Thơ, Hạ Long (từ Kênh Liêm đến Cầu Trắng - Vũ Văn Hiếu), Rạch Giá.

12.7. Nguyễn Văn Tố (1889-1947), bút hiệu Ứng Hoè, sinh ngày 5 tháng 6 năm 1889, quê ở Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Thuở nhỏ ông học chữ Hán, sau sang Pháp học đỗ bằng Thành chung (Trung học). Về nước ông làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội, chuyên về văn học cổ Việt Nam. Ông từng làm Hội trưởng hội Trí TriHội truyền bá chữ Quốc ngữ trước năm 1945.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Cứu tế Xã hội trong chính phủ cách mạng lâm thời. Ông nguyên là Đại biểu quốc hội, Chủ tịch Quốc hội khóa IQuốc vụ khanh trong Chính phủ liên hiệp Việt Nam lâm thời (1946).

Nguyen Van To.jpgSau ngày toàn quốc kháng chiến (ngày 19 tháng 12 năm 1946, ông cùng chính phủ rút lên Việt Bắc tiếp tục kháng chiến chống Pháp. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, trong một cuộc tấn công chớp nhoáng của quân đội Pháp vào chiến khu trong chiến dịch Việt Bắc, ông bị bắt, bị tra khảo và bị sát hại tại Bắc Kạn. Có một chi tiết đáng chú ý là vì Nguyễn Văn Tố có thân hình mảnh dẻ và dong dỏng cao nên ban đầu quân đội Pháp nhầm tưởng ông là chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những công trình nghiên cứu của ông rất có giá trị, được in trong các tạp chí như Trí triTri tân, "Viễn Đông Bác Cổ" xuất bản ở Hà Nội thời bấy giờ.

Tên ông được đặt cho 1 trường ở Khu 9 Nam Bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954). Trường Nguyễn Văn Tố rất nổi tiếng vì đã có công đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Nhiều cán bộ lãnh đạo Nhà nước Việt Nam hiện nay có xuất thân từ trường này.

Nguyễn Văn Tố (https://vi.wikipedia.org)

Ngày nay còn có nhiều ngôi trường mang tên ông tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An... Tại Thành phố Hà nội, tên ông được đặt cho một con đường gần chợ Hàng Da, quận Hoàn Kiếm.

Theo https://baomoi.com, 09/11/2015: Cụ Nguyễn Văn Tố là một học giả uyên bác. Sau cách mạng tháng Tám, từ Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ, Cụ được toàn Đảng, toàn dân tín nhiệm cử làm Bộ trưởng Bộ cứu tế xã hội. Với cương vị mới, Cụ đã có công lớn trong việc chống giặc đói. Là trưởng ban thường vụ Quốc hội rồi Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, Cụ đã góp phần quan trọng vào việc tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp nhân sĩ, trí thức và các quan chức trong chế độ cũ đi theo cách mạng. Nói về cụ Nguyễn Văn Tố là nói về một nhân cách lớn, nói về một hiền tài có đủ nhân – trí – dũng.

12.8. Thiều Chửu (19021954), tên thật Nguyễn Hữu Kha, hiệu Tịnh Liễu, Lạc Khổ. Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác cũ, nay thuộc quận Đống ĐaHà Nội. Thân phụ là Nguyễn Hữu Cầu, quen gọi là cụ cử Đông Tác, từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục nên bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo. Cụ nội là ông nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý.

Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người cha và anh ruột là Giáo sư Nguyễn Hữu Tảo. Ông là nhà văn hóa, dịch giả và cư sĩ Việt Nam, tác giả cuốn Hán Việt tự điển và nhiều bộ sách về Phật giáo nổi tiếng khác. Năm 1945, ông được Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tư cách là Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội nhưng ông từ chối để tiếp tục việc giảng dạy cho các lớp Phật giáo, cùng Cô nhi, theo con đường tu trì lợi tha mà mình đã chọn. (Theo Phật học Từ điển: Lợi là ích lợi, tha là người khác. Lợi tha là làm tất cả những gì có ích lợi cho người và vật.(https://giacngo.vn/)).

Vì sao Hữu Kha không kế tục truyền thống văn nhân của gia tộc mà chọn con đường làm một cư sĩ khổ hạnh suốt đời chỉ lo cứu giúp người cùng khổ? Hãy nhớ lại một câu các Phật Tử hay nhắc tới: “Có một người sinh ra trên thế gian này là vì hạnh phúc của muôn người…”

Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sống trong những năm tháng cực khổ của thời thơ ấu khiến ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ cứu người của đạo Phật. Với thiên tư và ý chí tự lực vươn lên, ông đã có một căn bản về Hán học, thông thạo tiếng Pháp, Anh, Nhật và tự nguyện làm một cư sĩ, tích cực tham gia công tác từ thiện xã hội và hoằng dương Phật pháp. (Một cách mở rộng ra để phô bày ra hay truyền bá những lời dạy hay giáo lý của đức Phật (https://www.daophatngaynay.com/)).

Đạo phật hay Phật giáo là một tôn giáo mang tính duy lý và vô thần hướng đến nhận thức chân lý hay còn gọi là giác ngộ giúp con người được giải thoát. Phật giáo là một hệ thống triết học mang tính khai sáng nhằm hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ.

Đạo Phật giải thích mọi sự việc đều là sự biểu hiện của luật nhân quả. Nghĩa là mọi sự việc đều là kết quả từ nguyên nhân trước đó. Sự việc đó chính nó lại là một nguyên nhân của kết quả sau này. Nhân quả tương tác theo luật tương ứng: nhân nào thì quả nấy, quan hệ nhân quả là xuyên suốt thời gian chứ không chỉ trong một kiếp sống. Chính điều này đã dạy con người ta nên làm việc thiện, việc có đức, không nên làm điều ác để không phải gặp quả xấu và đã làm con người ta biết cái phải sợ. Sợ để biết sống đúng mực, sợ để biết trân trọng những gì đáng quý trong cuộc đời, sợ để biết cẩn trọng hơn.

Trong suốt cuộc đời của mình từ tuổi thơ đến khi trở thành cư sĩ bén duyên với Phật giáo, ông lấy hiệu là Thiều Chửu, có nghĩa là cái chổi quét bụi, thể hiện rõ tâm nguyện của mình là "cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình". Ngoài ra, "hàng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẩn đục bởi phiền não vô minh che lấp". Ông không trở thành tu sĩ mà chỉ là một cư sĩ, tu tại gia. Vai trò của cư sĩ Phật Giáo được dân ta nói tới trong câu ca Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa lưu truyền bao đời nay.

Với niềm tin và nghị lực làm việc phi thường, ông đã để lại cho đời một sự nghiệp trước tác về Phật học, làm giầu cho thư tịch và văn hoá đất nước. Ông thực sự là một tấm gương về lao động sáng tạo, đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong ký ức của nhiều người.

Ông góp công lớn trong sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934). Sau khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập năm 1934 và ra báo Đuốc tuệ, ông nhận lời làm quản lý và biên tập cho tờ báo. Ông cũng tham gia thành lập Hội truyền bá quốc ngữ vào năm 1938 để nâng cao dân trí.

Năm 1936, ông cùng bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyển) đồng sáng lập Hội Tế Sinh và làm Tổng Thư ký Hội. Ngay năm sau Hội lao vào cứu giúp nạn nhân trận lụt Đinh Sửu.(https://vi.wikipedia.org/)

 Theo trang https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02 có viết: Sau đợt ấy, Hội trưởng Hội Phật Giáo hai lần bảo ông khai thành tích để làm sớ xin vua Bảo Đại ban phẩm hàm, nhưng ông trả lời: “Tôi chỉ thích làm người bạch đinh thôi… Nếu cứ ép tôi xin phẩm hàm, tôi sẽ lên rừng ở”.

Thời gian xảy ra nạn đói đầu năm 1945, chiều nào ông và các đồng chí cũng nấu cơm nắm vài trăm nắm nhờ anh em Hướng đạo sinh đạp xe đem đi dúi vào tay từng người ăn xin dọc đường. Tối tối ông đốt lửa ở sân chùa Quán Sứ cho họ đến sưởi. Khi người đói nhiều quá, ông nấu cháo phát chẩn; trong 93 ngày liền nấu hết 3 tấn gạo, phát được 38.600 bữa cháo. Khi người chết đầy đường, cụ cùng anh em suốt ngày đi khuân xác về chôn, đổ đồng mỗi ngày ông chôn 15 xác cho tới khi chật hết hai sào đất ở Am Tế Độ, việc này khiến ông bị ốm suýt chết…

Có lẽ vì biết ông có tâm và có tài tổ chức cứu tế mà Hồ Chủ Tịch từng mời ông làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Cách mạng lâm thời 1945, nhưng ông khước từ với lý do để tiếp tục làm Phật sự. Sau đó, khi lại được mời làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, ông cũng xin kiếu. (https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02)

Ông kể: "Chính vì chung một chí nguyện chịu khổ sở nhọc nhằn để giúp đỡ đồng bào, cả đời không ăn ngon mặc đẹp, không ai có gia đình riêng, nên chúng tôi được nhiều người tin lắm. Rất nghèo mà tiền bao nhiêu cũng có".

Năm 1941, khi trường Phật học Phổ Quang được mở, ông đảm nhận việc dạy chữ Hán, giảng kinh và chủ trì các khóa lễ mà nhiều học viên sau này trở thành các bậc tu hành có uy tín như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhà sư Trần Việt Quang sau là đại tá quân đội, Ni sư Đàm Ánh một nhà từ thiện có tiếng.

Năm 1946 ông cùng một lớp học tăng ni và một số trẻ mồ côi hội Tế Sinh đi theo kháng chiến chống Pháp, tham gia lao động sản xuất, giáo dục, viết và dịch sách.

Trong Cải cách ruộng đất, ông bị đội cải cách ruộng đất ở xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên quy là địa chủ và xỉa xói mắng nhiếc nhiều giờ, vu cho đủ các tội ác. Ông đã tự trầm vào Ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ (ngày 15 tháng 7 năm 1954) tại sông Cầu tỉnh Thái Nguyên. Trước khi mất, ông thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, thư dặn dò các học trò mình phấn đấu theo kháng chiến chống Pháp đến cùng, và viết lời kết bản Tự bạch (cũng gửi Hồ chủ tịch) như sau:

Cái án "mạc tu hữu" (tức vu cáo, ông viết bằng chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”.

Ông mất đi đã để lại một bộ Trước tác đồ sộ với 93 tác phẩm viết và dịch. Ngoài bộ Hán Việt tự điển có giá trị vượt thời gian, ông còn dịch 14 bộ kinh căn bản của đạo Phật như Kinh Di Đà, Thủy Sám, Địa Tạng, Kim Cương Bát Nhã, Viên Giác, Pháp Hoa, Dược Sư, Phả Môn, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Lễ Sáu Phương, Lục Tổ Đàn Kinh, Khóa Hư. Các sách dịch khác của cụ có thể kể: Vì sao tôi tin Phật giáo, Phật học cương yếu, Tây du ký...

Ông cũng viết các sách về Phật học như Sự tích Phật tổ diễn caNhòm qua cửa PhậtCải tà quy chínhKhóa tụng hàng ngàyCon đường Phật học thế kỷ 20.

Năm 1943, ông soạn cuốn Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính, chủ yếu dùng triết lý Phật học để giải thích. Ông coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật chứ không chỉ là một tác phẩm văn chương.

Tác phẩm cuối cùng của ông là Con đường học Phật ở thế kỷ 20 xuất bản năm 1952. Đây là tác phẩm viết bằng máu và nước mắt như lời học giả Vũ Tuấn Sán, thể hiện quan điểm của một Phật Tử chân chính, tiên tiến, yêu nước, kiên quyết vạch mặt một số Tăng sĩ vùng địch chiếm mưu mô thần bí hóa đạo Phật, qua đó làm nhụt tinh thần kháng chiến của dân tộc.

Thiều Chửu suốt đời lo việc dạy học cho đồng bào. Hồi làm ở hiệu thuốc Ngã Tư Sở, hàng tuần ông dành ba buổi tối đến chùa Sở (nay gọi là chùa Phúc Khánh) dạy các nhà sư học chữ Hán. Thời gian ở hiệu sách Hòa Ký và nhà in Đuốc Tuệ, tối nào ông cũng dạy chữ Hán, Quốc ngữ, cách trí, sử ký, địa dư cho đồng nghiệp.

Năm 1938 ông cùng học giả Nguyễn Văn Tố và mấy người nữa đồng sáng lập Hội Truyền Bá Quốc Ngữ và hăng say làm mọi việc Hội phân công. Hồi tản cư kháng chiến, tới đâu ông cũng mở trường dạy chữ cho trẻ em và người lớn; bà con Phúc Yên, Thái Nguyên ngày ấy đều biết tiếng ông.

Phật học là một hệ thống triết lý-tín ngưỡng đồ sộ nhằm tìm con đường giải thoát nhân loại khỏi mối quan tâm cuối cùng – cái chết.

Người ta thường nghĩ các tôn giáo đều có tính chất thần bí, không hợp với khoa học. Lạ thay, ngay từ năm 1946 ông từng khẳng định học thuật của nhà Phật có giá trị như khoa học mà lại còn hơn thế nữa. Ông nghiệm ra điều đó từ chỗ thấy Phật Tổ chưa bao giờ thần bí suy tôn một đấng tối cao sáng tạo ra vũ trụ và có khả năng giải thích mọi sự vật. Ông dự đoán: Khi khoa học phát triển cao, “các tôn giáo có lập trường thần bí tất sẽ bị đào thải. Thế giới ngày nay không ai không tin khoa học… Lập trường của Phật Giáo trăm phần trăm đúng với cái đích của nhân loại tiến hóa tột bực sẽ tới, lẽ tự nhiên Phật Giáo sẽ không bị đào thải, trái lại càng rực rỡ quang vinh.”

Có lẽ ông là một trong số rất ít người cùng thời ngày ấy hiểu được rằng đạo Phật có bản chất khoa học. Nhà bác học Einstein cũng nói đạo Phật không trái với khoa học, vì thế có thể đóng vai trò “một tôn giáo vũ trụ (a cosmic religion) và nó bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học (It embraces science as well as goes beyond science)”. Einstein còn nói: “Đạo Phật bắt đầu tại nơi khoa học kết thúc (Buddhism begins where Science ends)”.

Qua đây ta hiểu vì sao ông lại tin đạo Phật đến thế và kịch liệt chống hoạt động mê tín dị đoan của một số tăng sĩ.

Mặt khác ông lại nhận xét: trong thực tế, vì các Phật Tử ngày nay làm sai hẳn nguyên tắc của Phật nên đạo Phật “nhất định sẽ bị đào thải nếu ta không mau trở lại cái bản lai diện mục [bộ mặt vốn có] của Phật Giáo“.

Ông chủ trương hoạt động tín ngưỡng là ở trong tâm mỗi người chứ không nhất thiết phải vào chùa tu hành. Một vài quan điểm của ông thật sự cấp tiến, như chủ trương trả lại chùa cho dân làm trường học, thư viện, nhà dưỡng lão; Tăng sĩ phải lao động tự nuôi mình…Đặc biệt, tư tưởng Phật Giáo Nhân Dân của cụ rất đáng để nghiên cứu, áp dụng. (https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02).

Những đánh giá

Nhà văn Nguyên Ngọc viết: “ Thiều Chửu theo đạo Phật với động cơ vì dân; ông viết bằng chữ hoa câu “Phải tận hiếu với nhân dân. Nhân dân là cha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai” ngay trang đầu sách “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX”; ông coi nhân dân là lực lượng duy nhất có thể cải tạo thứ Phật Giáo đã bị tha hóa, và họ chỉ có thể làm được việc đó khi Tăng sĩ trả chùa cho dân…. Ngày nay nhìn lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến dường ấy của ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xã hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm… Tính thời sự của nó hầu như vẫn còn nguyên”.

Minh Chi trong bài "Tưởng niệm cụ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha" (Tạp chí Xưa và nay số 116, tháng 5-2002) có nhận xét về cụ Thiều Chửu khi ở chùa Quán Sứ trong những năm 1942-46: " Thiều Chửu bao giờ cũng lầm lì, ít nói, mặc quần áo nâu và đi guốc mộc như một bác dân quê", "không dễ hòa mình vào sinh hoạt chung ở chùa Quán Sứ, sinh hoạt của tăng sĩ cũng như cư sĩ". Ông không những ăn chay trường với mâm cơm không có gì mà còn ngày chỉ ăn một bữa trước giờ ngọ như các sư Nam tông. (https://vi.wikipedia.org/)

Trang https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02 đã viết: Trong Đạo Phật có lẽ Bồ Tát là những vị Phật gần dân nhất, “con người” nhất, Từ Bồ Tát thường được dùng để gọi những người có lòng nhân ái vị tha như trời biển. Vị Bồ Tát ấy là cư sĩ Nguyễn Hữu Kha.

Học giả-thiền sư nổi tiếng thế giới Thích Nhất Hạnh (tức Nguyễn Lang, 1926-) nhận xét: “Thiều Chửu là một cây bút rất vững chãi và sâu sắc; căn bản Hán văn của cụ rất vững; văn Khóa Hư là văn biền ngẫu rất khó dịch nhưng bản dịch của cụ rất đặc sắc, đọc êm tai, nghĩa lý khá rõ ràng

Nhà thơ Đinh Công Vĩ  hết lời ca ngợi ông trong bài “Cư sĩ Thiều Chửu với cả một trời thơ”.

Học giả Lê Mạnh Thát nói: “Những người Việt học Hán văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ này“.

Website “Thư viện Hoa Sen đánh giá đây là bộ sách tiêu chuẩn về từ Hán-Việt cho nhiều thế hệ người Việt Nam từ hơn 60 năm qua. Về sau, sách được một số người Việt ở nước ngoài biên soạn thành “Tự điển Hán Việt Thiều Chửu điện tử” và phổ biến miễn phí trên mạng Internet.

Nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động Đặng Vũ Khiêu gọi ông là “Nửa kiếp trầm luân” là con người chân chính, nhà trí thức lớn của dân tộc, và kính tặng đôi câu đối tự tay viết: “Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể; Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời”.

Nhà Hán học Vũ Tuấn Sán nhận định về Thiều Chửu “Lòng yêu nước kết hợp với quyết tâm “hoằng pháp lợi sinh” đã khiến cư sĩ Thiều Chửu có một cuộc đời kiên nghị và thanh cao hiếm thấy: một nhà trí thức uyên bác chưa từng ngồi trên ghế nhà trường, hoàn toàn do công phu tự học, một nhà hoạt động xã hội không mệt mỏi cứu giúp đồng bào trong cơn hoạn nạn hiểm nghèo bậc nhất, người có óc tổ chức, duy trì sự sinh sống và hoạt động có nền nếp của một cộng đồng … người chỉ huy có sức thuyết phục bằng cuộc sống gương mẫu, bằng tình thương yêu khoan hồng chân thành. Bận rộn trăm công nghìn việc vẫn giành thời gian học tập, tu dưỡng dịch thuật trước tác phục vụ lý tưởng của mình. Có thể coi, cư sĩ Thiều Chửu là một hiện tượng khá đặc biệt trong giới trí thức ở thế kỷ XX, một người sống cuộc đời thanh cao, hoàn toàn vì lý tưởng”.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn (Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam) viết “Thiều Chửu là nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX”.

Đại đức Thích Đồng Bổn ca ngợi ông là “bậc Nho sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ, rạng danh Tiết sĩ”.

Web https://thuvienhoasen.org trong tác phẩm “Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902 - 1954)” đã viết: “Tên tuổi của cụ đã trở thành bất hủ với bộ Tự điển Hán - Việt Thiều Chửu. Những người Việt học Hán văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ mà ông đã để lại cho đời. Ngoài bộ Tự điển Hán – Việt Thiều Chửu. Ông là nhà trí thức yêu nước thực sự, yêu nước một cách chân thành, thiết tha đến nỗi quên đi hạnh phúc cá nhân của mình. Chính lòng yêu nước chân thành đó đã đổ lên đầu ông bao nhiêu nỗi oan để cuối cùng ông phải chọn cái chết vì nước, vì dân. Đó là hạnh nguyện của Bồ tát. Chỉ có Bồ tát mới làm được như vậy. Chỉ có Bồ tát mới chấp nhận cái chết một cách nhẹ nhàng, không oán hận, không cầu minh oan, chỉ mong sao lợi ích muôn người. Ông là một người tuy đã đi vào cõi vĩnh hằng hơn nửa thể kỷ nhưng vẫn được nhiều người nhớ tới bởi những gì ông đã dâng hiến cho đời”.

Sách “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, tập 1 của Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh xuất bản, 1995 có viết: Cư sĩ Thiều Chửu - Nguyễn Hữu Kha là một Phật tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng Cư sĩ trong tứ chúng môn đồ của Phật. Bàn tay đóng góp của Người ghi đậm trong lịch sử Chấn hưng Phật giáo miền Bắc Việt Nam. Và hơn nữa, xứng đáng là gương mẫu tiêu biểu cho sự trọng thị một nhân cách khiêm ái từ hoà của người con Phật”.

Web https://www.phattuvietnam.net/: Trong bài “ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha nhà văn hóa – nhà yêu nước” có đoạn viết: Ông được đánh giá như là bó chổi bằng lau sậy. Tự ví mình như một vật bé mọn nhưng có ích cho đời. Trong Phật giáo còn có điển tích “bó lau sậy vượt sông”, nói về sự tích Ngài Đạt Ma đã dùng một bó lau đứng lên, dùng thần thông để vượt sông Trường Giang khi về Tây Trúc. Ông là một nhà Phật học uyên bác, tinh tấn rất nhân văn và hiện đại, một bậc trí thức nêu cao tinh thần tự học, một nhà giáo nhân ái, khiêm nhường mẫu mực và sáng tạo. Sẽ sống mãi trong tâm trí chúng ta, ông là tấm gương lớn.

Từ điển văn học (Bộ mới) nhận định: “Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha đã có những đóng góp quan trọng làm phong phú thêm cho kho tàng thư tịch Phật giáo và nền văn hóa dân tộc”.

Ông đã trở thành Nhà Văn hóa Việt Nam, lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông do tạp chí Xưa & Nay, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam và tạp chí Tia Sáng, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường đã được tổ chức ngày 21 tháng 6 năm 2002 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.

12.9. Giáo sư Nguyễn Xiển (19071997) là một nhà khoa học, đồng thời cũng là một chính khách Việt Nam. Ông từng giữ chức vụ Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam (19561988) và Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam (từ năm 1960 đến 1987).

Ông sinh ngày 27 tháng 7 năm 1907 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nho học lâu đời. Thuở nhỏ, ông học tại trường Tiểu học, Trung học ở Vinh. Hồi còn học ở trường Quốc học Vinh (Nghệ An) ông đã là học sinh xuất sắc, đậu bằng Thành chung rồi ra Hà Nội học trường Bưởi.

Năm 1926, do tham gia cuộc bãi khoá để tang Phan Chu Trinh cho nên ông đã bị đuổi học và bị cấm thi tú tài bản xứ, nhưng ông cùng một số bạn bãi khoá quyết chí tự học, đỗ đầu tú tài Tây ở Hà Nội và đoạt học bổng sang Pháp ở Trường Đại học Toulouse (Pháp) và đã đỗ cử nhân.

Năm 1932, ông về nước, không nhận làm quan ở Huế mà ra Hà Nội đi dạy học.

Từ năm 1937 ông chuyển sang ngành khí tượng thủy văn. Năm 1941 ông phụ trách Đài khí tượng Phù Liễn Đông Dương tại tỉnh Kiến An hiện đại nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Trong thời gian này ông cùng hợp tác với Hoàng Xuân Hãn nghiên cứu về lịch Việt Nam, và cùng các ông Hoàng Xuân HãnĐặng Phúc Thông, Nguyễn Duy ThanhNguyễn Đình ThuỵNguỵ Như Kon Tum ra báo Khoa học phát hành cả Đông Dương, với mục đích truyền bá ý tưởng và phương pháp khoa học, xây dựng văn hoá mới cho quốc dân về phương diện khoa học.

NguyenXien.jpgHoạt động chính trị:

Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Bắc bộ kiêm Giám đốc Nha khí tượng.

Năm 1946, ông được bầu làm Phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam.

Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam liên tục từ khoá I đến khoá VIII; Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II, III, IV,V,VI; Phó Chủ tịch Quốc hội khoá VII.

Từ sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), ông làm công tác khoa học giáo dục và trở thành một trong những người đầu tiên xây dựng ngành đại học Việt Nam.

Giáo sư Nguyễn Xiển   (https://vi.wikipedia.org/)

Từ năm 1955 đến 1959, ông làm Bộ trưởng Cứu tế xã hội.

Từ năm 1960 đến 1976, ông làm Giám đốc Nha Khí tượng Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban địa cầu quốc tế Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban khoa học kỹ thuật nhà nước.

Năm 1956, ông làm Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam và giữ chức này cho đến khi đảng này giải thể năm 1988. Được mời, nhưng ông đã từ chối làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam (nhắc đến trong cuốn Giáo sư Nguyễn Xiển: Cuộc đời và Sự nghiệp, 2007).

Ông còn là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam khóa I, khóa II. Ông mất ngày 9 tháng 11năm 1997, hưởng thọ 90 tuổi.

Gia đình:

Nguyễn Xiển sinh ra trong một gia đình nghèo có 4 anh chị em ruột, 2 gái, 2 trai. Cụ Nguyễn Thị Lạc là chị cả, thời đầu đã góp sức nuôi Nguyễn Xiển ăn học cho đến khi về nước. Anh trai của Nguyễn Xiển là Cụ Nguyễn Bành, đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp.

Phu nhân của Nguyễn Xiển là Cụ Nguyễn Thúy An (1907 - 1998), người Hà Nội, nổi tiếng về "Nữ công gia chánh"; Cụ Nguyễn Thúy An mất sau Cụ Ông đúng 100 ngày.

Con trai cả của Nguyễn Xiển là Nguyễn Toán - Giáo sư đã nghỉ hưu, hiện ở tại số 1 Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Con trai thứ là Nguyễn Lưu, Nhà báo nổi tiếng hiện nay.

Con rể của Nguyễn Xiển là Nguyễn Hy Hiền (tức Lê Tâm), Giáo sư, Nguyên Ủy viên Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước; và Đỗ Quốc Sam (1929-2010), Giáo sư, Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Con dâu Nguyễn Xiển là Bà Đặng Kim Chi, Giáo sư, Tiến sỹ; nguyên phó viện trưởng viện KH&CN Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (Bà là con của Giáo sư Đặng Vũ Hỷ và là cháu ngoại của Thượng thư Phạm Quỳnh).

Giải thưởng và tôn vinh

Tên ông đã được đặt cho một con đường thuộc phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng và một phần đường vành đai 3 chạy qua quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. (https://vi.wikipedia.org/)

12.10. Nguyễn Sơn (19081956) là một trong những người Việt Nam được phong quân hàm tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đợt đầu tiên vào năm 1948.

Ông cũng được Trung Quốc phong quân hàm tướng vào năm 1955 nên còn được gọi là Lưỡng quốc tướng quân (Tướng quân hai nước).

Đa số các tư liệu đều ghi ông sinh ngày 1 tháng 10 năm 1908 và mất ngày 21 tháng 10 năm 1956. Ngày 21 tháng 10 năm 2006, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức Lễ tưởng niệm 50 năm ngày mất của ông. Tại lễ này, ngày sinh của ông được ghi là 1 tháng 10 năm 1908.

Nguyễn Sơn (https://vi.wikipedia.org/)

Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là con cụ Vũ Trường Xương, một nhà đại tư sản ở Hà Nội. Khi mới lên 5 tuổi ông đã bắt đầu học tiếng Pháp tại một trường Dòng ở Hà Nội. Mười bốn tuổi ông thi đậu vào Trường Sư phạm Hà Nội. Tính tình nghịch ngợm, cùng với tinh thần chống Pháp được gia đình truyền thụ, ông thường tổ chức học sinh trường Sư Phạm và trường Bảo Hộ sang đánh nhau với học sinh con Tây tại các trường khác. Để khống chế sự nghịch ngợm của ông, cha mẹ ông đã cho ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Giệm, hơn ông bốn tuổi. Sau khi được Nguyễn Công Thu (người của Nguyễn Ái Quốc cử về Việt nam) giác ngộ, ông bày trò giả vờ uống rượu say, gây sự với cha vợ để lấy cớ bỏ người vợ trẻ cùng cô con gái mới 6 tháng tuổi là Vũ Thanh Các để ra đi.

Năm 1925, ông theo Nguyễn Công Thu đến Quảng Châu. Ông được nhập vào gia đình họ Lý của Lý Thụy (Hồ Chí Minh), gồm Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng, Lý Quý (Trần Phú), Lý Trí Phương (Nguyễn Thị Minh Khai) và một số người khác. Ông được Hồ Chí Minh đặt tên cho là Lý Anh Tự và được học lớp chính trị khóa hai cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan. Tại đây, Vũ Nguyên Bác gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đầu năm 1926, ông được cử đi học Trường Sĩ quan Hoàng Phố cùng với Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng. Trong thời gian học, ông gia nhập Quốc Dân Đảng Trung Quốc.

Tháng 4 năm 1927, Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo làm chính biến, đàn áp Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Ông bỏ khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 8 năm 1927. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, gia nhập Đoàn giáo đạo 4, Phương diện quân số 2 do Diệp Kiếm Anh chỉ huy. Sau ba ngày chiến đấu, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị lộ là đảng viên cộng sản. Để tránh khủng bố trắng, ông phải rời Quảng Châu sang Thái Lan và tổ chức Việt kiều tham gia cách mạng.

Năm 1928 ông trở lại Trung Quốc, tham gia Hồng quân. Năm 1929, ông giữ chức vụ chính trị viên đại đội trong Trung đoàn 47, chỉ huy đại đội đánh nhiều trận ở Đông Giang. Trong thời gian này ông đổi tên mới là Hồng Thủy (洪水).

Ông là sĩ quan người nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng làm Chính ủy trung đoàn, Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34 thuộc Quân đoàn 12 Hồng quân Trung Quốc. Do có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và trình độ lý luận, ông được điều động đến giảng dạy tại Trường Quân sự Chính trị Trung ương của Hồng quân mới được thành lập ở Thụy Kim. Cuối năm 1932 ông còn tham gia thành lập đoàn kịch đầu tiên của Hồng quân công nông và làm Đoàn trưởng.

Tháng 1 năm 1934, tại đại hội đại biểu toàn quốc nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa lần thứ hai, Hồng Thủy được bầu là Ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa với tư cách là đại biểu "dân tộc ít người", Ủy viên Chính phủ dân chủ công nông ở Khu Xô viết Trung ương.

Do đường lối tả khuynh thắng thế trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong thời kỳ 1933-1938 ông đã từng ba lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, rồi lại được phục hồi đảng tịch.

Tháng 10 năm 1934, ông tham dự cuộc Vạn lý trường chinh. Thời gian này, ông bị Trương Quốc Đào vu cáo là "gián điệp quốc tế", bị khai trừ khỏi Đảng và suýt bị giết hại. Ông may mắn được Chu ĐứcLưu Bá Thừa che chở nên thoát nạn. Hồng Thủy là người Việt Nam duy nhất đã đi hết cuộc Vạn lý Trường chinh của Hồng quân.

Tháng 12 năm 1935, ông về đến Diên An sau nhiều ngày bị lạc. Tiếp đó ông được vào học khóa một Trường Đại học Hồng quân Trung Quốc tại Ngõa Gia Bào, Thiểm Bắc (sau chuyển về Bảo An, Thiểm Tây), trực tiếp nghe Mao Trạch ĐôngChu Ân Lai giảng bài.

Tháng 7 năm 1937, bắt đầu thời kỳ chiến tranh chống Nhật, ông theo Tổng tư lệnh Chu Đức cùng Sư đoàn 115 Bát Lộ Quân vượt sông Hoàng Hà đến Sơn Tây lập căn cứ chống Nhật ở Ngũ Đài Sơn. Ông được bổ nhiệm làm bí thư khu ủy Đông Dã, Trưởng Ban Tuyên truyền Địa ủy Đông bắc Sơn Tây. Tại Ngũ Đài Sơn, năm 1938 ông đã gặp và kết hôn với bà Trần Kiếm Qua, (tên thật là Trần Ngọc Anh, tên Kiếm Qua do chính ông gợi ý đổi cho bà). Ông bà sinh được hai người con trai, không kể một người con gái mất sau khi mới một tuần tuổi.

Cũng tại Ngũ Đài Sơn, vì phản đối Diêm Tích Sơn, một "lãnh chúa" ở Sơn Tây, ông bị vu oan, lần thứ ba bị khai trừ Đảng, chuyển về trường Quân chính Hồng quân, nhưng đã được khôi phục đảng tịch ngay trong cuối năm đó.

Năm 1938 ông được giao đảm nhận chức Tổng Biên tập báo Kháng Địch biên khu Tấn Sát Ký.

Tháng 2 năm 1939 ông được điều về làm Phó Chủ nhiệm Khoa giáo dục chính trị tại Phân hiệu 2 Đại học kháng Nhật ở Hàn Tín Đài, Linh Thọ, Hà Bắc, Trung Quốc.

Tháng 11 năm 1945, ông trở về nước hoạt động theo đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tên mới là Nguyễn Sơn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Ông từng làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Việt Nam (từ tháng 12 năm 1945 đến khi giải thể vào tháng 12 năm 1946), Tư lệnh kiêm Chính ủy hai Liên khu 4 và 5, Hiệu trưởng trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi (1946), Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu (1947), Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4 (1948-1949).

Năm 1947, ông được tin bà Trần Kiếm Qua và hai con trai của ông chết do bị máy bay Quốc Dân Đảng oanh tạc khi sơ tán khỏi Diên An. Ông cưới bà Huỳnh Thị Đổi. Hai người sinh được cô con gái Nguyễn Mai Lâm, do nhiều nguyên nhân hai người đã chia tay.

Cũng trong năm này, ông kết hôn với bà Lê Hằng Huân. Ông có 4 người con với bà: Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Cương, Nguyễn Việt Hồng và Nguyễn Việt Hằng.

Năm 1948, ông được Nhà nước Việt Nam phong quân hàm thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên. Cùng được phong thiếu tướng trong đợt này có 8 quân nhân khác. Khi biết mình chỉ được phong thiếu tướng, ông không hài lòng và không muốn nhận. Ông gửi công văn hỏa tốc cho Hồ Chí Minh để từ chối nhận quân hàm. Nhận được công văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lên tấm các của mình: “Tặng Sơn đệ” với 12 chữ Hán: “Đảm dục đại, tâm dục tế, trí dục viên, hạnh dục phương” (đại ý: cái gan cần phải lớn; cái tâm nên tế nhị, chín chắn; cái trí phải suy nghĩ trước sau, toàn diện; cái đức hạnh phải đầy đủ, ngay thẳng) khiến ông chấp nhận. Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch thay mặt Chính phủ vào tận Thanh Hóa làm lễ tấn phong ông.

Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc công tác, làm Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân Giải phóng Nhân dân. Được xem là một trong 72 đại công thần Trung Quốc, ngay trong đợt phong quân hàm đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1955, ông được nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được chính phủ Trung Quốc tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.

Ông được mệnh danh là "Lưỡng quốc tướng quân", là người Việt Nam duy nhất được phong quân hàm tướng của hai quốc gia, và đều ngay trong đợt phong quân hàm đầu tiên.

Năm 1956, do khối u ác tính nằm bên phổi trái, ông xin trở về quê hương. Ông rời Bắc Kinh ngày 27 tháng 9, được Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Trung Quốc ra ga tiễn và về đến Hà Nội ngày 30 tháng 9. Ông mất tại Hà Nội sau đó không lâu. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. (https://vi.wikipedia.org/)

12.11. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (19141967) là một tướng lĩnh chính trị của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

 Ông từng công tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đều có khả năng phát triển lĩnh vực đó nên còn được gọi là "Vị tướng phong trào". Ông cũng là người đề ra chiến thuật đánh áp sát của Quân Giải phóng miền Nam với phương châm "Nắm thắt lưng địch mà đánh".

Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914, quê làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông sinh trưởng trong một gia đình trung nông, thuở nhỏ cũng được học hành. Năm 14 tuổi, cha qua đời, gia đình nghèo, ông bỏ học, đi làm tá điền kiếm sống và nuôi gia đình.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (https://vi.wikipedia.org)

Năm 1934, ông tham gia cách mạng trong phong trào Mặt trận Bình dân. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư chi bộ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Từ năm 1938 đến năm 1943, ông nhiều lần bị Pháp bắt giam ở nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945) mới ra tù. Sau khi ra tù và trở lại hoạt động, ông được bầu làm Bí thư Khu ủy khu IV và được cử đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào (8-1945). Trong Đại hội Đảng ở Tân Trào, ông được đặt bí danh là Nguyễn Chí Thanh, được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ có nhiệm vụ theo dõi và tổ chức giành chính quyền tại Trung Kỳ trong Cách mạng tháng 8.

Từ năm 1948 đến 1950, ông làm Bí thư Liên khu ủy IV.

Cuối năm 1950, làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), được cử vào Bộ Chính trị.

Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng

Hồ Chủ Tịch và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại đại hội Đảng bộ quân đội năm 1960 (https://vi.wikipedia.org)

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nguyễn Chí Thanh lại được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ chính trị và Ban Bí thư. Năm 1961, được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Trong chống Mỹ cứu nước, BCH TW Đảng điều ông trở lại quân đội. Nguyễn Chí Thanh còn là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1961, ông liên tục phát động các phong trào thi đua trong các hợp tác xã, giúp ổn định tình hình phát triển trong hoạt động sản xuất nông nghiệp miền Bắc.

Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được phân công vào Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam. Thời gian này ông lấy bí danh là Sáu Vi. Khi viết báo, ông thường lấy bút danh là Trường Sơn. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 1967 tại Hà Nội do một cơn nhồi máu cơ tim khi ra Hà Nội để báo cáo với Bác Hồ về tình hình miền Nam.

Tên ông đã được gắn trên nhiều đường phố ở các thành phố lớn ở Việt Nam. (https://vi.wikipedia.org).

Đánh giá và ghi nhận công lao

Theo ông Đinh Thế Huynh, để động viên tinh thần của nhân dân, củng cố ý chí quyết chiến, quyết thắng của cán bộ, bộ đội ta, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khẳng định: "Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân là có tất cả. Vì vậy chúng ta không được chạy dài. Chúng ta phải trở về với dân, chúng ta nhất định thắng!".

Image result for Đại tướng nguyễn chí thanhTư tưởng xây dựng “thế trận lòng dân”, đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của Đảng, đã được Đại tướng chỉ đạo, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn.

Với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, “ở đâu nghèo đói gọi, xung phong; ở đâu tiền tuyến cần, anh đến”, - trung tướng Mai Quang Phấn (http://thanhnien.vn/26/12/2013)

Theo http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2013/12/30: Việt Nam tổ chức nhiều lễ kỷ niệm nhân 100 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhân vật chính trị - quân sự cao cấp của miền Bắc thời chiến tranh Việt - Mỹ.T

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao đổi tình hình chiến sự chiến trường miền Nam (5.7.1967)  ( http://thanhnien.vn/)

Ngoài việc đăng các bài báo từ trong tháng 12 đánh giá ông Nguyễn Chí Thanh, tỉnh Thừa Thiên - Huế cũng vừa làm lễ nhận tượng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ở trường học mang tên ông tại huyện Quảng Điền.

Ông được cho là một trong các 'kiến trúc sư' của cuộc chiến tranh từ phía miền Bắc nhằm tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa và đẩy quân đội Hoa Kỳ khỏi Nam Việt Nam.

Ông Nguyễn Chí Thanh có tiếng là đã lập ra 'Binh thư đánh Mỹ' cho quân đội miền Bắc.

Đối với quân đội Bắc Việt Nam, "công của Nguyễn Chí Thanh lớn lắm. Binh thư chống Mỹ là do Nguyễn Chí Thanh tổng kết,"

Ông đã lao vào tổng kết chiến lược, đúc kế́t từ các trận chiến. Điều quan trọng hơn cả, là các kết luận của Tướng Nguyễn Chí Thanh đã đem lại sự tự tin cho quân đội miền Bắc rằng họ "có khả năng đối chọi, đối đầu và còn có thể thắng Mỹ".

Trong bài: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Con người của đột phá của thiếu tướng, PGS, Ts Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam – (http://vietnamnet.vn/ 28/03/2017) có viết:

“Trong thế kỷ 20, trong thời đại Hồ Chí Minh, trước những thử thách nghiệt ngã chưa từng có trong lịch sử, dân tộc ta đã sản sinh ra cả một "thế hệ vàng" những người lãnh đạo kiệt xuất. Nguyễn Chí Thanh là một trong những người Việt Nam như vậy.

Nói đến Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là nói đến một vị tướng toàn vẹn, đức độ "sáng trong như ngọc", tài năng thao lược xuất chúng, Đại tướng của quân đội và cũng là Đại tướng của nhân dân.

Trong bài: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Con người của đột phá của thiếu tướng, PGS, Ts Vũ Quang Đạo, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam – (http://vietnamnet.vn/ 28/03/2017) có viết:

“Trong thế kỷ 20, trong thời đại Hồ Chí Minh, trước những thử thách nghiệt ngã chưa từng có trong lịch sử, dân tộc ta đã sản sinh ra cả một "thế hệ vàng" những người lãnh đạo kiệt xuất. Nguyễn Chí Thanh là một trong những người Việt Nam như vậy.

Nói đến Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là nói đến một vị tướng toàn vẹn, đức độ "sáng trong như ngọc", tài năng thao lược xuất chúng, Đại tướng của quân đội và cũng là Đại tướng của nhân dân.

Trước hết, đó là tấm gương tận trung, tận hiếu với nước, với dân, với Đảng, với Bác Hồ. Lăn lộn trong phong trào cách mạng, lúc tham gia, lúc được giao trọng trách, lúc hoạt động bí mật, lúc công khai, cả khi bị tù đày, bao giờ Ông cũng giữ vững lòng trung ấy.

Nguyễn Chí Thanh là con người của những đột phá. Đột phá trong những chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo, đột phá trong tổ chức thực tiễn, nhưng trước hết là đột phá từ chính tư duy. Có thể nói, Nguyễn Chí Thanh xuất hiện ở đâu thì ở đó có cái mới, là ở đó tình hình có những chuyển biến tích cực. Tại chiến trường Nam bộ khi ông chỉ đạo đã dấy lên phong trào "bám thắt lưng Mỹ mà đánh, tìm Mỹ mà diệt", nhân rộng mô hình "Vành đai diệt Mỹ"”.

Nhớ công lao của Đại tướng người dân ở quê hương đã xây Nhà tưởng niệm Đại tướng ở làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.

“Trọn đời mình, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là hình ảnh tiêu biểu của "Anh bộ đội Cụ Hồ", là một trong những cán bộ lãnh đạo lỗi lạc của Cách mạng Việt Nam, của Đảng ta, Nhà nước ta, của Quân đội ta. Anh là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh!” (http://vietnamnet.vn, 05/07/2017)

Trung tướng Mai Quang Phấn  trên http://hocvienchinhtribqp.edu.vn  ngày  27/12/2013 viết: Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, nhà lãnh đạo chính trị - quân sự tài ba, xuất chúng của cách mạng Việt Nam, có công lao to lớn trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh là nhà quân sự xuất sắc, một tướng lĩnh lừng danh trên chiến trường đánh Mỹ

12.12. Nguyễn Văn Linh (1 tháng 7 năm 1915 – 27 tháng 4 năm 1998) nguyên là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến 1991. Thời kỳ là Tổng Bí thư, ông nổi tiếng với bút danh N.V.L. (sau này ông cho biết đó là "Nói Và Làm") với một loạt những bài báo trong chuyên mục Những việc cần làm ngay trên báo Nhân Dân bàn về những việc cần phải chấn chỉnh trong xã hội. Ông được xem là người mở đường và có công lớn trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam.

Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc, còn gọi là Mười Cúc, sinh tại Thôn Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, Tỉnh Hưng Yên (Hiện tại thôn có Nhà tưởng niệm mang tên ông luôn được các cấp lãnh đạo Nhà nước về thăm). Ông xuất thân trong một gia đình công chức.

 Năm 1929, tham gia học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lãnh đạo.

Nguyễn Văn Linh (https://www.google.com.vn

Ngày 1 tháng 5 năm 1930, Nguyễn Văn Linh bị thực dân Pháp bắt, do tuyên truyền chống lại Pháp. Ông bị kết án tù chung thân và đày đi Côn Đảo. Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm quyền ông được trả tự do.

Năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, hoạt động ở Hải Phòng và ở Hà Nội.

Sau đó, ông vào hoạt động tại Sài Gòn và là cấp dưới trực tiếp của Bí thư Sài Gòn thời kì này - bà Nguyễn Thị Minh Khai.

Năm 1939, ông tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Sài Gòn, sau đó được Đảng điều ra Trung Kỳ để lập lại Xứ ủy Trung kỳ.

Năm 1941, ông bị bắt ở Vinh, bị kết án 5 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Đến năm 1945, ông hoạt động ở miền Tây Nam Bộ, sau đó ở Sài Gòn - Chợ Lớn với cương vị Bí thư Thành ủy, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định.

Năm 1947, Nguyễn Văn Linh là Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, đến 1949 là Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.

Từ 1955 tới 1960, ông là Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn-Gia Định.

Từ 1957 đến 1960, ông là Quyền Bí thư Xứ ủy Nam Bộ.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm Bí thư (1961 - 1964), rồi Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Ông có những đóng góp không nhỏ đối với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Năm 1976, khi Thành phố Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh, ông được cử làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam đến 1980.

Trước Đại hội Đảng lần thứ V, Nguyễn Văn Linh xin rút ra khỏi Bộ Chính trị, trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (1981), thay ông Võ Văn Kiệt ra trung ương. Ông trở thành một nhân vật quan trọng trong lịch sử của thành phố này.

Tháng 6 năm 1986, sau khi Lê Duẩn mất, Trường Chinh làm quyền Tổng bí thư, ông được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thường trực Ban Bí thư. Gần cuối nhiệm kỳ V, ông được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị.

Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, kiêm chức Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1987). Từ đây bắt đầu thời kỳ Đổi MớiCởi Mở của Việt Nam.

Sau một nhiệm kỳ Tổng Bí thư (1986-1991), ông cương quyết rút lui không ra ứng cử trong nhiệm kỳ tiếp theo, dù nhiều người muốn ông làm thành viên của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII sau khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI kết thúc vào năm 1991. Ông nói “dù không còn ở trong Trung ương nữa, nhưng với trách nhiệm là người đảng viên, tôi xin cố gắng cống hiến sự hiểu biết và kinh nghiệm nhỏ bé của mình cho cách mạng, cho Đảng cho đến hơi thở cuối cùng”. Tại các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) và lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996), ông được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương.

Ông là đại biểu Quốc hội khóa VIII.

Ông qua đời ngày 27 tháng 4 năm 1998, hưởng thọ 83 tuổi.

Từ 12 đến 19 tháng 7 năm 1983, trong lúc ba vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Chí Công đang nghỉ ở Đà Lạt, Nguyễn Văn Linh (lúc đó là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh) đã tổ chức “Hội nghị Đà Lạt” - Ông và một số Giám đốc các cơ sở kinh doanh sản xuất làm ăn có lãi đã trực tiếp gặp gỡ các vị lãnh đạo cấp cao (từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 7) để báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh và đề đạt nguyện vọng. Ngày 17 tháng 7, Nguyễn Văn Linh mời các vị lãnh đạo thăm cơ sở chế biến tơ tằm và xí nghiệp chè của Thành phố Hồ Chí Minh tại Bảo Lộc. Ngày 19 tháng 7, Nguyễn Văn Linh có buổi làm việc riêng với các vị lãnh đạo, ông đã báo cáo tất cả tâm tư mà cá nhân mình đang nung nấu. “Hội nghị Đà Lạt” diễn ra trong thời gian vừa đúng một tuần lễ. Nội dung tư tưởng của các cuộc gặp trong sự kiện này đã được Nguyễn Văn Linh vận dụng vào việc chuẩn bị văn kiện Đại hội Đảng VI của Đảng Cộng sản Việt Nam - Khởi xướng công cuộc Đổi mới của Việt Nam.

Vào giữa những năm 80 của thế kỷ 20, lúc còn là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh đã tiến hành thí điểm những đổi thay trong cơ chế quản lý kinh tế ở một số doanh nghiệp nhà nước tại thành phố đông dân nhất Việt Nam. Đây là những bước đột phá đầu tiên mặc dù chưa hoàn thiện nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp tồn tại ở Việt Nam trong nhiều năm. Đây cũng là những đòi hỏi và đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định đường lối, chính sách cho thời kỳ đổi mới.

Cuối tháng 5 năm 1987, trên trang nhất báo Nhân Dân xuất hiện một bút danh mới N.V.L với mục Nói và Làm. Ông viết một loạt bài "Những việc phải làm ngay", ký tên NVL. Theo lời kể của nhà báo Hữu Thọ:

Lúc đó tôi công tác ở báo Nhân Dân. Tối 24-5-1987 là phiên tôi trực ban biên tập. Vào khoảng 17 giờ 30, khi mọi người đã về, tòa soạn chỉ còn tôi và ban thư ký trực hôm đó thì đồng chí thường trực ở cổng 71 Hàng Trống đưa vào một phong thư nói là của một người đứng tuổi đi xe ôtô Lada màu sữa gửi ban biên tập. Tuy không đóng dấu hỏa tốc nhưng do phong bì của Văn phòng Trung ương nên tôi mở ngay. Trong phong bì có thư và một bài báo viết tay. Bức thư thì ký tên Nguyễn Văn Linh, nói rõ là gửi bài báo, nếu ban biên tập thấy được thì đăng. Còn bài báo có đầu đề “Những việc cần làm ngay”, ký tên NVL”- Hữu Thọ (https://ditichlichsuvanhoa.com/).

Từ năm 1986 đến 1991 trong nhiệm kỳ làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh đã góp phần có ý nghĩa quyết định làm xoay chuyển tình thế, mở đường cho sự nghiệp đổi mới tiến lên. Nhằm khắc phục những bất cập, lạc hậu của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp của Việt Nam, ông đã đưa ra những ý tưởng mới, quan niệm mới, cách làm mới. Kiên quyết làm gương về chống tác phong quan liêu, xa dân, từ bỏ những đặc quyền đặc lợi, ông đã bỏ chế độ lãnh đạo cấp cao đi máy bay chuyên cơ trong nước, đi công tác bằng xe Lada không có máy điều hoà (tiêu chuẩn dùng cho cấp Thứ trưởng); vào Nam ra Bắc đi máy bay chung với mọi người; cắt giảm chế độ bảo vệ an ninh,...

Quan điểm “Phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người chúng ta”- Bài diễn văn đọc trong phiên khai mạc Đại hội VI ngày 15 tháng 12 năm 1986

Ông cho rằng “báo chí là diễn đàn của mọi tầng lớp nhân dân”. Trong một bài đăng ngày 24 tháng 6 năm 1987, ông đề cập đến:

Từ sau Đại hội IV Đảng, Nhà nước phát động phong trào nói thẳng, nói thật, ai làm tốt thì khen, ai làm không tốt thì phê bình, sửa chữa. Văn kiện Đại hội VI đã yêu cầu đấu tranh chống các biểu hiện lạc hậu, trì trệ, biểu hiện tiêu cực khác và đưa công khai trên báo, đài hoặc qua các sinh hoạt của tổ chức Đảng và đoàn thể quần chúng những vụ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao mắc sai lầm nghiêm trọng về phẩm chất. Điều đó chỉ làm tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng”-NVL

Về vấn đề Đổi mới:

Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Đổi mới, Cách mạng, Sài Gòn, bao cấp, Chiến tranh biên giới,Đảng chủ trương đổi mới toàn diện, nhưng đổi mới phải có nguyên tắc, đúng định hướng XHCN với hình thức, bước đi và cách làm thích hợp, phát huy dân chủ, đồng thời giữ vững kỷ luật kỷ cương, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, kiên quyết chống tệ tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân(https://ditichlichsuvanhoa.com/).

Tác phẩm

  • Thành phố Hồ Chí Minh mười năm
  • Đổi mới tư duy và phong cách
  • Về công tác quần chúng
  • Đổi mới để tiến lên (4 tập)
  • Theo con đường Bác Hồ đã chọn 

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ 6 ngày 18/12/1986. (Ảnh: Minh Đạo/TTXVN)

Đánh giá

“Có thể nói Nguyễn Văn Linh đã có một vai trò sáng giá trong những năm đầu sau Đại hội Đảng lần thứ VI”- Chuyên gia sử kinh tế Đặng Phong “Hiếm có một nhà lãnh đạo nào đã trải qua những chặng đường như đồng chí đã trải qua: vào rồi lại ra, rồi lại được Trung ương bầu lại vào Bộ Chính trị. Dù lịch sử có những lúc phải đi qua những chặng đường gồ ghề, khúc khuỷu; phải trải qua những lựa chọn hết sức khó khăn, nhưng cuối cùng là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt của Đảng  ta: Đồng chí Mười Cúc - Nguyễn Văn Linh được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu năm 1986 bầu giữ chức Tổng Bí thư của Đảng” - Phạm Quang Nghị.

Trong cuộc đời mình, tôi chưa từng thấy vị lãnh đạo nào dám lội ngược dòng chính trị, ngược dòng lịch sử - lội ngược mà không chìm như anh Nguyễn Văn Linh... Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, đang nằm trong Bộ Chính trị thì đến cuối nhiệm kỳ, anh Linh đã xin rút rồi được phân công trở về làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh vào đúng thời kỳ cam go nhất. Anh đã vực dậy kinh tế TP, trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư. Mọi biến động, thăng trầm trong cuộc đời làm cách mạng, làm chính trị đi ngang qua anh và anh đón nhận tất cả với một thái độ bình thản đến lạ lùng”- Võ Trần Chí

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (nhiệm kỳ 1986-1991) là một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân, người bạn tin cậy của bạn bè quốc tế...Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Linh thật phong phú và oanh liệt. Dù ở đâu, làm gì, ở cương vị nào, đồng chí cũng hết lòng vì Đảng, vì dân, vững vàng trước mọi khó khăn thử thách, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ và có những đóng góp to lớn cho Đảng, cho cách mạng”- Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. (https://vi.wikipedia.org).

“Lịch sử Đảng ta, chưa ai như anh Nguyễn Văn Linh

Trong lịch sử của Đảng ta, tôi nghĩ chưa có trường hợp nào như anh. Anh vào Trung ương, là Ủy viên Trung ương 16 năm liên tục của nhiều khóa nhưng chưa tham gia họp ngày nào vì luôn ở trong chiến trường miền Nam lãnh đạo cuộc chiến tranh chống Mỹ!

Nguyễn Văn Linh hội tụ phẩm chất độc đáo của nhà lãnh đạo xuất sắc

Anh Linh học xong tiểu học rồi tham gia Cách mạng. Nhưng những ai đã làm việc với anh đều nhận thấy ở anh có kiến thức, sự hiểu biết và tầm nhìn sắc bén.

Là người tạo đột phá, giản dị và khiêm tốn

Toàn cảnh Khu Nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với tổng diện tích 4.685 m2Anh Linh là người đã tạo ra đột phá từ khi còn là Bí thư thành ủy TP.HCM. Cuộc họp ở Đà Lạt để thuyết phục Trung ương chấp thuận cho TP.HCM “phá rào”, “cởi trói” thành công là dấu ấn lớn trong sự nghiệp của anh Linh

Toàn cảnh khu nhà tưởng niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. . ( http://www.baohungyen.vn)

Anh không bao giờ nhận “thành tích” cho mình. Tính anh là vậy. Dù là Tổng bí thư, anh vẫn giải dị, khiêm tốn. Tôi được biết, cuối nhiệm kỳ, có nhiều ý kiến đề nghị anh làm tiếp nhiệm kỳ nữa, anh bảo: “Tôi nay đã ngoài 70, tuổi này khó tránh khỏi sai lầm được. Làm Tổng bí thư mà sai lầm thì hậu quả lớn lắm, thôi hãy để tôi rút…” Anh kiên quyết từ chối - Nguyễn Thọ Chân, nguyên Bộ trưởng Bộ LĐ-TB-XH (http://vietnamnet.vn, 01/07/2015).

“Đồng chí Nguyễn Văn Linh - người cộng sản mẫu mực, sáng tạo”, nhân dịp kỷ niệm 95 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1-7-1915 – 1-7-2010). Tại hội thảo, nhiều tham luận khoa học của các nhà chính trị, nhà nghiên cứu đã làm rõ tấm gương ngời sáng của người cộng sản Nguyễn Văn Linh, một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng.

Cống hiến hết mình: GS-TS Lê Hữu Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định, trong gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có những đóng góp lớn lao, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Sự mẫu mực của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh còn được biểu hiện rõ rệt ở đức tính liêm khiết, hy sinh, không ham hố quyền lực, địa vị.

Là kiến trúc sư trưởng của đổi mới: với loạt bài “Những việc cần làm ngay” đăng trên báo Nhân dân, đồng chí đã tạo một luồng sinh khí mới trong xã hội lúc đó, với tinh thần dân chủ, công khai, nói thẳng, nói thật, nói đi đôi với việc làm và được sự ủng hộ, hưởng ứng mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đồng chí đã đưa đất nước vượt qua hiểm nghèo của khủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thu được nhiều thành tựu quan trọng. 

Tượng đài Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ở TP. Hưng Yên  (Ảnh: TTXVN)

“Đồng chí Nguyễn Văn Linh - người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một kiểu mẫu về người đảng viên cộng sản rất mực kiên cường, trung thành, tận tụy, suốt đời chiến đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hành phúc của nhân dân… Con đường đi lên CNXH được chỉ ra trong Cương lĩnh năm 1991, cũng như những bài học về giữ vững nguyên tắc trong quan điểm, đồng thời linh hoạt trong sách lược, thực hiện đổi mới có nguyên tắc - đổi mới nhưng luôn giữ vững định hướng XHCN, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân… mà đồng chí góp phần nêu lên và chỉ ra có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quý giá đối với chúng ta ngày nay và đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước…”( http://www.sggp.org.vn/,- Sài Gòn giải phóng online 26/6/2010)

Phong tặng và vinh danh

* Tên ông được đặt cho nhiều đường, phố và các trường học ở nhiều nơi tại Việt Nam.

Đường Nguyễn Văn Linh được đặt ở Hà Nội (nối đoạn cắt Nguyễn Văn Cừ - Ngô Gia Tự với đường Nguyễn Đức Thuận), thành phố Hồ Chí Minh (nối Tân Thuận đến đoạn cắt quốc lộ 1A và tuyến đi Trung Lương), Đà Nẵng (nối sân bay Đà Nẵng với Võ Văn Kiệt), Cần Thơ (nối quốc lộ 91B với đường Quang Trung), Hải Phòng (nối Tôn Đức Thắng với Nguyễn Bỉnh Khiêm), Đồng HớiQuảng Bình (nối đường Lý Thường Kiệt với đường Hữu Nghị, phường Nam Lý)...

Một khu nhà tưởng niệm ông được xây dựng tại quê hương Hưng Yên của ông.( https://vi.wikipedia.org)

Gia đình

Phu nhân là bà Ngô Thị Huệ (sinh 1918, kết nạp Đảng năm 1936, hiện là Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh. Trước đó là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I đến khóa IV, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Tỉnh Vĩnh Long, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Sài Gòn, nguyên Vụ trưởng Vụ Cán bộ trực thuộc Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam). Hai ông bà có con gái đầu lòng tên Nguyễn Thi Hòa năm 1953, con gái thứ Nguyễn Thị Bình năm 1954 và con trai Nguyễn Hùng Linh (hay Nguyễn Văn Linh) khoảng năm 1957.

Tên Nguyễn Văn Linh thực chất là bí danh, và được đặt theo tên người con trai út của ông.

 (https://vi.wikipedia.org).

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1/7/1915 - 1/7/2015), sáng 27/4, tại thành phố Hưng Yên, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh Hưng Yên đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành tượng đài Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại quảng trường mang tên Người ở thành phố Hưng Yên. Tới dự có Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, các vị lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương, địa phương, gia đình Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cùng đông đảo bà con nhân dân Hưng Yên.

Những lẵng hoa tưởng niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trước bàn thờ Người nhân kỷ niệm 100 ngày sinh.  (Ảnh: Hội người họ Nguyễn Việt Nam)(http://honguyenvietnam.vn/)

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nêu rõ: “Trong gần 70 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn văn Linh trải qua nhiều vị trí lãnh đạo khác nhau, được Đảng, Nhà nước giao phó nhiều trọng trách, dù ở đâu, làm việc gì, ở cương vị lãnh đạo nào, đồng chí đều đem hết trí tuệ, sức lực để cống hiến cho Đảng và nhân dân, là tấm gương của một người cộng sản kiên cường, hoàn thành xuất sắc trọng trách được Đảng giao ở những thời điểm khó khăn của cách mạng, tấm gương của một nhà lãnh đạo luôn phấn đấu, giữ gìn đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, đặt lợi ích chung của cách mạng lên trên lợi ích cá nhân, luôn luôn học hỏi, trau dồi kiến thức, lắng nghe ý kiến đồng bào, đồng chí, quan tâm tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ và góp phần xây dựng đường lối của Đảng. Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một nhà lãnh đạo xuất sắc, trọn đời vì dân, vì nước, có công lao và uy tín lớn với đất nước nhân dân ta".

Chủ tịch nước khẳng định, đồng chí Nguyễn Văn Linh là tấm gương sáng ngời đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư (http://vov.vn/)

Sáng 30-6, lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (1-7-1915 – 1-7-2015) diễn ra long trọng tại Hưng Yên.

Trong diễn văn tại lễ kỷ niệm do ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tỉnh Hưng Yên tổ chức, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh:

“Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một tấm gương mẫu mực về phẩm chất, đạo đức của người cộng sản. Từ buổi đầu tiên tham gia cách mạng cho đến khi vĩnh biệt chúng ta, đồng chí đã giữ trọn danh hiệu cao quý của người đảng viên cộng sản, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc” (http://tuoitre.vn)

12.13. Nguyễn Lương Bằng (1904-1979) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách của Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam (1969-1979), Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô cũ (1952-1956), Tổng Thanh tra chính phủ (1956).

Ông sinh ngày 2 tháng 4 năm 1904, tại thôn Đông, xã Đoàn Lâm (nay là xã Thanh Tùng) huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, ông còn sử dụng bí danh Anh Cả, hoặc Sao Đỏ.

Tháng 12 năm 1925, ông được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Từ đấy ông và một số thanh niên yêu nước khác theo học lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn hướng dẫn.

Tháng 10 năm 1929, tại Hồng Kông ông được kết nạp vào An Nam cộng sản Đảng.

Tháng 5 năm 1931, ông bị mật thám bắt giải về giam ở bốt Catina Sài Gòn. Ít lâu sau, ông bị đưa xuống tàu biển Cờlôtdơsap chở ra Hải Phòng và đưa vào giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Cuối năm 1931, ông lại bị đưa về Hải Dương.

Tháng 6 năm 1932, tòa đề hình Hải Dương xử ông tù chung thân và chuyển về giam ở nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Cuối năm 1932, ông trốn thoát lên Vĩnh Yên, rồi về Thanh Miện (Hải Dương) hoạt động. Cuối năm 1933, khi đi công tác Bắc Giang, ông lại bị bắt, bị giam ở Hỏa Lò (đầu 1934). Tháng 5 năm 1935 bị đày lên nhà tù Sơn La.

Nguyễn Lương Bằng (https://vi.wikipedia.org)

Năm 1943, Đảng bố trí cho ông vượt ngục về làng Vạn Phúc (Hà Đông) gặp Hoàng Văn Thụ để nhận nhiệm vụ, ông được Đảng chỉ định làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác tài chính và công tác binh vận của Đảng; đồng thời được phân công hoạt động trong Mặt trận Việt Minh giữ chức Chủ nhiệm của Tổng bộ.

Chuẩn bị khởi nghĩa, Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh là Chủ tịch; Ban thường trực gồm 5 người, trong đó có Nguyễn Lương Bằng.

Sau Cách mạng tháng Tám, ông từng giữ chức vụ Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô cũ (1952-1956), Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, Tổng Thanh tra chính phủ (1956). Tháng 9 năm 1969 được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam.

Ông mất ngày 20 tháng 7 năm 1979

Trong suốt cuộc đời mình, ông đã hết lòng phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, không màng danh lợi

Gia đình

Ông kết hôn với bà Hà Thục Trinh. Hai người có bốn con gái có tên Tường Vân, Việt Liên, Hồng Châu, Thanh Mai. Vợ ông được xem là người đầu tiên trả lại biệt thự cho nhà nước Việt Nam sau khi ông mất.

Viết về Nguyễn Lương Bằng

"Đó là một cử chỉ vô tư tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen đáng kính mà chúng ta phải học tập”- Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc làm của ông Nguyễn Lương Bằng sau ngày Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công.

"Những bài học quý báu tiếp thu được trong những năm tháng làm việc dưới sự chỉ đạo của Anh mãi mãi theo tôi như những bạn đường, những trợ thủ tích cực trong suốt cuộc đời hoạt động ngoại giao của mình. Và như một định mệnh, ba mươi lăm năm sau, tôi trở thành người kế tục Anh ở cương vị Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô” - nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm.

"Ai thì tôi chưa biết chứ Anh thì rõ ràng là người thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư theo gương của Hồ Chí Minh vĩ đại. Anh theo Bác không phải bằng thuyết giảng về đạo đức mà bằng cách sống và chiến đấu theo phong cách hàng ngày của Người"- Nguyễn Thọ Chân, nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Bí thư Thành uỷ Sài gòn-Chợ Lớn

Tác phẩm: Anh Cả Nguyễn Lương Bằng (hồi ký), Nhà xuất bản CTQG, HN, 2005

Vinh danh

Để ghi nhận công lao của ông, nhà nước Việt Nam đã truy tặng Huân chương Sao Vàng cho ông. Một nhà tưởng niệm cũng được xây dựng tại quê hương ông.

Tên ông được đặt cho các phố ở Hà Nội (nối Tôn Đức Thắng với Tây Sơn thuộc quận Đống Đa), thành phố Hồ Chí Minh (nối Tân Mỹ và Hoàng Quốc Việt), Đà Nẵng (nối Nguyễn Văn Cừ và Tôn Đức Thắng) và đại lộ chính tại thành phố Hải Dương. (https://vi.wikipedia.org)

12.14. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (10 tháng 7 năm 191024 tháng 12 năm 1996) là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ông sinh tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Năm 1930, ông học luật tại Pháp và trở về nước năm 1933. Hành nghề luật sư khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ, ông luôn bảo vệ công lý, bênh vực người dân vô tội trước tòa án thực dân. Năm 1947, ông đã vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo... ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn gửi Chính phủ Pháp, đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950, bị giam ở Lai Châu rồi Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Sau đó ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn, là Phó chủ tịch Phong trào hòa bình Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và bị giam tại Phú Yên.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (https://vi.wikipedia.org)

Ông sinh tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Năm 1930, ông học luật tại Pháp và trở về nước năm 1933. Hành nghề luật sư khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ, ông luôn bảo vệ công lý, bênh vực người dân vô tội trước tòa án thực dân. Năm 1947, ông đã vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo... ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn gửi Chính phủ Pháp, đòi Chính phủ Pháp đàm phán với Chính phủ Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo. Năm 1948, ông tham gia Mặt trận Liên Việt và năm sau được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức và bị Pháp bắt tháng 6 năm 1950, bị giam ở Lai Châu rồi Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Sau đó ông lại tham gia phong trào đấu tranh hợp pháp, đòi hòa bình ở Sài Gòn - Chợ Lớn, là Phó chủ tịch Phong trào hòa bình Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1954, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt và bị giam tại Phú Yên.

Cuối tháng 11 năm 1961, luật sư Nguyễn Hữu Thọ về đến bắc Tây Ninh. Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ I Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức và luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch.

Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vào tháng 6 năm 1969, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn.

Năm 1976, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất.

Tháng 4 năm 1980, sau khi Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền Chủ tịch nước cho đến tháng 7 năm 1981.

Năm 1981, ông là Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho đến năm 1987, rồi là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tại đại hội năm 1988. Ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước khóa VII, VIII.

Ông được thưởng Huân chương Sao vàng năm 1993.

Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996.

Tác phẩm: "Gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng". Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

Vinh danh

Tên của ông được đặt cho các đường phố ở Hà Nội (nối Giải Phóng với đường Linh Đường), thành phố Hồ Chí Minh (nối Khánh Hội - cầu Bà Chiêm), Đà Nẵng (nối Nguyễn Tri Phương đến Võ Chí Công), Điện Biên Phủ (quốc lộ 12 đến điểm cắt Bế Văn Đàn),...

Tên của ông được đặt cho ngôi trường lớn ở quê hương ông (Bến Lức) THPT Nguyễn Hữu Thọ gần nhà văn hóa Bến lức.

Ngoài ra, Đền thờ Nguyễn Hữu Thọ đã được xây dựng ở quê hương ông nằm giữa nhà văn hóa huyện và ngôi trường mang tên ông.(https://vi.wikipedia.org)

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Nhà trí thức yêu nước vĩ đại

Bỏ phú quý theo cách mạng. Năm 1921, mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ từ giã quê hương, một mình vượt đại dương sang Pháp du học. Suốt 11 năm miệt mài đèn sách ở xứ người, năm 1933 ông tốt nghiệp cử nhân luật hạng ưu và trở về nước mở văn phòng luật tại Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ rồi Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1947 đến 1950, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tham gia vào nhiều phong trào yêu nước ở miền Nam như phong trào của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn, Mặt trận Liên Việt, rồi được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, tham gia lãnh đạo cuộc biểu tình chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đầu năm 1950. Tháng 2-1962, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ nhất. Tại đại hội, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến đấu đầy gian khổ hy sinh của đồng bào và chiến sĩ miền Nam.

Tháng 3-1964 Đại hội lần thứ hai Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam bầu luật sư làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Nhà trí thức yêu nước vĩ đại. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, với cương vị của mình, Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã góp phần to lớn động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, với sự có mặt của đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 6-6-1969 tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam, luật sư được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Với cương vị người đứng đầu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chủ tịch Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự chi viện sức người, sức của của đồng bào miền Bắc và sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của bạn bè quốc tế, bằng đức độ, tài năng và uy tín của mình, luật sư đã lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và cùng với Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam tập hợp, đoàn kết, động viên quân và dân miền Nam tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang, chính trị, ngoại giao, binh vận gay go và ác liệt vào bậc nhất trong thế kỷ XX chống đế quốc Mỹ xâm lược và ngụy quyền Sài Gòn theo lời kêu gọi thiêng liêng và phương châm chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra là: “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và đã giành được thắng lợi hoàn toàn, đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà.

Cuộc đời, sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là quá trình vận động từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản và gắn liền với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Luật sư là con người tiêu biểu của tình đoàn kết dân tộc, là một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong, lối sống giản dị, khiêm tốn, trong sạch, hy sinh vì nghĩa lớn, không khuất phục trước cường quyền, không sa ngã trước tiền tài danh lợi, vì lý tưởng cộng sản cao đẹp. Luật sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc, cho dân tộc. Như Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh đã đánh giá: “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ quả là một nhà trí thức yêu nước vĩ đại”

Với những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, luật sư Nguyễn Hữu Thọ được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của Đảng, Nhà nước ta và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

Luật sư cũng được Nhà nước Liên Xô (trước đây) tặng Giải thưởng quốc tế V.I. Lênin và Huân chương Hữu nghị vì sự nghiệp củng cố hòa bình giữa các dân tộc; Nhà nước Cuba tặng Huân chương Đoàn kết - chiến đấu; Nhà nước Bungari tặng Giải thưởng Đimitrốp; Hội đồng hòa bình thế giới tặng Huân chương Joliot Curie. (http://www.sggp.org.vn, 9/7/2010)

Nguyễn Duy Trinh.jpg12.15. Nguyễn Duy Trinh (1910 - 1985) nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Cố Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam.

Nguyễn Duy Trinh, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1910 trong một gia đình nông dân tại xã Nghi Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Năm 1925, ông đã tham gia phong trào học sinh đòi tự do hoạt động chính trị tại thành phố Vinh. Năm sau, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng đảng và được phái vào Sài Gòn hoạt động. Tại đây ông bị bắt và bị kết án 18 tháng tù. Hết hạn tù, ông bị chính quyền trục xuất về miền Trung. Tại quê nhà ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Thời kỳ 1930 - 1931, ông lại bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, sau chuyển về Kon Tum. Tại đây, năm 1941, ông cùng một số bạn tù vượt ngục nhưng bị bắt lại.

Nguyễn Duy Trinh  (https://vi.wikipedia.org)

Tại Đại hội Đảng lần thứ II (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và đến tháng 8 năm 1955 đảm nhiệm chức vụ Bí thư TƯ Đảng. Ông là uỷ viên Bộ chính trị Trung ương Đảng suốt từ năm 1956 đến năm 1982. Tại Đại hội Đảng lần thứ V (1982) ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi mất.

Ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Chánh Văn phòng Trung ương Đảng (cuối năm 1954), Bộ trưởng Phủ Thủ tướng (1958), Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1963 - 1965) và là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lâu nhất Việt Nam (1965 -1980). Đây là thời kỳ khó khăn, gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang, hào hùng và oanh liệt của dân tộc. Chính trong thời gian đó, mặt trận đối ngoại đã giành được những thắng lợi vẻ vang với đỉnh cao là quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh Việt Nam. Sau khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, tiến hành công cuộc tái thiết sau hơn 30 năm bị tàn phá bởi các cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử dân tộc; vừa tranh thủ sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa và cộng đồng thế giới, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận. Chính trong thời kỳ đó, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.

Sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (năm 1980) ông tham gia vào Ban nghiên cứu chiến lược kinh tế-xã hội của TƯ Đảng và Chính phủ (1982).

Ông còn là Đại biểu Quốc hội Việt Nam suốt từ khóa I đến khóa VII.

  • Nguyễn Duy Trinh đóng góp tích cực vào việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế trong hoàn cảnh có sự bất đồng sâu sắc trong phe XHCN. Việc đàm phán ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973 có công lao của ông và thay mặt phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký chính thức vào Hiệp định Paris về Chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. (https://vi.wikipedia.org/)

Nhà ngoại giao xuất sắc

Đóng góp lớn nhất của đòng chí Nguyễn Duy Trinh cho cách mạng là thành công của quá trình đàm phán Paris giữa Mỹ và Việt Nam từ tháng 5/1967 đến tháng 1/1973, trong thời gian đồng chí làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, phụ trách toàn bộ mặt trận ngoại giao.

Các vòng đàm phán tại Hội nghị Paris từ tháng 5/1968 đến tháng 1/1973 là cuộc đấu trí giữa nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường với nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Sau gần năm năm đấu trí, đấu bản lĩnh với hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, cuộc đàm phán kết thúc bằng việc ký kết chính thức Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ngày 27/1/1973. Hiệp định Paris là chiến thắng của một nền ngoại giao cách mạng, buộc Mỹ rút quân khỏi miền nam Việt Nam, tạo ra thế và lực mới cho cách mạng nước ta, tiến tới Đại thắng năm 1975.

 

Trong thời kỳ xây dựng lại đất nước sau hơn 30 năm chiến tranh tàn phá, ngành ngoại giao Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Duy Trinh vừa tranh thủ sự hỗ trợ của các nước XHCN và cộng đồng thế giới, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận. Chính trong thời kỳ khó khăn ấy, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Liên hợp quốc, đánh dấu việc cộng đồng thế giới công nhận tính pháp lý và tư cách đại diện của Nhà nước ta tại tổ chức đa phương lớn nhất toàn cầu này. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã thay mặt Đảng và Nhà nước ta tham gia Lễ thượng cờ tại Trụ sở Liên hợp quốc tháng 7/1977.

Ông Nguyễn Duy Trinh ký hiệp định Pari  (http://baotintuc.vn)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng viết về đồng chí Nguyễn Duy Trinh: "Qua công tác đối ngoại, Anh thể hiện là một nhà ngoại giao xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta... Đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, người học trò trung thành và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tấm gương chiến đấu và phẩm chất cách mạng, đức tính khiêm tốn và tình thương yêu chân thành đối với đồng chí, đồng bào của Anh đã để lại cho chúng ta nhiều tình cảm tốt đẹp và sâu sắc" (Trích theo Nguyễn Duy Trinh, Hồi ký và tác phẩm, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr 105) - http://baotintuc.vn, 15/07/2015)

Tặng thưởng, tôn vinh

12.16. Đỗ Mười - Nguyễn Duy Cống,

Họ và tên: Nguyễn Duy Cống

Tên gọi khác: Đỗ Mười

Ngày sinh: 02/02/1917

Ngày mất: 01/10/2018

Quê quán: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Đỗ Mười - Nguyễn Duy Cống (https://dangcongsan.vn/)

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Là một thanh niên yêu nước sớm giác ngộ cách mạng, năm 19 tuổi, ông đã tham gia hoạt động trong phong trào Mặt trận bình dân. Năm 1939, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. 

 

Đỗ Mười - Nguyễn Duy Cống (https://dangcongsan.vn/)

 

Text Box: Đỗ Mười - Nguyễn Duy Cống (https://dangcongsan.vn/)

Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 10 năm tù giam tại Hoả Lò - Hà Nội. Tháng 3/1945, ông vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia Tỉnh uỷ Hà Đông, trực tiếp lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Đông. Sau tháng Tám 1945 ông giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông Đỗ Mười lần lượt đảm nhận các công tác khác nhau tại các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Liên khu III; Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam; Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Nam Định; Khu uỷ viên Khu III kiêm Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình; Phó Bí thư liên Khu uỷ III kiêm Phó Chủ tlch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III; chính uỷ Bộ Tư lệnh Liên khu III; Bí thư Khu uỷ tả ngạn Sông Hồng kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính và Chính uỷ Bộ Tư lệnh Khu tả ngạn Sông Hồng. 

Năm 1955, ông là Bí thư Thành uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban quân chính thành phố Hải Phòng. 
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 3/1955), ông được bầu bổ sung làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II. 

Năm 1956, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội thương. 

Năm 1958, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương. Ông là đại biểu Quốc hội khoá II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. 

Tháng 9/1960, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ông Đỗ Mười được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 

Từ năm 1961 đến 1969, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ: Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn thanh tra của Chính phủ. 

Từ 1969 đến 1971, ông được cử giữ chức Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng. 

Năm 1971, ông được bầu là đại biểu Quốc hội khoá IV, được Quốc hội bầu giữ chức Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Uỷ ban kiến thiết cơ bản. Từ tháng 6/1973 đến tháng 11/1977, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Xây dựng, đại biểu Quốc hội khoá V, VI. 

Tháng 12/1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, ông Đỗ Mười được bầu vào Ban Chấp Chấp hành Trung ương và Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị tiếp tục giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 1976 - 1981. 

Tháng 7/1981, ông là đại biểu Quốc hội khoá VII và được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Tháng 3/1982, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. 

Tháng 12/1986, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trưng ương, Uỷ viên Bộ Chính trị và Thường trực Ban Bí thư. Đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá VIII. 

Tháng 6/1988, Quốc hội khoá VIII bầu ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và VIII ông Đỗ Mười được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6/1991 - 12/1997). Đồng chí là đại biểu Quốc hội khoá IX. 

Tháng 12/1997, ông Đỗ Mười được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá VIII) được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Ông Đỗ Mười qua đời ngày 01/10/2018 tại Hà Nội./.(https://daihoi13.dangcongsan.vn/)

Danh hiệu: Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam), được trao ngày 25/1/2014 (https://vi.wikipedia.org).

12.17. Nguyễn Đức Nguyện tức Lê Quang Đạo (1921-1999) là một chính khách của Việt Nam, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt NamPhó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (1987-1992). Ông cũng từng là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, cấp bậc Trung tướng.

Trung tướng Lê Quang Đạo.jpgÔng tên thật là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ngày 8 tháng 8 năm 1921, quê phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là cụ Nguyễn Đức Cung (Cụ Thơ La), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Lạc.

Quá trình hoạt động cách mạng

  • 1938, ông hoạt động trong phong trào Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội.
  • Tháng 8 năm 1940, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8-1940, chi bộ Cộng sản Đình Bảng được thành lập tại Đền Đô nơi thờ Lý Bát Đế, ông được tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ Cộng sản đầu tiên của quê hương Đình Bảng. Ông cùng người cậu ruột của mình là Nguyễn Duy Thân cùng hoạt động cách mạng. Giữa năm 1941, ông thoát ly công tác cách mạng, là Bí thư Ban cán sự Đảng của huyện Từ Sơn.
  • 1941-1942, ông là Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Đầu năm 1942, xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên do ông làm Bí thư.
  • Nguyễn Đức Nguyện tức Lê Quang Đạo (https://vi.wikipedia.org)

1943-1945, ông là Bí thư Ban cán sự Đảng Thành phố Hà Nội được thực dân Pháp đặt bí danh Đốc lý đỏ Ngoài ra ông còn là Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, biên tập viên các báo "Cứu quốc", "Cờ giải phóng", phụ trách báo "Quyết thắng" và các lớp đào tạo cán bộ Việt Minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám. Ông còn được giao nhiệm vụ trực tiếp giảng bài ở các lớp bồi dưỡng lý luận về Đảng và công tác cách mạng cho các nhóm cốt cán của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội và Hội Văn hóa Cứu quốc.< >Từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1946, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc GiangBí thư Thành ủy Hải Phòng.Bí thư Thành ủy Hà Nội (từ tháng 4 đến giữa năm 1946), Phó Bí thư Khu ủy khu XI, Bí thư Thành ủy Hà Nội (tháng 11 năm 1947), Bí thư liên tỉnh Hà Nội-Hà Đông.

Hoạt động trong quân đội

28 năm trong quân đội, Lê Quang Đạo đã đem hết tài năng, và sức lực, tâm hồn và trí tuệ xây dựng và chỉ đạo ngành Tuyên huấn quân đội. Ông là một nhà hoạt động tư tưởng và văn hoá xuất sắc của quân đội và của Đảng

Chuyển sang công tác dân sự

  • Tháng 6 năm 1978, ông làm Phó Bí thư Thành ủy kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hà Nội. Là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, ông đã cùng tập thể Thường vụ Thành ủy lo chạy gạo, mỳ, chất đốt... cho nhu cầu tối thiểu của người dân. Để tiết kiệm cho công quỹ thành phố, ông đi bộ từ nhà đến cơ quan mang theo một cà mèn cơm như cán bộ nhân viên thời đó. Trong gian nan, ông đã dành nhiều công sức đi xuống các trường đại học, các viện nghiên cứu, nhà máy, xí nghiệp, gặp gỡ lắng nghe ý kiến ở cơ sở để có cái nhìn toàn diện, cụ thể về sự phát triển Thủ đô và từng bước tháo gỡ những khó khăn. Thực tế sinh động là căn cứ quan trọng để ông sớm nhìn nhận ra và đồng tình với quan điểm đổi mới của Trường Chinh trong dự thảo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, vì đó là thời kỳ khởi đầu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của đất nước.

Công tác Trung ương

Ông mất ngày 24 tháng 7 năm 1999 tại Hà Nội.

Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.

Tên ông đặt cho đường phố ở Hà Nội (nối Lê Đức Thọ với Đại lộ Thăng Long), Huế (từ đường Tố Hữu - phường An Đông), Đà Nẵng (đoạn cắt Phan Tứ đến đoạn cắt Nguyễn Văn Thoại). Dự kiến Thành phố Hồ Chí Minh có đường mang tên ông (https://vi.wikipedia.org/)

12.18. Văn Cao (15 tháng 11, 192310 tháng 7, 1995) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của Tiến quân ca, quốc ca của Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những gương mặt quan trọng nhất của tân nhạc. Văn Cao còn là một họa sĩ, nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị.

Văn Cao (https://vi.wikipedia.org/)

Thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong, Văn Cao tham gia nhóm Đồng Vọng, sáng tác các ca khúc lãng mạn Bến xuân, Suối mơ, Thiên Thai, Trương Chi... ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Sau khi gia nhập Việt Minh, Văn Cao viết Tiến quân ca, Trường ca Sông Lô, Tiến về Hà Nội... trở thành nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc kháng chiến. Sau vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm, Văn Cao phải đi học tập chính trị. Trừ Tiến quân ca, ca khúc của ông cũng giống như các nhạc phẩm tiền chiến khác, không được lưu hành ở miền Bắc. Đến cuối thập niên 1980, những nhạc phẩm này mới được biểu diễn trở lại. Năm 1996, một năm sau khi mất, Văn Cao được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt trao giải đầu tiên. Ông cũng đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Độc lập hạng nhất

Tên ông cũng được đặt cho nhiều con phố đẹp ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Nam Định.

Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray (nay là phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền), thành phố Hải Phòng, nhưng quê gốc ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình viên chức, cha của Văn Cao vốn là giám đốc nhà máy nước Hải Phòng. Thuở nhỏ, Văn Cao học ở trường tiểu học Bonnal, sau lên học trung học tại trường dòng Saint Josef, là nơi ông bắt đầu học âm nhạc. Năm 1938, khi mới 15 tuổi, vì gia đình sa sút, Văn Cao bỏ học sau khi kết thúc năm thứ hai bậc thành trung. Ông làm điện thoại viên ở sở Bưu điện tại Hải Phòng, nhưng được một tháng thì bỏ việc.

Cuối những năm 1930, tân nhạc Việt Nam ra đời. Ở Hải Phòng khi đó tập trung nhiều nhạc sĩ tiên phong như Đinh Nhu, Lê Thương, Hoàng Quý... Văn Cao tham gia vào nhóm Đồng Vọng của Hoàng Quý cùng Tô Vũ, Canh Thân, Đỗ Nhuận... và bắt đầu sáng tác ca khúc đầu tay là Buồn tàn thu vào năm 16 tuổi. Cùng nhóm Đồng Vọng, Văn Cao còn sáng tác một số ca khúc hướng đạo vui tươi khác như Gió núi, Gò Đống Đa, Anh em khá cầm tay. Cũng trong thời gian ở Hải Phòng, Văn Cao làm quen với Phạm Duy, khi đó là ca sĩ trong gánh hát Đức Huy. Phạm Duy chính là người đã hát Buồn tàn thu, giúp ca khúc trở nên phổ biến. Năm 1940, Văn Cao có một chuyến đi vào miền Nam. Ở Huế, Văn Cao đã viết Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, được coi là bài thơ đầu tay

Năm 1942, nghe theo lời khuyên của Phạm Duy, Văn Cao rời Hải Phòng lên Hà Nội. Ông thuê căn gác nhỏ số 171 phố Mongrant - nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền - và theo học dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Văn Cao còn làm thơ, viết truyện đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy. Năm 1943 và 1944, Văn Cao hai lần xuất hiện trong triển lãm Salon Unique tổ chức tại nhà Khai trí Tiến Đức, Hà Nội với các bức tranh sơn dầu: Cô gái dạy thì, Sám hối, Nửa đêm. Đặc biệt tác phẩm Cuộc khiêu vũ những người tự tử (Le Bal aux suicidés) được đánh giá cao và gây chấn động dư luận. Tuy được báo chí khen ngợi, nhưng tranh của Văn Cao không bán được. Ông trải qua một thời gian dài ở Hà Nội trong thiếu thốn. Cùng bạn bè, Văn Cao thường phải đứng bán các tác phẩm của mình trên các đường phố Hà Nội, Hải Phòng.

Cuối năm 1944, Văn Cao gặp lại Vũ Quý, một Việt Minh mà ông đã quen biết trước đó. Vũ Quý thuyết phục ông tham gia Việt Minh, với nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác một hành khúc. Văn Cao đã sáng tác ca khúc đó trong nhiều ngày tại căn gác số 171 phố Mongrant và đặt tên cho tác phẩm là Tiến quân ca. Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Văn Cao tiếp tục tham gia hoạt động trong đội Trừ gian của Việt Minh. Ông viết và phụ trách ấn loát cơ quan Phan Chu Trinh, in sách báo, truyền đơn. Vào cuối mùa xuân năm 1945, Văn Cao đã có mặt trực tiếp tham dự vụ ám sát nổi tiếng, đó là vụ giết ông Đỗ Đức Phin tại Hải Phòng, người bị Việt Minh kết án là Việt gian theo Nhật. Sau vụ ám sát, Văn Cao tạm lánh một thời gian để tránh mật thám Pháp và Nhật theo dõi. Trở về Hà Nội, Văn Cao còn tiếp tục tham gia vụ ám sát Cung Đình Vận ở gần rạp hát cuối phố Huế nhưng không thành công do ông bắn trượt

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Văn Cao làm phóng viên và trình bày cho báo Lao Động.

Năm 1946, Văn Cao được cử cùng Hà Đăng Ấn chuyên chở vũ khí và tiền vào mặt trận Nam Bộ. Sau đó chính thức được mời tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc và được bầu là Ủy viên Chấp hành, Văn Cao hoạt động ở liên khu III, phụ trách tổ điều tra của công an Liên khu và viết báo Độc Lập. Đầu năm 1947, ông được cử phụ trách một bộ phận điều tra đặc biệt của công an Liên khu 10 ở biên giới phía bắc. Tại đây ông được giao nhiệm vụ kết nghĩa với vua Mèo để lập ra một phòng tuyến bảo mật chống sự tràn sang của quân Trung Hoa Quốc dân Đảng khi thua trận. Ở Lào Cai, Văn Cao còn mở một quán bar để làm địa điểm theo dõi. Tháng 3 năm 1948, Văn Cao được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1949, Văn Cao thôi làm báo Văn Nghệ chuyển sang phụ trách Đoàn Nhạc sĩ Việt Nam. Thời kỳ này, ông tiếp tục sáng tác các ca khúc nổi tiếng khác như Làng tôi (1947), Ngày mùa (1948), Tiến về Hà Nội (1949)... và đặc biệt là Trường ca Sông Lô năm 1947.

Sau hiệp định Genève 1954, Văn Cao hồi cư về Hà Nội, làm việc cho Đài Phát thanh, nhưng rất ít sáng tác. Năm 1955, ông cầm bút trở lại, viết bài cho đặc san Giai Phẩm. Tháng 2 năm 1956, bài thơ Anh có nghe không được đăng trên Giai phẩm mùa Xuân. Bài thơ này bị Xuân Diệu đánh giá là "lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì". Văn Cao cùng các nghệ sĩ của hai tờ báo Nhân Văn và Giai Phẩm khi đó chủ trương đòi hỏi tự do văn nghệ, sáng tác. Đến tháng 12 năm 1956 thì cả hai tờ báo đều bị đình bản.

Như những nghệ sĩ khác của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm, tuy có muộn hơn, đến tháng 7 năm 1958, Văn Cao phải đi học tập chính trị. Tên tuổi của Văn Cao hầu như không còn xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ ở Hà Nội. Những năm sau đó, Văn Cao tiếp tục bằng nhiều công việc, như viết nhạc không lời cho các truyện phim và truyện kịch, trang trí sân khấu cho các đoàn kịch, vẽ quảng cáo các báo, vẽ nhãn diêm... Các tác phẩm của ông, cũng như các ca khúc lãng mạn tiền chiến khác, không được trình diễn ở miền Bắc, trừ bài quốc ca. Giai đoạn này, Văn Cao hầu như không còn sáng tác. Đến cuối năm 1975, Văn Cao viết Mùa xuân đầu tiên, nhưng ca khúc bị phê bình là không đi đúng đường lối của Đảng, không phục vụ cho Cách Mạng, vì thế bản nhạc mới phát hành đã bị tịch thu. Nhưng các chương trình Việt Ngữ tại Moskva vẫn cho trình bày bài hát, và nhờ vậy Mùa xuân đầu tiên đã không bị lãng quên. Văn Thao, người con trai của Văn Cao, tiết lộ tiếp rằng:

“Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.”

Năm 1981, Việt Nam phát động phong trào cả nước thi sáng tác quốc ca nhưng sau đó không công bố kết quả, cuộc thi cũng không được nhắc lại. Bài Tiến quân ca vẫn là quốc ca của Việt Nam. Cho đến cuối thập niên 1980, nhờ chính sách Đổi mới của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, các tác phẩm của Văn Cao cùng những nhạc sĩ tiền chiến khác được biểu diễn trở lại.

Kết quả hình ảnh cho ảnh của nhạc sĩ Văn Cao đang ngồi trầm tư bên chiếc đàn dương cầm của ôngNăm 1989, tạp chí National Geographic đã đăng một bức ảnh của nhạc sĩ Văn Cao đang ngồi trầm tư bên chiếc đàn dương cầm của ông. Chính tấm hình này sau đó đã tạo cảm hứng để nhà soạn nhạc đương đại người Mỹ Robert Ashley sáng tác nên bản solo cho piano mang tên Van Cao's Meditation vào năm 1992, dù rằng cho đến tận khi Văn Cao qua đời (1995) thì Robert Ashley vẫn chưa một lần gặp mặt tác giả của Tiến quân ca.

Ngày 10 tháng 7 năm 1995, sau một thời gian mắc bệnh ung thư phổi, Văn Cao qua đời tại bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội.

Văn Cao bên chiếc đàn dương cầm (https://www.google.com.vn/)

Sự nghiệp âm nhạc

So với hai nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng khác là Phạm Duy khoảng 1000 ca khúc và Trịnh Công Sơn với 600 ca khúc, Văn Cao sáng tác không nhiều. Sự nghiệp âm nhạc của Văn Cao được chia làm hai mảng chính: tình ca và hùng ca. Ngoài ca khúc, ông còn viết một số tác phẩm khí nhạc dành cho piano như Sông TuyếnBiển đêmHàng dừa xa... tổ khúc giao hưởng Anh bộ đội cụ Hồ...

Tình ca

Trong giai đoạn sáng tác đầu tiên, giống như những nhạc sĩ tiền chiến khác, Văn Cao viết các nhạc phẩm trữ tình, nhưng ít ảnh hưởng bởi chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà mang nặng âm hưởng phương Đông. Từ ca khúc đầu tay Buồn tàn thu, Văn Cao đã sử dụng ngũ cung để viết về một hình ảnh quen thuộc trong nghệ thuật châu Á: người phụ nữ đan áo ngồi chờ đợi. Sau Buồn tàn thu, ông còn viết hai ca khúc khác về mùa thu là Thu cô liêu và Suối mơ. Trong đó Suối mơ vốn là một đoạn của bản Trương Chi 1 được Văn Cao phát triển thêm và cùng Phạm Duy hoàn tất. Bản Trương Chi 1 nổi tiếng sau là Trương Chi 2.

Bên cạnh đề tài mùa thu, Văn Cao cũng viết hai ca khúc nổi tiếng khác về mùa xuân là Cung đàn xưa và Bến xuân. Nhạc phẩm Bến xuân có sự tham gia của Phạm Duy, nhưng về sau Văn Cao viết lại lời mới cho ca khúc này và đặt tên Đàn chim Việt. Ngay từ những ca khúc đầu tiên, Văn Cao đã giành được thành công. Buồn tàn thu được biểu diễn trên các sân khấu hát rong và trên Đài Phát thanh Sài Gòn trong những năm 1944-1945, lúc tân nhạc còn mới phôi thai nên trở nên phổ biến. Suối mơBến xuân được Phạm Duy đánh giá là cực điểm của lãng mạn tính trong ca nhạc Việt Nam.

Nhưng hai tình khúc của Văn Cao được đánh giá cao hơn cả là Thiên Thai và Trương Chi. Bản Thiên Thai được nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế in năm 1944, Văn Cao tự nhận mình là "Người sông Ngự", ghi: "Ảnh hưởng sông nước khúc Thiên Thai cổ trong khung cảnh huyền diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên Thai và Đào Nguyên. Người sông Ngự đã lạc mất cảm xúc rồi!". Lời bài hát được đề là của Văn Cao, Hoàng Thoái và Phạm Duy cho rằng Hoàng Thoái là bí danh của Đỗ Hữu Ích, một người bạn của Văn Cao. Sử dụng ngũ cung để viết về một câu chuyện cổ, Thiên Thai có tới 94 khuông nhạc, vừa mang tính trường ca, vừa mang tính nhạc cảnh. Năm 2001, khi phim Người Mỹ trầm lặng được thực hiện, Thiên Thai được sử dụng làm nhạc nền của bộ phim. Giống như Thiên ThaiTrương Chi cũng dựa trên tích chuyện cổ nhưng không phải là một truyện ca mà manh tính tự sự. Ca khúc này còn một đoạn lời nữa mà các ca sĩ thưởng không trình diễn: Từ ngày trăng mơ nước in thành thơ, Lạc loài hương thu thoáng vương đường tơ.... Hình ảnh Trương Chi trong bài hát cũng thường được so sách với hình ảnh của chính Văn Cao.

Hùng ca

Ngay từ khi còn trong nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng, Văn Cao đã viết các ca khúc hướng đạo khoẻ khoắn. Cũng giống như các nhạc sĩ tiến chiến khác, Văn Cao sử dụng đề tài lịch sử để thể hiện tình ái quốc trong Gò Đống ĐaHò kéo gỗ Bạch Đằng Giang... Ngoài Tiến quân ca, ông còn sáng tác các hành khúc khác như Tiến về Hà NộiThăng Long hành khúc ca. Tham gia Việt Minh, Văn Cao sáng tác các ca khúc Chiến sĩ Việt NamCông nhân Việt NamKhông quân Việt Nam...

Năm 1947, sau chiến thắng sông Lô, Văn Cao viết Trường ca Sông Lô, ca khúc ghi dấu ấn trong lịch sử tân nhạc. Phạm Duy viết: "Đó là tác phẩm vĩ đại... chẳng thua bất cứ một tuyệt phẩm nào của nhạc cổ điển Tây phương... Bài này đánh dấu sự trưởng thành của Tân nhạc". Cũng theo ý kiến của Phạm Duy, Trường ca sông Lô là đỉnh cao nhất của nhạc kháng chiến nói riêng, của tân nhạc Việt Nam nói chung và Văn Cao là "cha đẻ" của hùng ca, trường ca Việt Nam.

Sau năm 1954, các ca khúc của Văn Cao, trừ Tiến quân ca, không được trình diễn ở miền Bắc. Nhưng ở miền Nam, các ca sĩ hàng đầu của Sài gòn như Thái Thanh, Khánh Ly, Hà Thành vẫn trình diễn và ghi âm nhạc phẩm của Văn Cao.

Năm 1981, Việt Nam phát động phong trào cả nước thi sáng tác quốc ca nhưng sau đó không công bố kết quả, cuộc thi cũng không được nhắc lại. Bài Tiến quân ca vẫn là quốc ca của Việt Nam. Cho đến cuối thập niên 1980, nhờ chính sách Đổi mới của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, các tác phẩm của Văn Cao cùng những nhạc sĩ tiền chiến khác được biểu diễn trở lại.

Hội họa

Cùng với Thái Bá VânTạ Tỵ là một trong số ít những người bạn thân quen có hiểu biết sâu về tài năng hội họa của Văn Cao. Trong hồi ký của ông, Tạ Tỵ nhắc lại quãng thời gian đầu khi Văn Cao đến với hội họa: “Văn Cao khi ở Hải Phòng, khi lên Hà Nội, mỗi lần có mặt ở thành phố, Văn Cao thường đến tìm tôi mời lại căn nhà ở trong con ngõ nhỏ đường Hàm Long để khoe tranh mới. Trong khoảng thời gian từ 42 đến 45, tôi đâu biết Văn Cao đã dấn thân vào cách mạng, hoạt động bí mật cho Mặt Trận Việt Minh. Quả thật tôi không để ý đến cách mạng và chính trị nên thường có những lập luận đối nghịch với Văn Cao về sáng tác. Văn Cao cho rằng nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho số đông và một bức tranh đẹp phải truyền cảm, gây được ấn tượng tốt cho người xem tranh. Còn tôi cho rằng nghệ thuật, bất cứ ở bộ môn nào, trước hết, phải có bản sắc cũng như đặc tính của nghệ phẩm. Một bức tranh đẹp không cần sự giải thích, chỉ cần sự cảm thông giữa người xem tranh và tác phẩm (...) Nhưng tuy miệng nói vậy, chứ Văn Cao vẽ cũng mới lắm; những bản nhạc như Buồn Tàn Thu, Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi, v.v... được in ra đều do Văn Cao trình bày bìa đi rất gần với trường họa lập thể, mà hồi đó chưa có một bản nhạc nào, cuốn sách nào trình bày dưới hình thức đó.”

Một điều không may mắn là do nhiều lý do (như trách nhiệm của những người lưu giữ và điều kiện bảo quản hạn chế trong nhiều năm chiến tranh ở Việt Nam) mà danh mục các sáng tác trong sự nghiệp hội họa của Văn Cao đã không được liệt kê chi tiết như các tác phẩm âm nhạc và thơ của ông. Bởi vậy nhiều người muốn tìm hiểu về tài năng hội họa của Văn Cao không có mấy điều kiện tiếp xúc trực tiếp với những sáng tạo hội họa của Văn Cao, và hầu như chỉ có thể căn cứ vào những ý kiến phê bình của các bạn văn nghệ đương thời của ông như Tạ Tỵ và Thái Bá Vân.

Tính dự báo trong những sáng tác của Văn Cao

Nhiều người nghiên cứu sâu về Văn Cao (trong đó có bạn vong niên của ông là nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha và con trai trưởng của Văn Cao là họa sĩ Văn Thao) thường nhắc tới khả năng đưa ra những tiên tri hay dự đoán đến mức chính xác đáng kinh ngạc trong những sáng tác âm nhạc của ông. Nhiều sự kiện đã xảy ra trong các tác phẩm của Văn Cao trước khi chúng được ghi nhận trong thực tế lịch sử Việt Nam thế kỷ ông đã sống. Một số tác phẩm điển hình là Không quân Việt Nam và Tiến về Hà Nội.

Những năm cuối đời

Theo những người thân và bạn bè kể lại thì sức khỏe của Văn Cao suy yếu nhanh trong những năm cuối đời. Ông không còn ăn được cơm mà chuyển sang ăn loại bột ngũ cốc thường dành cho trẻ em do các cơ quan nội tạng bị hư hỏng nặng. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ bỏ được thú vui uống rượu có từ thời trẻ.

Ngày 10 tháng 7 năm 1995, sau một thời gian mắc bệnh ung thư phổi, Văn Cao mất tại bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội.

Gia đình

Văn Cao kết hôn cùng bà Nghiêm Thúy Băng năm 1947, có với nhau 5 người con, 3 trai đầu và 2 gái cuối.

Tính cách

Những người từng tiếp xúc với Văn Cao, dù ở mức độ thân quen hay nổi tiếng khác nhau, đều có ghi nhận khá tương đồng về ông. Đó là một người thân hình gầy nhỏ, thâm trầm, thường trầm tư một mình, sâu sắc trong giao tiếp, không có xu hướng thích lớn tiếng hay lên giọng bậc trên trong những cuộc chuyện trò. Những người từng đối thoại với ông, dù quen biết hay không quen, nổi tiếng hay không nổi tiếng, đều ghi nhận ở Văn Cao khả năng đưa ra những nhận định rất kiệm lời nhưng với sự chính xác và sắc sảo của ngôn từ đến độ ít ai nghĩ tới. Họ cũng ghi nhận ở Văn Cao tính cách khiêm tốn, luôn biết lắng nghe người đối thoại và cũng ít khi nói đến những gì thuộc về thành tựu sự nghiệp cá nhân ông, trừ khi người khác muốn tìm hiểu. Người ta đôi khi vẫn lấy Phạm Duy và Văn Cao để so sánh những khác biệt đến mức tưởng như đối lập trong cá tính giữa hai con người thường được ví như đôi bạn tri kỷ hiếm có trong nền âm nhạc Việt Nam hiện đại. Ngoài Phạm Duy, những người được coi là bạn gần gũi lâu năm của Văn Cao là Thái Bá Vân và Nguyễn Thụy Kha.

Đối lập với một Văn Cao thời trai trẻ có vẻ nhút nhát, rụt rè trong giao tiếp với phụ nữ là một Văn Cao của những hành động quyết đoán trong những năm sôi động của lịch sử Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, như lời thuật lại của con trai ông sau này: "Văn Cao học võ từ năm 9 tuổi. Thời trai trẻ ở Hải Phòng, Văn Cao đã nhiều lần lên võ đài thi đấu và biểu diễn võ thuật. Với Văn Cao việc phải trừ khử một người là điều ông không hề muốn. Nhưng vì nhiệm vụ cách mạng, vì sự sống của muôn người nên bắt buộc ông phải ra tay tiêu diệt những tên Việt gian ngoan cố. Ta có thể hiểu ông qua những câu thơ ông để lại: "Giữa sự sống và cái chết/ Tôi chọn sự sống/ Để bảo vệ sự sống/ Tôi chọn sự chết". Trong Văn Cao có hai con người. Con người của nghệ thuật và con người làm cách mạng. Nhiều người muốn tìm hiểu phần con người thứ hai của ông. Nhất là những sự kiện mọi người gọi là "thành tích phi thường" ông đã làm trong thời gian phụ trách Đội trừ gian. Ông thường né tránh và ít khi nhắc đến. Có lần ông tâm sự với tôi: "… Bố đã từng giết một con người… Ông ta nhìn vào họng súng, nhìn bố với đôi mắt ngơ ngác như muốn hỏi - Sao lại giết tôi. Cho đến giờ, bố vẫn bị ám ảnh vì đôi mắt ấy…".

Văn Cao và rượu

Trong giới nghệ sĩ Việt, Văn Cao vẫn luôn nổi tiếng là người sành uống rượu và thậm chí có người từng mô tả Văn Cao đã nâng thú uống rượu thành một thứ nghệ thuật của riêng ông, giống như cá tính độc đáo của ông trong những lĩnh vực nhạc - họa - thơ vậy.

Nhận xét về Văn Cao

Về cuộc đời và sự nghiệp

     Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều” – Phạm Duy

     “Văn Cao nhập cuộc không phải bằng tài năng đơn độc mà bằng một thác lũ nghệ thuật, chùm lấp vòm trời Kinh đô Văn nghệ. Từng bước khoảng khoát, Văn Cao hiên ngang đi vào lòng Mẹ Việt Nam và được tiếp nhận nồng hậu. (...) Ở Văn Cao, mỗi lời thơ là một hạt ngọc, mỗi tiếng nhạc là mỗi sợi tơ, mỗi màu sắc là một vùng hào quang diễm lệ. Sự vượt lên của Văn Cao trong một thành phố đục lầm cát bụi, trong tiếng khua rộn ràng của những sợi dây xích sắt khổng lồ trong tiếng nấc nghẹn ngào không thoát khỏi cổ họng, được coi như cố gắng phi thường của một tâm hồn sung mãn. Đối nghịch đã làm cho Văn Cao trở thành con người có phong cách riêng biệt” –Tạ Tỵ

“Nguồn của dòng sông mang tên Văn Cao là tâm hồn phong phú của nhà nghệ sĩ tài ba, trong lãnh vực âm nhạc cũng như thi ca. Sau khi ra khỏi vùng lưu vực hoang vu của tiềm thức, dòng sông tẻ ra ba nhánh trôi miên man trong huyền ảo của khói trắng sương mù” – Trần Văn Nam

Chắc hẳn một nghệ sĩ như Văn Cao chưa hề được thẩm định một cách xứng đáng về hội họa và thơ. Chỉ một câu thơ như: Có lúc / nước mắt không thể chảy ra ngoài được đã là cả một ám ảnh đọng lại mãi trong lòng người. Tôi cảm thấy, ít nhất, những người thuộc thế hệ chúng tôi còn mắc nợ với một thiên tài của đất nước như Văn Cao” – Đặng Anh Đào

“Văn Cao sáng tác Buồn tàn thu năm 1939, lúc mới có 16 tuổi, Thiên Thai (năm 1940), Trương ChiThu cô liêuBến xuânSuối mơ (năm 1941)… Thiên tài âm nhạc Văn Cao đã phát lộ vào tuổi đôi mươi mơ mộng. Và đến những bản hùng ca chứa đựng hào khí dân tộc trong những ngày đầu độc lập và toàn quốc kháng chiến: Bắc SơnLàng tôiNgày mùaTrường ca sông Lô… và đỉnh cao là Tiến quân ca, sau này trở thành Quốc ca. Những thành công lớn đó của Văn Cao trong âm nhạc đã nhanh chóng đưa Văn Cao đến đỉnh vinh quang và trong ý niệm của công chúng ông là một thiên tài âm nhạc. Điều đó phần nào đã che lấp đi một Văn Cao khác – Văn Cao thi sĩ và Văn Cao họa sĩ” – Đỗ Ngọc Thạch. ( https://vi.wikipedia.org)

Nhạc sĩ Văn Cao - “bậc tài danh thế kỷ”. Văn Cao là một trong những nhạc sĩ thuộc lớp tiền bối của nền tân nhạc Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt và hoà trộn với dòng chảy lịch sử của dân tộc. Người nghệ sĩ tài hoa và những ca khúc trữ tình nổi tiếng; Người nhạc sĩ - chiến sĩ với dấu ấn lịch sử Tiến quân ca - Quốc ca; Cho đến nay bản lĩnh sáng tạo trong ca khúc của Văn Cao được ghi nhận là sự tổng hợp hài hoà của nhạc-hoạ-văn-thơ. Giai điệu âm nhạc của ông bao giờ cũng đẹp, uyển chuyển; ca từ được gọt rũa kỹ, hình ảnh đẹp. Đúng như sự đánh giá của nguyên Tổng Bí thư Đảng Đỗ Mười: Văn Cao- “người nhạc sĩ đầy tài năng” của nền âm nhạc Việt Nam.( https://baotintuc.vn/, 27/08/2015)

Về nhân cách

“Văn Cao là mẫu người đặc biệt. Với vóc dáng nhỏ nhắn. Với nụ cười lắng chìm không thành tiếng. Với hàm răng ngắn, đều. Với đôi mắt lạnh lùng dễ sợ lúc giận dữ, và dịu hiền khi tâm hồn chìm du vào dòng suy tưởng. (...) Chưa ai nghĩ tới và tưởng tượng nổi một Văn Cao trước những đối nghịch lớn, chứa đựng cái vóc dáng khiêm nhượng ấy. Người ta có thể cho là huyền thoại khi nói về một Văn Cao vẽ giấy bạc giả để chi dùng trong khi hoạt động túng thiếu, đến lúc hành vi bị lộ, đã rút súng Colt 45 chĩa vào những người có mặt, bắt họ giữ nguyên vị trí, để mình rút lui, rồi sau ngày 19-8, mang giấy bạc thật đến hoàn lại số tiền đã trả bằng bạc giả với đôi lời xin lỗi. Cũng như ít ai biết tác giả Thiên ThaiTrương Chi ở tổ chức ám sát nội thành Hà Nội dưới thời Nhật. Bị hoàn cảnh xã hội lúc đó đẩy vào con đường nghẽn, Văn Cao phải lao tìm một lối sống đặc biệt. (...) Dù sao, Văn Cao vẫn hiện diện trong tôi với hình dáng của một tinh cầu giá lạnh, với cô đơn dằng dặc ở cuối khung trời ngăn cách” – Tạ Tỵ.

“...Ông là một người tài hoa – cầm, kỳ, thi họa đều giỏi cả, nhưng sống lặng lẽ, khiêm nhường; dù có bị oan ức, thiệt thòi vẫn im lặng chịu đựng và chứng minh mình trong sạch, mình yêu đất, yêu thương giống nòi. Ông cống hiến hết mình nhưng không đòi hỏi điều gì cả. (...) Là một nghệ sĩ tài hoa, được rất nhiều phụ nữ xinh đẹp mến mộ, nhưng suốt đời ông chỉ có một mối tình với người bạn đời của mình là bà Nghiêm Thúy Băng. Ông là một người cha nghiêm khắc và đầy trách nhiệm đối với 5 người con của mình. (...) Sinh thời ông gặp nhiều trắc trở trong con đường công danh sự nghiệp, vì bị đồng chí, đồng nghiệp ganh ghét, đố kỵ hay đơn giản là không hiểu tầm cao tư tưởng và tính nhân văn trong những sáng tác của ông; song, ông không kêu ca, oán thán gì cả” – Hồ Bất Khuất

Trong âm nhạc

Phải đợi cho tới khi Tân nhạc ra đời vào những năm cuối 30 và đầu 40 thì chúng ta mới có được một loại nhạc tình lãng mạn do các người tình tiền phong của thời đại như Dương Thiệu TướcThẩm OánhLê ThươngVăn ChungDzoãn Mẫn…tung ra (…) Tuy nhiên, loại nhạc tình lãng mạn đó chỉ có thể được gọi là đạt tới độ hoàn mỹ khi nó được phát xuất ra từ một con người tài hoa bật nhất của thế giới nghệ sĩ trẻ lúc bấy giờ. Người đó là Văn Cao” – Phạm Duy

Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư.... – Trịnh Công Sơn

“Nếu Thiên Thai chỉ nằm trong một giọng Re (mineure và majeure) và Trương Chi chỉ chuyển nhịp, chuyển điệu trong hai giọng Re và Sol… thì Trường ca sông Lô có tới sáu lần chuyển âm (modulations) cũng như chuyển tiết tấu (changing rythmes). Trường ca sông Lô là bản hát dài đầu tiên của chúng ta là một tuyệt phẩm mà những người đi sau Văn Cao (như tôi) đã học hỏi được rất nhiều ở ông để tiếp tục làm giầu cho âm nhạc Việt Nam. Tôi muốn được công khai tỏ lòng biết ơn thiên tài Văn Cao trong buổi nói chuyện này – Phạm Duy

“Văn Cao là người đẻ ra trường ca, còn tôi chỉ là người thừa kế. Trường ca sông Lô phải là đỉnh cao nhất của nhạc kháng chiến nói riêng, của tân nhạc Việt Nam nói chung. Sự dài hơi trong những câu nhạc trong bài chứng tỏ nhạc sĩ Văn Cao đã trưởng thành ngay từ lúc tân nhạc vừa mới ra đời” – Phạm Duy

“Văn Cao và Phạm Duy khác Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn là một người “hát thơ”, một nghệ sĩ tuyệt vời, ông là con người của đại chúng, được người dân thành thị hâm mộ nhất. Còn Văn Cao và Phạm Duy là con người của âm nhạc, người sáng tạo âm nhạc và cùng với một số bậc tiền bối khác đặt nền móng cho âm nhạc Việt Nam buổi đầu. Những người ấy ra đi nhưng âm nhạc của họ còn sống mãi. Nghệ thuật không chỉ có giá trị xã hội mà cái giá trị chính yếu của nó là giá trị văn hóa. Với văn hóa âm nhạc của ta, và cũng không chỉ với âm nhạc, các ông ấy là những người mở đường. Giá trị của họ cao hơn sự nổi tiếng rất nhiều. Chúng tôi và những người trẻ hơn đang kế thừa những giá trị đó- Nhạc sĩ Dương Thụ

“Trong dòng âm nhạc cách mạng, Văn Cao là người đầu tiên chắp những đôi cánh lãng mạn, những ước mơ lớn vào các ca khúc, hành khúc chiến đấu. (...) Từ năm 1944 đến năm 1946 là một bước ngoặt lớn, một bước phát triển nhảy vọt của Văn Cao. Từ dòng lãng mạn lành mạnh – yêu nước hùng tráng, Văn Cao chuyển ngay sang dòng âm nhạc cách mạng, chuyển ngay sang dòng thác dữ dội của cách mạng giải phóng dân tộc. Chuyển một cách mau lẹ, tự nhiên, vững chắc, không qua một giai đoạn quá độ, không qua một giai đoạn mò mẫm “nhận đường”. (...) Với “Tiến quân ca”, lần đầu tiên Quân giải phóng Việt Nam chính thức có một hành khúc hùng tráng, trang nghiêm và lôi cuốn. Với “Tiến quân ca”, lần đầu tiên toàn thể các tầng lớp nhân dân Việt Nam có chung một hành khúc trên đường ra trận. Trước đó, chúng ta chỉ có những nhạc phẩm yêu nước của tuổi trẻ thủ đô, của thanh niên, học sinh, sinh viên và hướng đạo sinh. “Tiến quân ca” là cái mốc bằng vàng đánh dấu sự toàn thắng của âm nhạc cách mạng về cả tư tưởng lẫn về nghệ thuật - Nhạc sĩ Dân Huyền

 

Nhạc sỹ Văn Cao - bậc tài danh thế kỷ (Nguồn https://baotintuc.vn/)

 Văn Cao là một viên ngọc trên bức khảm văn hoá - nghệ thuật của dân tộc Việt Nam”- Đặng Thai Mai

Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều”- Phạm Duy

Văn Cao là một trong những nhạc sĩ lớn nhất về ca khúc trữ tình và ca khúc chiến đấu ở nước ta. Văn Cao cũng là một trong những ngôi sao thế kỷ 20 trên lĩnh vực ca khúc thế giới... Lời ca của Văn Cao vừa cao siêu, vừa trong sáng, vừa thơ mộng, vừa gần gũi với cuộc sống của nhân dân... Lời ca của Văn Cao lấp lánh ánh sáng tư duy cao sâu của một nghệ sĩ bậc thày về sử dụng tiếng Việt hiện đại”- Tố Hữu.

“Ở Văn Cao, mỗi lời thơ là một hạt ngọc, mỗi tiếng nhạc là mỗi sợi tơ, mỗi màu sắc là một vùng hào quang diễm lệ... Cái không khí “đỉnh cáo sáng tác” mà Văn Cao thèm khát đã trở thành nỗi ước mơ thật sự, ước mơ này chắc anh sẽ đem theo về cõi chết. Dù sao, Văn Cao vẫn hiện diện trong tôi với hình dáng của một tinh cầu giá lạnh, với cô đơn dằng dặc ở cuối khung trời ngăn cách – Tạ Tỵ.

 

“Nguồn của dòng sông mang tên Văn Cao là tâm hồn phong phú của nhà nghệ sĩ tài ba, trong lãnh vực âm nhạc cũng như thi ca. Sau khi ra khỏi vùng lưu vực hoang vu của tiềm thức, dòng sông tẻ ra ba nhánh trôi miên man trong huyền ảo của khói trắng sương mù” - Trần Văn Nam.

 “Tiến quân ca là xương thịt của một nghệ sĩ thiên tài, suốt đời đóng góp cho nghệ thuật chân chính và tranh đấu cho tự do của đất nước, sẽ mãi mãi còn lại. Bởi khó có tác phẩm nào thay thế được Tiến quân ca trong lòng người Việt Nam”-Thụy Khê. (https://vi.wikipedia.org/)

Văn Cao, một tài hoa thiên bẩm, nhạc sĩ của nhiều bài hát rung động lòng người, những bài hát trở thành một phần trong tài sản tinh thần của biết bao thế hệ người Việt. Những bài hát của Văn Cao trên thực tế được quảng đại quần chúng ưa thích, bất kể nó là tình khúc hay ca khúc.( http://baotintuc.vn 27/8/2015)

Trong bài phát biểu của mình, để lý giải cho mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân hai nước, Tổng thống Mỹ Obama đã trích dẫn một câu hát rất nổi tiếng trong bài Mùa xuân đầu tiên của cố nhạc sĩ Văn Cao. “Chúng ta đã nỗ lực hàn gắn những vết thương, mang lại nhiều lợi ích cho hai nước. Chính những người cựu chiến binh cho chúng ta thấy nhân dân của chúng ta gần gũi nhau hơn. Chúng tôi đã đón nhiều sinh viên VN hơn các nước ở châu Á, nhiều người Mỹ đã đến Hà Nội, Hội An. Người Việt và người Mỹ đều thuộc lời bài hát của Văn Cao. Từ nay người biết quê người/Từ nay người biết thương người”.(http://www.baogiaothong.vn 26/05/2016).

Trong thơ ca

“Tôi rất phục cách dùng chữ trong thơ Văn Cao, bởi vì chữ ông dùng không câu nệ vần điệu, không dùng những chữ quen mà toàn dùng những chữ mới. Nó vừa dễ hiểu nhưng để ngẫm hết ý thì lại khó. Có bài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc viết năm 1945 về nạn đói khiến người ta nhớ mãi. Còn những bài viết theo không khí tiền chiến thì được xếp vào những bài thơ hàng đầu của tiền chiến” -  Nhà thơ Vũ Quần Phương

Đọc lại thơ Văn Cao trong một ngày đông lạnh, tôi thấy số phận thật đa đoan: người nghệ sĩ ấy lại hóa thiệt thòi vì quá tài hoa. Nếu sự nghiệp âm nhạc của ông không lớn đến như thế, thì có lẽ người ta sẽ chú ý hơn tới thơ ca để nghe thấy một tiếng nói khác, giống như tiếng "người khổng lồ kêu thét suốt ngày đêm", giống như tiếng sóng biển từng ám ảnh suốt cả đời ông.” - Đặng Anh Đào

Nếu nhạc của Văn Cao đưa con người vào cõi mộng, thì thơ Văn Cao xoáy vào thực tại cuộc đời: phần đời thực với Chiếc xe xác qua phường Dạ LạcNgoại ô mùa đông 1946Những người trên cửa biển và phần nội tâm sâu xé của con người mất tự do, trong các bài thơ ngắn, cô đọng và đau thương, như những giọt nước mắt không rơi ngoài tim mình như lời thơ Thanh Tâm Tuyền... Cúi xuống những lầm than của kiếp người, Văn Cao là người duy nhất để lại những hình ảnh kinh hoàng của trận đói tháng 3 năm Ất Dậu. Nếu không có Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, thì chúng ta không thể hình dung cảnh xe xác lăn trong xóm cô đầu của một Hà Nội bán linh hồn...” - Thụy Khuê.

Thơ ông đẹp một cách quyết liệt. Thơ ông thật đến siêu thực. Thơ ông mới bất ngờ như mầm cây vừa đội đất trồi lên” - Nhạc sĩ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.

Trong hội họa

“Ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực, theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh... Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: Chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân PháiSỹ NgọcDương Bích LiênNguyễn Sáng...) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa... Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa và bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc... Nếu âm nhạc, thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát...” - Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân. (https://vi.wikipedia.org)

Tác phẩm

Nhạc

Thơ

Những câu nói đáng nhớ

“Người ta yêu những người cố mở đường mà thất bại, yêu những người biết thất bại mà dám mở đường… Hôm nay, con đường lớn nhất của chúng ta là mở cho tất cả những giấc mơ, những khát vọng thuộc về sự sáng tạo của con người tự do phát triển bay đi xe mật về ổ. Mở cho những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bao nhiêu là tập trung tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp”. (Mấy ý nghĩ về thơ)

“Cái mới đâu phải là những cái không sẵn có. Sự làm mới những cái sẵn có cũng là một phương pháp sáng tạo”.

“Tôi là tác giả Quốc ca, bao nhiêu năm tôi phải giữ gìn, dù sao tên tuổi mình cũng đã gắn với một cái gì của đất nước, tuy nhỏ bé nhưng thiêng liêng. Ông cũng biết đấy, dân nhạc tài hoa thường anh nào trong đời chẳng có ba bốn cô xinh đẹp vây quanh. Còn tôi, tôi phải giữ gìn, giữ gìn vì tên tuổi mình phải trong sạch, hai nữa với gia đình, phải xứng đáng với người vợ của mình”. (trong cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu văn học Hà Minh Đức)[

“Còn về lời ca [của “Tiến quân ca”], có người bảo tôi là tại sao có đoạn lại viết: “Thề phanh thây uống máu quân thù!” Tôi lặng người, sau đó trả lời: “Hoàn cảnh lúc đó, nếu không có 2 triệu người chết đói dần mà tôi đã từng chứng kiến khi bắt đầu sáng tác ca khúc này, tôi sẽ không viết như vậy. (...) Thôi, giờ tôi có tiếc nuối cũng chẳng thể làm gì. Dù sao Tiến quân ca cũng chẳng phải là của riêng tôi, nó đã là của một dân tộc Việt Nam độc lập kể từ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đến nay”.

Dấu ấn và di sản văn nghệ

Trong lĩnh vực âm nhạc, Văn Cao là người có công khai phá và giúp hoàn thiện một số thể loại của tân nhạc Việt Nam như nhạc trữ tình (nhạc tiền chiến), hùng ca (nhạc cách mạng, nhạc kháng chiến), và trường ca. Trong lĩnh vực thi ca, ông cũng là một trong ít người không ngừng đi tiên phong với những cách tân mang tính đột phá-sáng tạo trong thơ Việt Nam hiện đại. Đã có những quan điểm chuyên môn xem ông là một trong những người đi khai phá, mở đầu cho sự phát triển của thể loại trường ca thơ hiện đại Việt Nam, đặc biệt kể từ nửa cuối thập niên 1950 trở đi. Tuy nhiên, những đóng góp của ông cho thơ ca và hội họa dân tộc ít khi được nhắc tới so với những cống hiến to lớn về âm nhạc của ông. Văn Cao được xem là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử phát triển của văn hóa Việt Nam – một con người mà sự kết hợp nhạc-họa-thơ là xuyên suốt trong gần như toàn bộ những sáng tác đa dạng của ông. Trong địa hạt âm nhạc của ông, ngoài những nét đẹp về giai điệu, ca từ cũng mang nhiều tính thơ và họa. Còn trong địa hạt thơ của ông, họa tính là rất đặc trưng. Ở Văn Cao, tầm vóc không phải là thứ lượng hóa, tức là tính bằng con số những sáng tác. Bởi xét về số lượng, những sáng tác của Văn Cao (đặc biệt trong lĩnh vực nhạc và thơ) ít hơn đáng kể so với nhiều nhạc sĩ hoặc thi sĩ ở tầm thường thường bậc trung tại Việt Nam. Đánh giá Văn Cao cần nhìn xuyên suốt tư tưởng của ông trong cả ba lĩnh vực là nhạc-họa-thơ. Xét về nhiều phương diện, Văn Cao là mẫu người phản ví dụ điển hình trong lịch sử văn hóa Việt Nam. Nói là phản ví dụ bởi lịch sử Việt Nam ít hoặc không có khuynh hướng tạo ra những mẫu người cổ xúy mạnh cho tinh thần dám khai phá sáng tạo như ông. Mẫu người trí thức hoặc nghệ sĩ điển hình trong xã hội Việt Nam (từ chế độ phong kiến, tới phong kiến nửa thực dân, rồi thời phân chia quốc cộng) thường là con người biết nương theo hoàn cảnh, biết tận tụy phục vụ chế độ chính trị anh ta đang sống. Văn Cao chưa bao giờ nuôi tham vọng chính trị quá mức của một người yêu nước thông thường, tuy nhiên ông luôn là người cổ súy mạnh cho tinh thần độc lập-sáng tạo trong tư duy của người nghệ sĩ. Đây có thể xem là một đặc tính ít mang ảnh hưởng phương Đông hơn cả trong con người của Văn Cao. Có thể nó có ảnh hưởng ít nhiều từ văn hóa phương Tây, cái mà ông có thể tiếp nhận ở mức độ nhất định trong hệ thống giáo dục thuộc địa của Pháp. Mặc dù là đôi bạn văn nghệ tri kỷ, nhưng về nhiều phương diện Văn Cao trái ngược với Phạm Duy. Văn Cao là người đi tiên phong, đặt nền móng, gợi mở nhiều hướng phát triển mới cho nhạc và thơ Việt hiện đại nhưng ông chưa bao giờ thực sự thăng hoa về mặt lượng (so với sự dồi dào về mặt chất) ở cả hai lĩnh vực. Còn Phạm Duy là người kế thừa nhiều khai phá từ Văn Cao và phát triển chúng đến độ phì nhiêu.

Văn Cao đã được nhiều người coi là một trong những danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam thời hiện đại. Là một bậc thầy của nghệ thuật sử dụng ngôn từ phong phú và biến hóa trong các sáng tác nhạc và thơ của ông, cống hiến của Văn Cao cho riêng tiếng Việt - với tư cách một ngôn ngữ có khả năng chuyên chở đầy đủ những sắc thái cảm xúc và tư tưởng của người nghệ sĩ - đã thậm chí được so sánh với cống hiến của Nguyễn Du cho riêng ngôn ngữ thi ca dân tộc. Là người tài hoa được thừa nhận trên nhiều lĩnh vực như nhạc-họa-thơ nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Văn Cao cũng được xem là một điển hình của định mệnh "tài" và "tai" trong lịch sử văn hóa của Việt Nam. Ông không có những quãng thời gian đủ dài và suôn sẻ trong sáng tạo nghệ thuật so với những tên tuổi như Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn bởi bối cảnh chính trịvăn hóa đặc thù của miền Bắc so với miền Nam Việt Nam những năm chiến tranh chia cắt. Đánh giá về Văn Cao, trong nhiều bài viết các tác giả không ngần ngại gắn cho ông mỹ từ thiên tài, trong đó có Phạm Duy (2007), Thụy Khuê (2010), Đỗ Ngọc Thạch (2013), hay Trần Mạnh Hảo (2013). Đây mặc định có thể xem là đánh giá ở mức độ cao nhất đối với bất cứ ai hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam. Trong văn học nghệ thuật của dân tộc, trước Văn Cao có lẽ chỉ có Nguyễn Du trong thi ca là thường được gắn với mỹ từ thiên tài nhiều hơn cả. Việc Phạm Duy dùng mỹ từ đó cũng cho thấy sự trân trọng ông dành cho Văn Cao lớn thế nào, bởi Phạm Duy với lòng tự tôn của một cây đại thụ hàng đầu tân nhạc Việt không phải người dễ dãi trong đánh giá thành tựu của đồng nghiệp. Với những kiến thức phong phú về nhạc lý và văn hóa dân tộc, Phạm Duy hơn ai hết có đầy đủ thẩm quyền đánh giá về tài năng của Văn Cao.

Tri ân

Hiện nay cũng đang có một số đề xuất từ những người có vai trò trong quản lý văn hóa ở Việt Nam về việc dựng tượng đài Văn Cao ở một địa điểm công cộng (như một công viên nhỏ) tại Hà Nội. Những người ủng hộ đề xuất này bao gồm có nhà sử học Dương Trung Quốc, hoạ sĩ Trần Khánh Chương (hiện là Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam), và nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân (hiện là Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

Trong lĩnh vực nhiếp ảnh, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán là người sở hữu một bộ ảnh với số lượng lớn về Văn Cao do chính ông tự tay chụp, do có nhiều điều kiện thời gian đến thăm Văn Cao những năm nhạc sĩ - thi sĩ còn sống. Nguyễn Đình Toán vốn quen biết và sống không xa nhà riêng của gia đình Văn Cao.

Trong lĩnh vực phim ảnh, đạo diễn Đinh Anh Dũng là người có dịp tiếp xúc với Văn Cao không lâu trước khi nhạc sĩ qua đời và đã đạo diễn 2 bộ phim tài liệu - ca nhạc về Văn Cao: Văn Cao - Giấc mơ một đời người (1992) và Văn Cao - Buổi sáng có trong sự thật (1995).

Trong lĩnh vực văn học, nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha, đồng thời là một nhà "Văn Cao học", cho xuất bản cuốn tiểu thuyết chân dung mang tên Văn Cao - Người đi dọc biển (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2011).

Ghi công

Một năm sau ngày Văn Cao mất, thành phố Hải Phòng đã đặt tên ông cho một con phố rất đẹp ở quận Ngô Quyền. Huế có một con đường mang tên Văn Cao ở Phường Xuân Phú, Đà Nẵng có phố Văn Cao ở quận Thanh Khê. Thành phố Hồ Chí MinhNam Định cũng đều có đường mang tên ông.

Năm 2005, mười năm sau ngày Văn Cao mất, Hà Nội lấy tên Văn Cao đặt cho một tuyến phố thuộc hàng đẹp nhất của thành phố nối từ Liễu Giai đến đường Hoàng Hoa Thám. Ông Nguyễn Quốc Triệu, chủ tịch thành phố thời gian đó, đích thân tới nhà gia đình Văn Cao vào hôm trước ngày giỗ của nhạc sĩ để báo tin. Đường Văn Cao sau đó đã được kéo dài xuyên qua đường Hoàng Hoa Thám, ra tận sát Hồ Tây.

Lễ truy tặng huân chương Hồ Chí Minh cho cố nhạc sỹ Văn Cao

(Nguồn https://baotintuc.vn/)

Các con đường tỉnh thành khác mang tên ông:

  1. 1. Đường Văn Cao, phường Thạc Gián và Vĩnh Trung, Thanh Khê, Đà Nẵng
  2.  

2. Đường Văn Cao, phường Đằng Giang, Ngô Quyền, Hải Phòng

3. Đường Văn Cao, Phường Phú Thạnh và Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Hồ Chí Minh

4. Đường Văn Cao, Phường Tân Lợi, Buôn Ma Thuột, Đắk Lăk

5. Đường Văn Cao, Phường An Hoà, Rạch Giá, Kiên Giang

6. Đường Văn Cao, Thị trấn Lạc Dương, Lạc Dương, Lâm Đồng

7. Đường Văn Cao, Phường Chi Lăng, Lạng Sơn, Lạng Sơn

8. Đường Văn Cao, Phường Năng Tĩnh, phường Văn Miếu và xã Lộc An, Nam Định, Nam Định

9. Đường Văn Cao, Phường Xuân Phú, Huế, Thừa Thiên Huế (https://vi.wikipedia.org)

Với những cống hiến trọn đời cho nền âm nhạc dân tộc, năm 1993, Văn Cao đựợc Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Nhất. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt I cho các ca khúc: “Tiến quân ca” (1944), “Chiến sĩ Việt Nam” (1945), “Làng tôi” (1947), “Sông Lô” (1947), “Tiến về Hà Nội” (1948), “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” (1950).(https://baotintuc.vn/, 27/08/2015).

Về bài "Tiến quân ca" là một bài hát do nhạc sĩ Văn Cao (1923–1995) sáng tác vào năm 1944 và được sử dụng làm quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ năm 1976. Trước đó, bài Tiến quân ca được chọn làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1945 đến năm 1976.

Hoàn cảnh ra đời

Mùa đông năm 1944, Văn Cao gặp Vũ Quý, một cán bộ Việt Minh, ở ga Hàng Cỏ. Vũ Quý là người từng quen biết Văn Cao và đã động viên ông viết những bài hát yêu nước như Đống ĐaThăng Long hành khúc ca... Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng, và nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác một bài hành khúc cho đội quân Việt Minh.

Văn Cao viết bài hát đó trong nhiều ngày tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền. Ông có viết lại trong một ghi chép tháng 7 năm 1976 như sau: "...Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ có thể hát được...". Trong một hồi ký tựa đề "Bài Tiến quân ca", Văn Cao cho biết, khi ông sáng tác Tiến quân ca thì có Phạm Duy ở cùng, và "Anh rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến quân ca".

Về ca khúc, Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ ca khúc Thăng Long hành khúc ca trước đó: "Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng" và bài Đống Đa"Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa"... Và ông đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca. Phần ca từ trong bài hát ở thời điểm mới ra đời có nhiều khác biệt so với sau này,[5][6] như câu đầu Đoàn quân Việt Nam đi, thì ban đầu là Đoàn quân Việt Minh đi, câu thứ sáu của bài hát ở phiên bản đầu là "Thề phanh thây uống máu quân thù" thể hiện sự căm phẫn, đau đớn của Văn Cao trước sự tàn bạo của thực dân Pháp và trước nạn đói đang xảy ra, về sau được nhiều người góp ý, tác giả đã sửa thành Đường vinh quang xây xác quân thù. Câu kết: "Tiến lên! Cùng thét lên! Chí trai là nơi đây ước nguyền!" được Văn Cao sửa thành (...) Núi sông Việt Nam ta vững bền, nhưng đến khi xuất bản thành Quốc ca, ai đó đã sửa thành (...) Nước non Việt Nam ta vững bền, việc này, theo Văn Cao, "Với một ca khúc đòi hỏi trang nghiêm, chữ nước non hát lên bị yếu. Chữ núi sông hát khỏe và hùng tráng".

Sau khi hoàn thành tác phẩm, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe. Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá in. Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính Văn Cao viết.

Ngày 17 tháng 8 năm 1945, ca khúc được hát trước quần chúng lần đầu tiên tại một cuộc mít-tinh của công chức Hà Nội bởi Phạm Duy, đây cũng là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh thay cho cờ của chính phủ Trần Trọng Kim và cướp loa phóng thanh hát Tiến quân ca, mà theo Văn Cao: "Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó".

Còn nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, sau khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đã xúc động thật sự, và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa về mặt trận Việt Minh. Sau đó Nguyễn Đình Thi viết được bài Diệt phát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả hai bài hát này đều phổ biến rộng rãi trong công chúng.

Quốc ca. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài Tiến quân ca đã được cất lên lần đầu tiên trước đông đảo dân chúng. Cũng tại quảng trường Nhà hát lớn, ngày 19 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếu niên Tiền phong đã hát bài Tiến quân ca chào lá cờ đỏ sao vàng.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được cử hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình bởi Ban nhạc Giải phóng quân do Đinh Ngọc Liên chỉ huy. Trước ngày biểu diễn, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiến quân ca, cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ "Đoàn" và nốt mi ở giữa chữ "xác" làm cho bản nhạc khỏe khoắn hơn.

Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân ca làm quốc ca. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam, tại điều 3 ghi rõ: "Quốc ca là bài Tiến quân ca". Năm 1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã quyết định mời tác giả tham gia sửa một số chỗ về phần lời của quốc ca. Văn Cao sau này đã luyến tiếc vì một số chữ sửa đã làm mất khí thế hùng tráng của ca khúc.

Sau năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam Bắc thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là Tiến quân ca. Năm 1981, Việt Nam tổ chức thay đổi quốc ca. Một cuộc thi được mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không có tuyên bố chính thức gì về kết quả. Tiến quân ca vẫn là quốc ca Việt Nam cho tới ngày nay.

Lời bát hát

Lời 1

Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc

Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa

Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,

Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca

Đường vinh quang xây xác quân thù,

Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.

Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,

Tiến mau ra sa trường,

Tiến lên, cùng tiến lên.

Nước non Việt Nam ta vững bền.

Lời 2

Đoàn quân Việt Nam đi, sao vàng phấp phới

Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than

Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,

Đứng đều lên gông xích ta đập tan.

Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,

Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.

Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,

Tiến mau ra sa trường,

Tiến lên, cùng tiến lên.

Nước non Việt Nam ta vững bền!

Về bản quyền. Ngày 21 tháng 6 năm 2010, Cục Bản quyền tác giả nhận được thư ngỏ lời được hiến tặng tác phẩm Tiến quân ca của bà Nghiêm Thúy Băng, vợ cố nhạc sĩ Văn Cao gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL). Bà Nghiêm Thúy Băng, với tư cách người đại diện gia đình, đang hưởng quyền thừa kế đã trân trọng ngỏ lời hiến tặng ĐảngQuốc hộiNhà nước và công chúng tác phẩm Tiến quân ca được sử dụng làm Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1945 đến nay.

Tuy vậy, đến tháng 8 năm 2015, Nhà nước không có phản hồi về lời tặng này, nhạc sĩ Phó Đức Phương, Giám đốc Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đề xuất thu phí bản quyền khi được sử dụng để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật. Ngày 15 tháng 8, trong chương trình Hát mãi khúc quân hành tại Nhà hát Tuổi trẻ và chương trình Tự hào tổ quốc tôi ngày 17 tháng 8, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đã thu tiền bản quyền tác phẩm Tiến quân ca. Ngày 26 tháng 8, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi công văn đến trung tâm này đề nghị dừng việc thu tiền bản quyền tác phẩm Tiến quân ca vì ''lời hiến tặng của vợ cố nhạc sĩ Văn Cao và cũng là tâm nguyện của ông khi còn sống''. Ngay sau đó Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã yêu cầu dừng việc thu tiền.

Sứ mệnh lịch sử của “Tiến Quân Ca” (Nguồn https://baotintuc.vn/)

Ngày 15 tháng 7 năm 2016, gia đình của nhạc sĩ Văn Cao đã hiến tặng ca khúc Tiến quân ca cho nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Lễ tiếp nhận được tổ chức tại Tòa nhà Quốc hội. Cũng tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho bà vợ góa của nhạc sĩ, Nghiêm Thúy Bằng, để ghi nhận những nỗ lực của bà trong việc bảo tồn các tác phẩm của nhà soạn nhạc. Kể từ đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý bài "Tiến quân ca" theo quy định pháp luật về quyền tác giả và các quyền liên quan về bản quyền (https://vi.wikipedia.org/).

Niềm súc động của người viết “Tiến quân ca”: “Tháng 11/1944, tôi tự tay viết bài Tiến quân ca lên đá in trang Văn nghệ đầu tiên của tờ báo Độc lập còn giữ lại nét chữ viết của một anh thợ mới vào nghề. Một tháng sau khi báo phát hành, tôi từ cơ quan ấn loát trở về. Qua một đường phố nhỏ (bây giờ là đường Mai Hắc Đế) tôi chợt nghe thấy tiếng đàn măng-đô-lin từ một căn gác vọng xuống. Có người đang tập hát Tiến quân ca. Tôi dừng lại và tự nhiên thấy xúc động. Một xúc động đến với tôi hơn tất cả những tác phẩm của tôi đã được trình diễn ở các rạp hát trước đây. Tôi nhận ra được vài chỗ nhịp điệu còn chưa được hoàn chỉnh. Nhưng bài hát đã in ra rồi. Bài hát đã được phổ biến và không còn là của riêng tôi...” - những dòng lưu bút của nhạc sĩ tài hoa Văn Cao kể về nỗi xúc động của ông khi viết bài "Tiến quân ca".

Trong hồi ký “Tại sao tôi viết Tiến quân ca” ông tâm sự: “Bài hát đã làm trong thời gian không biết bao nhiêu ngày tại căn gác hẹp 45 Nguyễn Thượng Hiền, bên một cái cửa sổ nhìn sang căn nhà 2 tầng, mấy hàng cây và một màn trời xám. Ở đây thường vọng lên những chiếc xe bò chở xác người chết đói về phía Khâm Thiên. Ở đây hàng đêm mất ngủ vì gió mùa luồn vào từng khe cửa, vì tiếng đánh chửi nhau của một gia đình anh viên chức nghèo khổ, thiếu ăn, vọng qua những khe sàn gác hở. Ở đây tôi hiểu thêm nhiều chuyện đời. Ở đây đêm đêm có những tiếng gõ cửa, những tiếng gọi đêm không người đáp lại”.

“… Tin từ Nam Định lên, cho biết mẹ tôi và các em tôi đang đói. Họ đang tìm mọi cách để sống qua ngày, như mọi người đang chờ đợi một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ chiều hôm. Tất cả đang chờ đợi tôi tìm cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào. Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa được gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị, cho họ có thể hát được”.

Ông kể tiếp trong hồi ký: “Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và hy vọng”. “Và bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen sạm. Đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Đó là vào một ngày cuối tháng 10/1944."

Viết về nhạc sĩ Văn Cao khi ông qua đời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề: “Chúng ta vô cùng nhớ tiếc người nghệ sĩ tài ba xuất chúng. Những tác phẩm của anh, đặc biệt là bài Quốc ca, những bài ca hùng tráng, những bản nhạc trữ tình, sẽ sống mãi với thời gian, với dân tộc, như một điểm sáng trong nền nghệ thuật Việt Nam”.(https://baotintuc.vn)

12.19. Nguyễn Thị Định (15 tháng 3 năm 1920 – 26 tháng 8 năm 1992), còn gọi là Ba Định) (bí danh Bích VânBa TấnBa Nhất và Ba Hận); nguyên là nữ tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15 tháng 3 năm 1920 trong một gia đình nông dân tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Năm 1936, được sự dìu dắt của người anh ruột là Nguyễn Văn Chẩn, bà tham gia phong trào Đông Dương đại hội như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con chống sự áp bức ở địa phương.

Năm 1938, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm1940, chồng bà bị đối phương bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh ở đó. Nửa năm sau, đến lượt bà cũng bị bắt đày đi Bà Rá (thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay.)

Năm 1943, do bị đau tim nặng, bà được trở về quê, chịu sự quản thúc của chính quyền địa phương.

Năm 1944, bà bắt liên lạc được với tổ chức cách mạng rồi tiếp tục hoạt động.

Nguyễn Thị Định (https://vi.wikipedia.org)

Tháng 3 năm 1946, bà tham gia đoàn cán bộ miền Nam ra Bắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và xin chi viện vũ khí. Tháng 11 năm đó, bà làm Trưởng đoàn của đoàn thuyền chở vũ khí về Nam.

Năm 1947, bà được bầu vào Tỉnh Ủy Bến Tre. Từ đó, bà cùng các cán bộ lãnh đạo ở địa phương tổ chức cuộc kháng chiến của nhân dân Bến Tre.

Những năm sau khi Hiệp định Genève (tháng 7 năm 1954), Bến Tre là một trọng điểm cần phải bình định của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong thời gian này, bà là một trong những cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với các cán bộ lãnh đạo khác ra sức bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân.

Tháng 11 năm 1959, bà làm Phó bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Sau đó bà nhận nhiệm vụ về khu ủy Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ) dự hội nghị tiếp thu Nghị quyến 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đầu năm 1960, bà một trong những người lãnh đạo Đồng khởi Bến Tre và là người chỉ đạo trực tiếp cuộc Đồng khởi đợt I (17/1/1960) ở ba điểm  Định ThủyBình Khánh và Phước Hiệp (thuộc huyện Mỏ Cày Nam hiện nay) thắng lợi, mở đầu cho phong trào Đồng khởi trong tỉnh và toàn miền Nam sau này.

Sau cuộc Đồng khởi Bến Tre, bà làm Bí thư tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải phóng tỉnh Bến Tre.

Năm 1964, trong Đại hội dân tộc giải phóng miền Nam lần thứ nhất, bà được bầu làm Ủy viên Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương mặt trận. Năm 1965, bà giữ chức Phó Tư lệnh quân Giải phóng miền Nam; tại đại hội Phụ nữ toàn miền Nam, bà làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (sau năm 1975), bà giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV,V,VI; Đại biểu Quốc hội khóa IV,V,VI; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Từ 1987 đến 1992, bà giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước,...

Tượng đồng Nguyễn Thị Định trong đền thờ ở Giồng Trôm (https://vi.wikipedia.org)

Ngày 26 tháng 8 năm 1992, bà từ trần tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 72 tuổi.

Vinh danh

Ngày 30 tháng 8 năm 1995, bà Nguyễn Thị Định được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1968, Bà được nhận Giải thưởng Hòa bình Lenin của Liên Xô trao tặng.

Sau khi bà mất, đền thờ bà được lập tại ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm. Trong đền thờ có tượng đồng chân dung bà, tượng có chiều cao 1,75 m, nặng 1.025 kg, đặt trên bệ thờ cao 1,5 m do Bộ Quốc phòng trao tặng. Ngoài ra, nhân dân Hát Môn (Hà Nội) cũng đã rước bát hương bà về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng với niềm tự hào, ngưỡng mộ về một nữ tướng...

Tên bà được đặt tên cho đường phố ở nhiều thành phố Việt Nam. (https://vi.wikipedia.org)

Theo https://baomoi.com, 05/03/2017:  Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về Nguyễn Thị Định: “Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.

Đây dường như là một lời tiên tri, khi đến năm 1974, chị Ba Định chính thức được phong quân hàm Thiếu tướng. Và đến mùa xuân 1975, trong 5 cánh quân rầm rập tiến về giải phóng Sài Gòn, có nữ tướng Nguyễn Thị Định trong vai trò Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng.

Đền thờ Nguyễn Thị Định tại ấp Phong Điền (Lương Hòa, Giồng Trôm) (https://vi.wikipedia.org)

Vai trò lịch sử đặc biệt của Nguyễn Thị Định một lần nữa được Giáo sư sử học Christine Whate (trường đại học Tổng hợp Hawaii, Mỹ) nhấn mạnh trong bức thư gửi vị nữ tướng Việt Nam.

Trong thư có đoạn viết: “Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thăm bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống cách mạng Việt Nam”.

Theo báo http://hoilhpn.org.vn/ ngày 10/5/2007 với nhan đề “ Huyền thoại nữ tướng Nguyễn Thị Định” có viết: Trước bà, chưa có người phụ nữ nào tham gia cách mạng, được phong hàm tướng.

Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Phó tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta". Năm 1982, bà được bầu làm Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ quốc tế: năm 1986, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

 Nhân  dân Hát Môn, Hà Tây đã rước bát hương bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng với niềm tự hào, ngưỡng mộ về một nữ tướng thời đại Hồ Chí Minh.

 Ở Cuba, có một làng mang tên Nguyễn Thị Định. Tên của bà được nhiều phụ nữ trên thế giới hâm mộ đặt tên cho con mình. Hình ảnh bà khi xuất hiện ở nước ngoài làm nổi bật vị thế Việt Nam.

12.20. Nguyễn Quyết (sinh năm 1922) là một nhà hoạt động cách mạng, nhà chính trị, nhà quân sự của Việt Nam.

Image result for Nguyễn QuyếtÔng là người gốc họ Đào có tên là Đào Nguyễn Quyết, quá trình hoạt động công tác Ông có tên là Nguyễn Tiến Văn, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1922, quê tại thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Ông là con út trong một gia đình 10 anh em.

Quá trình hoạt động cách mạng

Học hết tiểu học, năm 15 tuổi, Nguyễn Quyết lên Hà Nội làm việc và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1939, ông được Đảng Cộng sản Đông Dương cử về xây dựng phong trào phản đế ở Hưng Yên. Đầu năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng. Cuối năm 1941, ông tham gia lãnh đạo phong trào phản đế ở phía Nam Hưng Yên, năm 1943 là Tỉnh ủy viên tỉnh Hưng Yên.

Đại tướng Nguyễn Quyết (https://www.google.com.vn)

Năm 1944, ông tham gia tại ban cán sự xây dựng phong trào phản đế ở Hà Nội, Thành ủy viên thành phố Hà Nội. Năm 1945, ông là Bí thư thành ủy Hà Nội, ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Hà Nội.

Từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946, ông lần lượt giữ các chức vụ Ủy viên chính trị Ủy ban Quân sự Hà Nội, Chính trị viên Chi đội 2, Chính trị viên Chi đội 1, Chính trị viên Đại đoàn 31 chủ lực của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam.

Từ tháng 1 năm 1947 đến tháng 5 năm 1948, ông lần lượt giữ các chức vụ Quân khu ủy Quân khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Đà, Ủy viên quân sự trong Ủy ban Kháng chiến liên tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

Từ tháng 6 năm 1948 đến tháng 5 năm 1951, ông là Chính ủy Trung đoàn 108, rồi Trung đoàn 803.

Từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 6 năm 1952, ông được cử về học ở Tổng cục Chính trị. Từ năm 1953 đến năm 1954, ông trở về khu 5, giữ chức Quân khu ủy viên, Trưởng phòng Chính trị Quân khu 5, Liên khu ủy viên dự khuyết Liên khu 5.

Sau khi tập kết ra Bắc, từ tháng 12 năm 1954 đến tháng 10 năm 1955, ông là Chính ủy Sư đoàn 305.

Từ tháng 11 năm 1955 đến năm 1963, ông là quyền Chính ủy, rồi Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu ủy.

Từ năm 1964 đến năm 1967, ông liên tục giữ các chức vụ Phó chính ủy, Chính ủy, Phó Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3.

Từ năm 1968, ông là Chính ủy B8, Bí thư Đảng ủy B8, Phó chính ủy Quân khu Trị Thiên, Ủy viên thường vụ Khu ủy Trị Thiên.

Từ năm 1969 đến năm 1976, ông một lần nữa giữ chức Chính ủy Quân khu Tả Ngạn, Bí thư Quân khu ủy, rồi về Học viện Quân sự giữ chức Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy.

Từ năm 1977 đến năm 1986, ông trở lại Quân khu 3 giữ chức Tư lệnh Quân khu kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy.

Từ tháng 4 năm 1986 đến tháng 11 năm 1987, ông giữ chức Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Từ năm 1987 đến năm 1991, là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Từ năm 1977 đến năm 1991, là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Từ năm 1976 dến năm 1991, ông liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV, V, VI; Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI.

Ông cũng là đại biểu Quốc hội khoá IV, V, VI. Ông được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khoá VI.

Ông nghỉ hưu từ năm 1992.

Lịch sử thụ phong quân hàm: năm 1974 được phong hàm thiếu tướng, năm 1980 hàm trung tướng, năm 1986 hàm thượng tướng năm 1990 hàm đại tướng (https://vi.wikipedia.org)

12.21. Nguyễn Thị Bình (1927-), là một nữ chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là 1 trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút kí vào Hiệp định. Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam từ 1992 đến 2002.

Bà tên thật là Nguyễn Châu Sa hay Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Tuy nhiên, nguyên quán của cha bà là ông Nguyễn Đồng Hợi, lại ở Điện BànQuảng Nam. Thân mẫu bà là bà Phan Thị Châu Lan (tục gọi là cô Mè, 1904-1944), là người con gái thứ hai của nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.

Nguyễn Thị Bình (https://vi.wikipedia.org)

Cha của bà là từng làm tham tán công chánh (Agent technique) thời Pháp thuộc, làm công tác họa đồ (nên ông còn được gọi là Họa đồ Hợi). Thuở nhỏ gia đình bà cư trú tại Phnom PenhCampuchia, do đó bà được cho ăn học ở một trường nổi tiếng ở Đông Dương thời bấy giờ tại Phnom Penh là trường Lycée Sisowath. Bà được học tiếng Pháp ở đây cho hết tú tài I, và học rất khá.

Năm 1944, thân mẫu bà qua đời lúc bà mới 17 tuổi, bà theo gia đình trở về nước và bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước trong phong trào sinh viên học sinh như cứu tế và cướp chính quyền tại Sài Gòn. Sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ cuối năm 1945, cha bà ra chiến khu theo lời kêu gọi của Ủy ban hành chánh kháng chiến Nam Bộ. Riêng bà ở lại để chăm sóc các em, vừa hoạt động bí mật cho phong trào Việt Minh khối sinh viên học sinh và phụ nữ. Lúc này, bà lấy bí danh là Yến Sa. Năm 1948, bà được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1951, bà bị thực dân Pháp bắt giam và bị tra khảo tại bót Catinat, sau đó bị giam ở Khám Lớn rồi nhà lao Chí Hòa (1951-1953).

Năm 1954, bà ra tù và tham gia vào phong trào hoà bình đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ. Năm 1955, bà được điều ra Bắc tập kết và được đào tạo thêm theo chương trình bồi dưỡng cán bộ đặc biệt.

Bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973 (ảnh tư liệu)

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình kí hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973

 (http://phaply.net.vn)

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, bà được điều trở lại miền Nam với cái tên mới là Nguyễn Thị Bình, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng, hoạt động ở mảng đối ngoại, kiêm Phó tổng thư ký Hội Phụ nữ Giải phóng. Cuối năm 1968, bà được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng sang Paris dự Hội nghị Paris về Việt Nam, đến đầu tháng 1 năm 1969, ông Trần Bửu Kiếm giữ chức vụ trưởng đoàn, còn bà được rút về nước để chuẩn bị cho việc thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Sau đó bà lại trở sang Paris đảm nhận lại chức vụ Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ lâm thời. Trong suốt thời gian 1968-1972, bà nổi tiếng trong các cuộc họp báo tại hội nghị 4 bên tại Paris, với phong cách ngoại giao lịch lãm và duyên dáng, và được giới truyền thông đặt cho biệt hiệu "Madame Bình". Khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, bà là người thay mặt một trong bốn bên ký vào bản Hiệp định.

Báo http://www.hanoimoi.com.vn/ ngày 25/1/2013 với nhan đề “Báo chí phương Tây với "Madam Bình" có đoạn viết: Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” . Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: “Cô rất dũng cảm”.

Madam Bình trả lời phỏng vấn của các nhà báo (https://doanhnghiepkinhtexanh.vn/)

Khi Mỹ huy động máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30-12, về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26-12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo. Thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên.

Ngày 21-1-1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!”. Hãng AFP mô tả: “Madam Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc Madam Bình nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin”.

Bà Bình nhớ rõ, với 174 phiên họp chính thức, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức hơn 500 cuộc họp báo và 1000 lần trả lời phỏng vấn báo chí. Ngày 29-1-1973, hai đoàn Việt Nam tổ chức chiêu đãi các nhà báo. Ông Lê Đức Thọ hoan nghênh và cảm ơn các nhà báo. Cả phòng họp với hơn 400 nhà báo quốc tế đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đó là một ngoại lệ chưa từng có trong các cuộc họp báo trước đó”.

Báo https://phaply.net.vn/, ngày 15/3/2019 với nhan đề: “Dấu ấn bà Nguyễn Thị Bình trong “kỳ tích ngoại giao Việt Nam” có đoạn viết: “Suốt gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán ở Pari, báo giới phương Tây đã rất ấn tượng với hình ảnh của "madam Bình" (tên mà các nhà báo phương Tây gọi bà khi đó). Họ ấn tượng không chỉ bởi trước mắt họ là hình ảnh một người phụ nữ nhỏ nhắn đến từ vùng đất đầy khói lửa chiến tranh nhưng lại có phong cách giao tiếp lịch lãm, sang trọng, nét mặt và nụ cười luôn cởi mở, thân thiện, mà họ còn rất ấn tượng bởi những lời phát biểu đầy thuyết phục, thông minh, lúc rắn rỏi, khi ví von dí dỏm... khiến cho thế giới phải nể trọng”.

Đánh giá cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (tháng 10/1973) viết: …“Cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao kéo dài 5 năm, phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và chính trị trong nước, gây ảnh hưởng chính trị rộng lớn trên thế giới, đã kết thúc thắng lợi… Hiệp định Paris đã ghi lại những thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta”.

Sau khi đất nước thống nhất, bà làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1976-1987), rồi Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1987-1992). Bà còn là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V (03/1982-1986), Đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá X (1976-2002).

Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu làm Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm (1992-2002). Bà là người phụ nữ Việt Nam thứ hai giữ chức vụ phó nguyên thủ và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên giữ chức vụ Phó chủ tịch nước.

Sau khi nghỉ hưu vào năm 2002, bà tiếp tục làm Chủ tịch của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam. Năm 2003, bà thành lập Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam và làm Chủ tịch của tổ chức này cho đến nay. Ngoài ra, bà cũng là Chủ tịch danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam kể từ khi hội này được thành lập vào tháng 1/2004.

Gia đình

Bà lập gia đình với ông Đinh Khang  năm 1955. Ông bà có hai người con: một trai một gái. Ông Đinh Khang qua đời năm 1989.

Phê bình

Phê bình

  • Về "phương thức lãnh đạo của Đảng" và con đường công tác của mình:

“Từ lâu, các đồng chí lãnh đạo cũng đã nêu ra phương thức của Đảng là "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", nhưng đến nay chưa được thể chế hóa, chưa có một văn bản nào quy định rõ ràng về phương thức lãnh đạo nói trên...Nếu số đông đảng viên là những người đúng tiêu chuẩn như Điều lệ Đảng đề ra, những công dân tốt, gương mẫu, những cán bộ có trách nhiệm, làm việc vì đất nước, vì nhân dân, v.v… thì chắc chắn tình hình của đất nước tốt hơn nhiều so với hiện nay".

Tác phẩm

  • Gia đình, bạn bè, đất nước (hồi ký), Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội, 2012 (đã được dịch sang tiếng Pháp)

Phong tặng

Nhận xét: Những năm tháng ấy (kháng chiến chống Mỹ), bà có mặt ở hầu khắp hành tinh, và thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin... Bà gọi công việc đó là “ngoại giao nhân dân”, nghĩa là con người đến với con người, trái tim đến với trái tim. Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua...”(http://vietnamnet.vn/, 18/01/2015).

12.22. Tố Hữu, tên thật là Nguyễn Kim Thành (4 tháng 10 năm 1920 – 9 tháng 12 năm 2002) là một tác gia có vị trí đặc biệt quan trọng, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam. Ông đã từng giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tố Hữu -Nguyễn Kim Thành  (https://vi.wikipedia.org/)

Ông sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920 tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cha ông là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt và phải kiếm sống rất chật vật nhưng lại thích thơ, thích sưu tập ca dao tục ngữ. Ông đã dạy Tố Hữu làm thơ cổ. Mẹ ông cũng là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thương con. Cha mẹ đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ Tố Hữu. Mẹ ông mất vào năm ông lên 12 tuổi. Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học Huế. Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl MarxFriedrich EngelsVladimir Ilyich Lenin, Maxim Gorky,... qua sách báo, kết hợp với sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ (Lê DuẩnPhan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu), Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản. Năm 1936 ông gia nhập Đoàn thanh niên.

Năm 1938 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Tháng 4/1939, ông bị bắt, bị tra tấn dã man và đày đi nhiều nhà lao. Cuối 1941, ông vượt ngục (về hoạt động bí mật ở huyện Hậu Lộc và thôn Tâm Quy xã Hà Tân huyện Hà Trung Thanh Hóa). Đến năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Thừa Thiên - Huế. Năm 1946, ông là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Cuối 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước:

1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam.

1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ.

1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền.

1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.

Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ông là Ủy viên dự khuyết Trung ương.

1955: Ủy viên chính thức.

Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư.

Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ông là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương.

Từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị.

1981: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng cho tới 1986. Ngoài ra ông còn là Bí thư Ban chấp hành Trung ương.

Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt 1).

Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Ông còn là Đại biểu Quốc hội khoá II và VII.

Ông mất lúc 9 giờ 15 phút ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108.

Tác phẩm của ông: Từ ấy (1946); Việt Bắc (1954); Gió lộng (1961); Ra trận (1962-1971); Máu và Hoa (1977); Một tiếng đờn (1992); Ta với ta (1999)

Phong tặng và Giải thưởng văn học chính

Giải nhất giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thơ Việt Bắc)

Giải thưởng Văn học ASEAN của Thái Lan năm 1996 cho tập thơ "Một tiếng đờn".

Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt 1, 1996)

  Huân chương Sao Vàng (1994).

Nhận định

Tôi chỉ biết ông là nhà thơ có nhiều bạn đọc nhất trong thời đại của ông. Tôi chỉ biết rằng ông đã sinh ra đúng thời. Giọng nói của ông là giọng nói của thời đại ấy. Có hai người làm thơ sinh đúng thời nhất: Tố Hữu và Trần Đăng Khoa. Tôi không hiểu nếu những năm tháng này, Tố Hữu đang 20 tuổi trai trẻ và Trần Đăng Khoa đang 8 tuổi ấu thơ thì giọng nói của họ sẽ vang lên như thế nào. Họ có tài và họ sẽ làm thơ. Nhưng họ sẽ viết những câu thơ ra sao? Tôi luôn luôn nghĩ Tố Hữu là người nghệ sĩ nhân dân. Thơ ông là bài ca vui bất tận. Khi thơ ông bước vào cái tuổi sung sức nhất lại chính là lúc dân tộc Việt Nam sau bao năm làm thân phận nô lệ đã thành người tự do. Ai sống trong thời đại ấy cũng sẽ quên đi những nỗi buồn cá nhân để cất cao tiếng hát của mình trong bài ca độc lập của dân tộc."- Tố Hữu và ngọn đèn đã tắt- Nguyễn Quang Thiều.

Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Nói đúng hơn, ông là nhà thơ lãng mạn cách mạng. Cả cuộc đời ông gắn bó với cách mạng. Thơ với đời là một. Trước sau đều nhất quán. Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ. Thơ ông dường như chỉ có một giọng. Đó là giọng hát tưng bừng ca ngợi cách mạng. Đọc ông trong bất cứ hoàn cảnh và tâm trạng nào, ta cũng thấy phấn chấn, náo nức như đi trẩy hội. Đến đâu cũng nghe vang tiếng trống, tiếng kèn. Mà thơ ông đâu chỉ có trống phách linh đình như một đám rước, ông còn bắn cả 21 phát đại bác vang trời. Cho đến nay, chỉ có ông là nhà thơ Việt Nam duy nhất đã bắn đại bác trang trọng như thế."- Chân dung và đối thoại- Trần Đăng Khoa.

" Thời đại ta đã may mắn có được nhà thơ Tố Hữu"- Hoài Thanh

 “Thơ là đi giữa nhạc và ý. Rơi vào cái vực ý, thì thơ sẽ sâu, nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc, thì thơ dễ làm đắm say người, nhưng cũng dễ nông cạn. Tố Hữu đã giữ được thế quân bình giữa hai vực thu hút ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý”.

(Chế Lan Viên - Lời nói đầu tuyển tập thơ Tố Hữu)

Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo. Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sống thực. Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính là người nông dân nghèo khổ”.

(Chặng đường mới của chúng ta, 1961, Hoàng Trung Thông)

Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng. Ðó chính là đặc sắc và cũng là bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ ca”.

(Lời giới thiệu tập thơ Từ ấy, Văn học, 1959, Đặng Thai Mai)

Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm rất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc.… Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài là chính… Anh là một con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp”.

(Lời nói đầu cho tuyển tập 1938 – 1963 của Tố Hữu, Văn học, 1964, Chế Lan Viên)

Nhà thi sĩ ấy tự muốn mình là tiếng nói của dân tộc mình. Vậy thì dân tộc ấy có năng khiếu thơ thông qua nhà thi sĩ. Các dân tộc hiện đại, đã công nghiệp hóa rồi, đã bị san phẳng bởi những phương tiện tuyên truyền, không còn có một năng khiếu về hình tượng như thế nữa; không còn suối nguồn ở bản thân mình nữa. Nhưng Tố Hữu đắm mình trong dân tộc của mình, đồng thời là một thi sĩ độc đáo, một nhà sáng tạo ra các hình thể. Người ta càng cảm thấy điều đó rõ hơn khi anh nói một cách rất hay về thơ”.

(Lời tựa tập thơ Máu và hoa, xuất bản ở Pháp, năm 1975, Pierre Emmanuel)

Một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng, tự nó cũng là ánh sáng, lại hết sức linh hoạt và uyển chuyển, mỗi lúc một khác, mỗi nơi một khác, kể cả những lúc chỉ là sự im lặng giữa các dòng thơ. Phải chăng đây chính là bản sắc riêng của thơ Tố Hữu”.

(Chuyện thơ, 1978, Hoài Thanh)

Thơ Tố Hữu bao giờ cũng mới, càng ngày càng mới, vì nó thể hiện thế giới quan cách mạng của chủ nghĩa Mác, hệ tư tưởng vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là những tư tưởng càng ngày càng trở thành cách nhìn, nếp sống phổ biến của những con người mới của thời đại”.

(Bình luận văn học, 1964, Như Phong)

Xuân Diệu cho rằng: “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”.

Có ý kiến cho rằng: Bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

Với Việt Bắc, hồn thơ cũng như nghề thơ Tố Hữu chín rộ…, không phải là một cây bút trong tay Tố Hữu nữa mà là nhiều ngọn bút nở cùng một lúc, bút tả tình, bút tả cảnh, bút tả người. Người ta thấy văn chương cách mạng chí nghĩa chí tình, cái văn chương nên thơ nên nhạc…”. (Xuân Diệu).

Việt Bắc trước hết là một bài thơ trữ tình - chính trị… Bài thơ là một khúc hát ân tình thủy chung réo rắt, đằm thắm bậc nhất, và chính điều đó làm nên sức ngân vang sâu thẳm, lâu bền của bài thơ…” (Trần Đình Sử). (https://loigiaihay.com/)

Vinh danh

Hiện nay, tên của ông được đặt tên cho một tuyến đường ở thủ đô Hà Nội, nối từ ngã tư Khuất Duy Tiến - Lê Văn Lương đến ngã tư Vạn Phúc - Yên Lộ, chạy qua hàng loạt các khu đô thị lớn như: khu đô thị mới Phùng Khoang, Trung Văn, Vạn Phúc… Ở Huế cũng có một con đường mang tên ông. (https://vi.wikipedia.org/)

12.23. Nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An

Họ và tên: Nguyễn Văn An

Ngày sinh: 01/10/1937

Quê quán: xã Mỹ Tân, ngoại thành NamĐịnh, tỉnh Nam Định

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

- 1954 - 1960: Công nhân điện Nhà máy điện Hà Nội.

- 1961 - 1967: Học nghiệp vụ trong nước 2 năm, sau là sinh viên Trường đại học Bách khoa Donesk (Liên Xô, nay thuộc Ukraina) 5 năm.

- 1967 - 1969: Về nước công tác ở Công ty điện lực Hà Nội.

- 1970 - 1972: Công tác ở Sở Điện III (Nam Định).

- 1972 - 1973: Phó Giám đốc kỹ thuật Công ty điện Nam Hà, Tỉnh uỷ viên dự khuyết Tỉnh ủy Nam Hà.

- 1974 - 1976: Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ tỉnh Nam Hà. Học ở Trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (khóa VII).

- Tháng 8/1976 - 1980: Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh, phụ trách công nghiệp, sau làm Bí thư Thành uỷ Nam Định.

- Tháng 11/1980: Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam Ninh.

- Tháng 4/1981: được bầu làm Đại biểu Quốc hội khoá VII, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế - Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội.

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3 năm 1982) được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam Ninh (1982-1987).

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) được bầu Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

- Tháng 9/1987: Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục làm Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/)

- Tháng 7/1996: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

- Tháng 4/2001: tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng.

- Ngày 27 tháng 6 năm 2001: tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá X, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/)

Nhận xét

Ông là người đứng đầu Quốc hội có nhiều cải cách làm cho hoạt động lập pháp đi vào thực chất hơn, nay biết thêm Nguyễn Văn An còn là một nhà hiền triết. (https://baomoi.com, 22/02/2016 )

Các câu nói

“Đảng đã chính thức cầm quyền hơn 80 năm, song cho đến giờ vẫn chưa có Luật về Đảng… Ngày nay, Đảng cầm quyền hợp hiến (trong Hiến pháp điều 4 đã ghi), càng cần phải có Luật để tránh bao biện, làm thay hay buông lỏng lãnh đạo; và cũng để dân có cơ sở giám sát, xây dựng Đảng; để nhà nước có cơ sở kiểm soát các tổ chức và đảng viên, cán bộ của Đảng làm theo Hiến pháp và pháp luật.” (https://baomoi.com, 22/02/2016 )

“Biết người, thắng người là Hữu vi, biết mình và thắng mình đó là Vô vi. “ (học thuyết của Lão Tử lấy Vô vi làm gốc. Đó là, Vô dục: bớt, đến tiêu diệt tham lam, ham muốn. Vô tranh: không tranh giành với ai thì cũng không ai tranh giành với mình) (https://baomoi.com, 22/02/2016 )

12.24. Nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Họ và tên khai sinh: NGUYỄN MINH TRIẾT

- Họ và tên thường gọi: Nguyễn Minh Triết

- Bí danh: Trần Phong (Sáu Phong)

- Ngày sinh: 08 tháng 10 năm 1942

- Quê quán: Xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương

- Thành phần gia đình xuất thân: Nông dân

- Ngày vào Đảng CSVN: 30/3/1965;  ngày chính thức: 30/3/1966

- Trình độ chuyên môn: Cử nhân toán

- Lý luận chính trị: Cử nhân

- Đại biểu Quốc hội khóa: IX, XI, XII

- Uỷ viên Trung ương Đảng khóa: VII, VIII, IX, X

- Uỷ viên Bộ Chính trị khóa: VIII, IX, X 

Tóm tắt quá trình công tác

- Từ 1960-11/1963: Học Khoa toán Đại học khoa học Sài Gòn, tham gia phong trào sinh viên, học sinh Sài Gòn; vào Chiến khu công tác ở khu Sài Gòn - Gia Định.

- Từ 12/1963-1973: Cán bộ nghiên cứu tại Trung ương Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng (Ban Thanh vận Trung ương Cục Miền Nam); Thường vụ Đoàn Thanh niên các cơ quan Trung ương Cục Miền Nam; đi công tác chiến trường tại tỉnh Mỹ Tho.

- Từ 1974-8/1979: Phó Văn phòng Trung ương Đoàn; Phó Ban thanh niên xung phong Trung ương Đoàn.

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết  (https://www.google.com/)

- Từ 9/1979-7/1981; Học trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

- Từ 7/1981-12/1987: Trưởng Ban thanh niên xung phong Trung ương Đoàn; Trưởng Ban mặt trận Trung ương Đoàn; Ủy viên ban Chấp hành Trung ương Đoàn; Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam.

- Từ 1/1988-9/1989: Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy tỉnh Sông Bé.

- Từ 10/1989-12/1991: Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Sông Bé; Uỷ viên Trung ương Đảng khóa VII (6/1991).

- Từ 12/1991-12/1996: Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé; Đại biểu Quốc hội khóa IX.

- Từ 01/1997-12/1997: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

- Từ 12/1997-01/2000: Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban dân vận Trung ương.

- Từ 01/2000-6/2006: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Đại biểu Quốc hội khóa XI.

- Từ 6/2006-7/2011: Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; Đại biểu Quốc hội khóa XII.

- Tháng 9/2011: Nghỉ hưu. (https://vpctn.gov.vn/)

Tháng 6 năm 2007, trên cương vị Chủ tịch nước, ông sang thăm chính thức Hoa Kỳ theo lời mời của Tổng thống George W. Bush. Trong chuyến đi này, ông đã gặp khoảng 800 thương gia ở Quận Cam, tiểu bang California, mà trong đó phần đông là người gốc Việt. Tại đây ông đã nói về dân tộc Việt Nam, sự đoàn kết dân tộc, cũng như việc chính quyền Việt Nam không có thành kiến với những người có quan điểm khác biệt...  Cũng trong chuyến đi này, ông được xem là đã làm thay đổi nhiều định kiến về Việt Nam bấy lâu của những nghị sĩ Hoa Kỳ với tính bình tĩnh trả lời khôn khéo của mình, giải tỏa nhiều vấn đề phức tạp. Đặc biệt là đã trả lời được hết những uẩn khúc của Chủ tịch hạ viện bà Nancy Pelosi.

Trong quá trình công tác, ông đã nhận được Huân chương Độc lập hạng nhì và Huân chương Kháng chiến hạng nhất.( https://vi.wikipedia.org)

12.25. Nguyên Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Chức vụ hiện nay: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bí thư Quân ủy Trung ương.

- Ngày sinh: 14/4/1944.

- Dân tộc: Kinh.

- Quê quán: xã Đông Hội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Nơi ở hiện nay: số 5 phố Thiền Quang, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Thành phần gia đình: bần nông.

- Nghề nghiệp khi được tuyển dụng: học sinh.

- Ngày được tuyển dụng làm cán bộ, công chức, viên chức: 05/12/1967

- Ngày vào Đảng: 19/12/1967; Ngày chính thức: 19/12/1968

- Trình độ được đào tạo:

+ Giáo dục phổ thông: Tốt nghiệp hệ 10 năm.

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội (hệ 4 năm).

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (https://vpctn.gov.vn/)

+ Học hàm, học vị: Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành xây dựng Đảng).

+ Lý luận chính trị: Cao cấp.

+ Ngoại ngữ: Tiếng Nga.

- Khen thưởng: Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huy chương vì sự nghiệp văn hoá, Huy chương vì sự nghiệp báo chí, Huy chương vì sự nghiệp thế hệ trẻ, Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Tạp chí Lý luận của Đảng"...

- Kỷ luật: không

- Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá VII, VIII, IX, X, XI, XII.

- Ủy viên Bộ Chính trị các khoá VIII, IX, X, XI, XII; tham gia Thường trực Bộ Chính trị khoá VIII.

- Đại biểu Quốc hội các khoá XI, XII, XIII, XIV.

Tóm tắt quá trình công tác

1957 - 1963: Học trường Phổ thông cấp 2, cấp 3 Nguyễn Gia Thiều, Gia Lâm, Hà Nội;

1963 - 1967: Sinh viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

12/1967 - 7/1968: Cán bộ Phòng Tư liệu Tạp chí học tập (nay là Tạp chí Cộng sản).

7/1968 - 8/1973: Cán bộ biên tập Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản; đi thực tập ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (năm 1971); là Bí thư Chi đoàn Cơ quan Tạp chí Cộng sản (1969 - 1973).

8/1973 - 4/1976: Nghiên cứu sinh Khoa Kinh tế - Chính trị tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Chi Ủy viên.

5/1976 - 8/1980: Cán bộ biên tập Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản, Phó Bí thư Chi bộ.

9/1980 - 8/1981: Học Nga văn tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.

9/1981 - 7/1983: Thực tập sinh và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) Khoa Xây dựng Đảng thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Liên Xô.

8/1983 - 2/1989: Phó ban Xây dựng Đảng (10/1983), Trưởng Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản (9/1987); Phó Bí thư Đảng ủy (7/1985 - 12/1988), Bí thư Đảng ủy Cơ quan Tạp chí Cộng sản (12/1988 - 12/1991).

3/1989 - 4/1990: Ủy viên Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản.

5/1990 - 7/1991: Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.

8/1991 - 8/1996: Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.

01/1994 - đến nay: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá VII, VIII, IX, X, XI, XII.

 8/1996 - 02/1998: Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, kiêm Trưởng Ban cán sự Đại học và trực tiếp phụ trách Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội.

 12/1997 - đến nay:  Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá VIII, IX, X, XI, XII.

 02/1998 - 01/2000: Phụ trách công tác tư tưởng - văn hoá và khoa giáo của Đảng.

 8/1999 - 4/2001: Tham gia Thường trực Bộ Chính trị.

 3/1998 - 8/2006: Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (3/1998 - 11/2001); Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng (11/2001 - 8/2006).

 01/2000 - 6/2006: Bí thư Thành ủy Hà Nội các khoá XII, XIII, XIV.

 5/2002 - đến nay: Đại biểu Quốc hội các khoá XI, XII, XIII, XIV.

 6/2006 - 7/2011: Chủ tịch Quốc hội khoá XI, XII, Bí thư Đảng đoàn Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

 01/2011 - đến nay: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI, XII, Bí thư Quân ủy Trung ương.

 02/2013 - đến nay: Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.

 08/2016 - đến nay: Tham gia Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương nhiệm kỳ 2015 - 2020.

10/2018: Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV, đồng chí được bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 2016 - 2021. (https://vpctn.gov.vn/)

30/1/2021 Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ông tiếp tục được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, nhiệm kỳ 2021-2026.

31/1/2021 Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, ông được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng khóa XIII, nhiệm kỳ 2021-2026. (https://vietnamnet.vn/)

Những cuộc gặp gỡ Lịch sử với Tổng thống Hoa Kỳ

2015 Chuyến thăm lịch sử tới Hoa Kỳ

Ngày 6 tháng 7 năm 2015, Ông Nguyễn Phú Trọng đến Mỹ để bắt đầu chuyến viếng thăm Hoa kỳ kéo dài đến ngày 10/7. Đây là lần đầu tiên một người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam viếng thăm chính thức nước Mỹ, được Tổng thống Hoa Kỳ tiếp đón tại Phòng Bầu dục. Chuyến thăm này trùng hợp với cái mốc 20 năm kể từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Cuộc nói chuyện với Tổng thống Obama là về vấn đề nhân quyền, an ninh quốc phòng và Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương. (https://vi.wikipedia.org)

Chuyến thăm đã nhận được sự đón nhận hồ hởi, tích cực từ chính giới và ngành ngoại giao Mỹ. Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tiếp Tổng Bí thư tại nhà riêng của ông trong không khí rất thân tình. Thượng nghị sĩ John McCain cũng đón tiếp nồng hậu người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam và thể hiện những mong mỏi tốt đẹp cho quan hệ giữa hai nước.

Bản thân Tổng thống nước chủ nhà Obama thì nhấn mạnh đến những tiến bộ trong mối quan hệ Mỹ-Việt trong vòng 20 năm qua, và bày tỏ vui mừng trước chuyến thăm Mỹ lần đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đúng vào dịp 2 nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Nhiều tờ báo đã bình luận về chi tiết nhiều ý nghĩa là việc Tổng thống Obama đã tiếp Tổng Bí thư – người đứng đầu một đảng – tại phòng Bầu dục của Nhà Trắng.

Toàn cảnh chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú TrọngÔng Murray Hiebert, Phó Chủ nhiệm Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), đánh giá: “Nhìn một cách tổng thể, chuyến thăm đã mang lại kết quả tích cực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những cuộc gặp gỡ rất hữu ích tại Nhà Trắng, tại Quốc hội cũng như với khu vực tư nhân của Mỹ”.

Ngày 7/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có cuộc hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tại phòng Bầu dục của Nhà Trắng. (Ảnh: AFP)

Truyền thông và học giả thế giới nhấn mạnh, chuyến thăm đầu tiên của một người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tới Mỹ có ý nghĩa biểu tượng rất cao, thể hiện mối quan hệ Việt-Mỹ sâu sắc dù có thể không ồn ào ở bề ngoài, một quan hệ đặc biệt vượt qua quá khứ đau thương để hướng tới tương lai tươi đẹp.

Cựu Tổng thống Bill Clinton thì nói:  “Tôi chắc rằng, người Hoa Kỳ rất yêu mến nhân dân Việt Nam. Họ muốn làm bạn với nhân dân Việt Nam và họ muốn thấy nhân dân hai nước cùng nắm tay nhau, cùng có lợi, cùng phát triển, cùng đi đến tương lai.”(http://vov.vn, 13/07/2015)

Học giả Ernest Bower của “túi khôn” CSIS (Mỹ) nhận định: “kết quả lớn nhất của chuyến thăm là bảo đảm xây dựng “lòng tin chiến lược” giữa hai nước”.

Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đưa quan hệ giữa hai nước lên tầm cao mới.

Ông Anthony Nelson - một giám đốc của Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN, nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư đã khẳng định mức độ kết nối sâu rộng của Việt Nam với nền kinh tế toàn cầu, đồng thời chỉ ra con số gia tăng ấn tượng thương mại hai chiều Mỹ-Việt từ năm 1995 cho tới nay.( http://vov.vn/)

  New York Times đánh giá ông góp phần giúp Việt Nam tham gia vào Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ông cũng là người đầu tiên thăm Mỹ trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.(http://vnexpress.net/).

Năm 2023 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón, hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden

Chiều 10-9, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì lễ đón chính thức Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sang thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 đến 11-9. Ngay sau Lễ đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng thống Biden.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Joe Biden nhất trí rằng, thực tế đã qua cho thấy những yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là việc tôn trọng đầy đủ những nguyên tắc cơ bản định hướng cho quan hệ hai nước, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Tổng Bí thư nhấn mạnh sự hiểu biết lẫn nhau, hoàn cảnh của nhau, tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau luôn có ý nghĩa quan trọng. Phương châm đặc thù cho sự phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai”. Việt Nam đánh giá cao và coi trọng khẳng định của Hoa Kỳ là ủng hộ Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”. (https://www.qdnd.vn/, ngày 16/9/2023).

Bản tin thời sự tổng hợp tuần: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đón, hội đàm với Tổng thống Hoa KỳQua cuộc hội đàm Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã phát biểu với báo chí Việt Nam, Hoa Kỳ và quốc tế: “Ngày hôm nay chúng ta có thể nhìn lại chặng đường quan hệ giữa hai nước, từ xung đột tới bình thường hóa và việc nâng cấp mối quan hệ đó lên tầm cao mới sẽ là một động lực cho thịnh vượng và an ninh tại một trong những khu vực quan trọng nhất trên thế giới”. Chúng ta nâng cấp quan hệ hai nước lên mức quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện và chúng tôi rất vui vì điều này. Đây là một bước đi vô cùng quan trọng cho cả hai quốc gia bởi nó thể hiện sức mạnh của bản thân mối quan hệ đó khi chúng ta đang phải đương đầu với những thách thức có tác động to lớn đối với tương lai của khu vực và cả thế giới... Sự hợp tác của chúng ta trên những vấn đề đau thương này cũng như việc tạo dựng một di sản mới, một di sản của nền hòa bình và thịnh vượng chung là một minh chứng cho sự tự cường và tinh thần của hai dân tộc chúng ta.

Quang cảnh cuộc hội đàm tại trụ sở Trung ương Đảng ngày 10/9/2023. (Ảnh: qdnd.vn)

Đây cũng là một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng, những gì chúng ta đạt được khi có thể vượt lên một quá khứ đau thương để đón nhận những bước tiến của tương lai, dựa trên sự thống nhất và đoàn kết của hai dân tộc.

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với báo chí sau cuộc hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe BidenMột lần nữa, tôi xin cảm ơn ngài Tổng Bí thư. Việt Nam là một quốc gia quan trọng trên thế giới và trong khu vực. Tôi trông đợi và đón chờ một chương mới trong quan hệ của hai nước chúng ta”.

Và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu với báo chí sau cuộc hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu với báo chí sau cuộc hội đàm. (Ảnh: qdnd.vn)

Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, tôi nhiệt liệt chào mừng Ngài Tổng thống Joe Biden, người đã dành tình cảm đặc biệt đối với đất nước, nhân dân Việt Nam và ở những cương vị khác nhau luôn dành nhiều sự ủng hộ quý báu cho việc phát triển quan hệ hữu nghị Việt Nam - Hoa Kỳ. Ngài đến thăm Việt Nam đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm xác lập quan hệ Đối tác toàn diện”.

“Tôi luôn lưu giữ những kỷ niệm tốt đẹp về sự đón tiếp trọng thị của Chính phủ Hoa Kỳ và tình cảm của nhân dân Hoa Kỳ trong chuyến thăm của tôi vào tháng 7-2015, đặc biệt là cuộc trao đổi chân tình, thú vị giữa tôi và Ngài Joe Biden trong chuyến thăm. Tôi cũng cảm ơn Ngài Tổng thống Joe Biden tháng 6 vừa qua đã gửi thư mời tôi thăm lại Hoa Kỳ.

Trong không khí hữu nghị, bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôi và Ngài Tổng thống Joe Biden vừa có cuộc hội đàm sâu rộng, đạt kết quả tốt đẹp. Hai bên thống nhất cho rằng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những bước phát triển mạnh mẽ, sâu sắc, thực chất, hiệu quả kể từ khi bình thường hóa và sau khi xác lập quan hệ Đối tác toàn diện. Nhân dịp này, tôi thay mặt nhân dân Việt Nam gửi lời chào và cảm ơn các tổ chức, cá nhân Hoa Kỳ đã ủng hộ Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Trên cơ sở đó, vì lợi ích của nhân dân hai nước và mong muốn tăng cường hợp tác nhằm các mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững trong bối cảnh mới, tôi và Ngài Tổng thống Joe Biden đã thay mặt hai nước thông qua Tuyên bố chung, thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững...”. (https://www.qdnd.vn/, ngày 16/9/2023)..

Theo VOV.VN - Nhiều tờ báo lớn trên thế giới đã đưa tin và đăng tải các bài viết về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, trong đó nhấn mạnh sự coi trọng của Mỹ dành cho mối quan hệ với Việt Nam, cũng như vai trò của Việt Nam tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. AFP của Pháp dẫn lời Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan cho biết, trong nhiều thập kỷ, Mỹ và Việt Nam đã nỗ lực vượt qua đau thương của chiến tranh. Chuyến thăm là một bước tiến đáng chú ý trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước, phản ánh vai trò của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

bao chi quoc te danh gia tich cuc chuyen tham viet nam cua tong thong joe biden hinh anh 1

Bình luận về chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của một Tổng thống Mỹ tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, hãng tin CNN của Mỹ nhấn mạnh mong muốn của Mỹ trở thành một đối tác hấp dẫn và đáng tin cậy của Việt Nam, cũng như khu vực và các quốc gia đang phát triển trên thế giới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiệt liệt chào mừng Tổng thống Joe Biden cùng Đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam.(Ảnh: https://vov.vn/)

Hãng tin AP trích dẫn phát biểu của Tổng thống Joe Biden tại cuộc gặp với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng làm nhan đề bài viết: “Quan hệ Mỹ- Việt phát triển từ quá khứ cay đắng của chiến tranh”.  Theo bài viết, Tổng thống Joe Biden đã mở màn chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam với tuyên bố hai nước đang đứng trước cơ hội định hình khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương trong nhiều thập kỷ tới. Đây là bằng chứng cho thấy mối quan hệ hai nước đã phát triển như thế nào so với cách đây gần nửa thế kỷ.

Thời báo New York gắn chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden với sứ mệnh thắt chặt quan hệ sâu sắc hơn giữa hai nước. Việc nâng cấp quan hệ từ “Đối tác Toàn diện” lên “Đối tác chiến lược toàn diện vì hoà bình, hợp tác, phát triển bền vững” là bước đi có ý nghĩa biểu tượng cao và là điều mà Mỹ mong muốn thực hiện từ lâu.

Theo Aljazeera, chuyến thăm là một bước đáng chú ý trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam. Hai nước đã vượt qua “di sản chung đau đớn” của những năm chiến tranh để trở thành “đối tác chiến lược toàn diện”, thể hiện bước đột phá đáng chú ý trong quan hệ song phương. (https://vov.vn/, ngày 11/9/2023).

Báo Chinhphu.vn ngày 11/9/2023 trong bài “Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden thu hút báo chí quốc tế” đã đăng:

 Thông tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden được hàng loạt tờ báo, hãng tin lớn đăng tải với những bình luận tích cực.

AFP cho rằng, "chuyến thăm này là một bước tiến đáng chú ý trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước". Theo France 24, việc các đời Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam, kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton vào tháng 11/2000, đã phản ánh vai trò của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.

Đưa tin về chuyến thăm, Reuters và NBC News đều nhận định Hoa Kỳ giờ đây coi Việt Nam là một "đối tác quan trọng trong khu vực".

"Chúng ta có mối quan hệ rất tốt với Việt Nam và mối quan hệ đó đang được cải thiện trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm cơ hội để cải thiện mối quan hệ đó. Đây là mối quan hệ quan trọng ở một khu vực rất quan trọng trên thế giới", kênh CNN dẫn lời người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ John Kirby nói, khi đưa tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden.

Báo Economist, Anh, cho biết ông Biden là Tổng thống Mỹ thứ 5 tới Việt Nam trong thời gian tại nhiệm. Dù vậy, sự kiện lần này chắn chắn có ý nghĩa quan trọng nhất kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton năm 2000, do đây là lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ thăm cấp nhà nước theo lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo Washington Post dẫn lời Thomas Vallely, người từng tham gia lên kế hoạch thăm Việt Nam cho nhiều lãnh đạo Mỹ cho hay, về mặt lịch sử, đây là chuyến thăm Việt Nam "có ý nghĩa lớn lao nhất từ trước đến nay của một tổng thống Mỹ" và sẽ góp phần tăng cường quan hệ giữa hai quốc gia.

Theo Diplomat, sẽ rất tuyệt vời nếu Tổng thống Hoa Kỳ có thể "ở lại Hà Nội lâu hơn, dạo quanh hồ Hoàn Kiếm và thậm chí ghé vào một quán ăn ven đường để thưởng thức hương vị địa phương, như Tổng thống Barack Obama đã làm cách đây 7 năm". "Dù vậy, chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Joe Biden vẫn được coi là một thời khắc lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ", Diplomat bình luận.

Các trang tin, tờ báo ở khu vực cũng đồng loạt đưa tin về chuyến thăm với những nhận định tích cực.

Trích dẫn lời của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, The Business Times của Singapore khẳng định, chuyến thăm "sẽ phát triển quan hệ song phương một cách bền vững, thực chất và lâu dài, đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới", nhấn mạnh "Washington đang coi Việt Nam là một đối tác quan trọng". (https://baochinhphu.vn/, ngat 11/9/2023)

Phong tặng

Huân chương José Martí của nhà nước Cuba (năm 2012) http://baobaclieu.vn/).

Nhận xét về Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Năm 2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã bắt đầu chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt của ông. Tháng 5/2016, Tổng Bí thư thành lập 7 đoàn kiểm tra, giám sát các vụ án tham nhũng. Nhiều học giả, chuyên gia, chính trị gia cho rằng, sở dĩ những chỉ đạo của Tổng Bí thư có uy lực lớn, có sức hiệu triệu nhân tâm, một phần vì bản thân ông là một tấm gương thực sự liêm chính trong cả công việc và đời sống. Nhiều ý kiến từ thủ tướng, các đại biểu quốc hội, các nhà phân tích cho rằng chiến dịch chống tham nhũng của ông được người dân nhiệt tình ủng hộ. Phòng chống tham nhũng là khát vọng của nhân dân và là trách nhiệm của Đảng cầm quyền đối với nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được coi là người “nhóm lò” cho chiến dịch mà như ông nói một cách hình tượng “Cái lò (chống tham nhũng) đã nóng lên rồi thì củi tươi (chỉ những đối tượng tham nhũng) vào đây cũng phải cháy”.

Báo Bạc Liêu – Tiếng nói của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Bạc Liêu ngày 10/05/2023 trong bài “ Nắm chắc tư tưởng của Tổng Bí thư, chủ động phòng, chống tham những, tiêu cực” có đoạn viết: “ Tháng 4.2023, Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng năm 2022, Việt Nam đạt 42/100 điểm, xếp hạng 77/180 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 3 điểm và 10 bậc so với khảo sát năm 2021 và tăng 6 điểm, 27 bậc so với năm 2020. Phải chăng, ở Việt Nam “một đảng lãnh đạo không thể chống được tham nhũng” (http://baobaclieu.vn/).

Nhà báo Nhị Lê, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản nói về tính cách và quyết tâm chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:

Từ khi tôi được biết ông cho tới ngày hôm nay, ông vẫn luôn là người dễ gần, giản dị đến mộc mạc, nghĩa tình, trong sạch, liêm khiết, tận tụy, thủy chung, nhưng cũng hết sức quyết liệt và cực kỳ cẩn trọng. Ông luôn lo cho người khác, còn nỗi buồn, nỗi đau ông cố giữ lại cho riêng mình. Khi còn ở Tạp chí Cộng sản đã 3 lần ông bị chảy máu dạ dày. Có lần tôi chứng kiến tay trái ông ôm bụng, tay phải vẫn duyệt bài. Ông không bao giờ kêu ca, phàn nàn về bất cứ thứ gì.
Cách đây 3 tuần, tôi được Tổng Bí thư cho gọi lên phòng làm việc của ông. Trong câu chuyện với Tổng Bí thư, tôi có thưa với ông: “Anh đã đánh trống rồi, người dân đang mong anh đánh trống trận”. Tổng Bí thư nói đây là hồi trống vào trận chống tham nhũng.... việc Tổng Bí thư gióng hồi trống chống tham nhũng đã đáp ứng được lòng mong mỏi của người dân”.

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ cho rằng:

Mấy tháng gần đây nhiều vụ án đã được phanh phui để trừng trị những kẻ xấu làm thất thoát công quỹ quốc gia và rõ ràng là nó chứng tỏ thái độ cương quyết của Đảng, trong việc nói và làm, giữ lời hứa với nhân dân: không có ngoại lệ cho các vụ việc sai phạm.
Là một nhà văn tuổi già sức yếu, không còn tham vọng cống hiến gì hơn nữa cho nhân dân, Tổ quốc, tôi chỉ còn có thể phát biểu, hết sức ủng hộ Đảng, Bộ Chính trị mà đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với những hành động cụ thể, mang hiệu ứng xã hội rất lớn”.
(https://vi.wikipedia.org)

Theo https://laodong.vn/ ngày 30/06/2022 trong tựa đề: “Những câu nói ấn tượng của Tổng Bí thư về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” có nêu:

 “Cán bộ vào Ban Chỉ đạo chống tham nhũng mà lại tư túi, vướng vào tham nhũng thì còn chống ai nữa. Ông nào vướng vào, tôi xử trước, xin nói thẳng là như thế”.

 “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì mới dẫn đến tham nhũng, đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống”…

“Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất!”.

 “Tôi nói là không dừng, không nghỉ, không kể đó là ai, không có vùng cấm”.

 “Nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”.

 “Kiên quyết loại khỏi bộ máy những cán bộ hư hỏng, tham nhũng”.

 “Việc xử lý kỷ luật cán bộ có sai phạm, trước nói đánh từ vai đánh xuống, nhưng giờ đánh trên đầu nhiều hơn”.

 “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”.

 “Đi làm gì cũng phải phong bao phong bì, lót tay, gợi ý. Tham nhũng vặt như ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu chứ không phải chỉ có tham nhũng lớn”.

Tổng bí thư Đảng Cộng sản VN, Giáo sư Nguyễn Phú Trọng được truyền thông nhà nước ca ngợi là 'Người đốt lò vĩ đại' với chiến dịch chống tham nhũng của ông.

Bài báo của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) hôm 19/2/2018 so sánh Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với 'sỹ phu Bắc Hà'. "Nhớ đến chuyện xưa đầy khí phách của sĩ phu tiền nhân liên hệ đến chiếc lò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được nhóm lên bằng ý chí quyết tâm tiêu diệt bằng được hiểm họa của đại dịch tham nhũng", theo bài báo trên VOV:

"Đó là đại dịch có nguy cơ làm suy sụp rường cột quốc gia, làm băng hoại đạo đức đảng viên - những người từng được dân tin, dân yêu."

"Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - với tư cách là người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn ra mối nguy cơ của đại dịch tham nhũng, bằng tất cả dũng khí và mưu lược của một kẻ sĩ Bắc Hà đã phất lên ngọn cờ tiêu diệt bằng được sự tham nhũng, sự lộng quyền."

"Ông trở thành một người đốt lò vĩ đại đã nhóm lên chiếc lò được cháy lên bằng ngọn lửa của lương tâm, và công lý để thiêu hủy bằng được cơn đại dịch tham nhũng và lạm quyền."

"Lò lửa chống tham nhũng đang ngùn ngụt cháy đúng như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng "Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy".

'Người đốt lò vĩ đại' Nguyễn Phú Trọng cũng có bài trả lời phỏng vấn truyền thông Việt Nam nhân xuân 2018, trong đó ông nói về kết quả chống tham nhũng năm qua.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói:

"Nhìn lại năm vừa qua, có thể thấy công tác phòng, chống tham nhũng được chỉ đạo, tiến hành một cách quyết liệt, đồng bộ hơn, bài bản, chắc chắn, với tinh thần nói đi đôi với làm và làm cho bằng được, vì vậy đã tạo được chuyển biến tích cực khiến nhân dân tin tưởng, phấn chấn hơn."

"Nhiều vụ tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng đã được đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật, trong đó có cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao, cán bộ đương chức và cán bộ nghỉ hưu có vi phạm."

Ông nói các vụ án này " không có "vùng cấm" trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, công - tội phân minh, sai đến đâu xử đến đó."

"Đi nhiều nơi, tiếp xúc qua nhiều kênh, hiểu rõ lòng dân thì thấy mừng, vì nhân dân đồng thuận rất cao, luôn đồng hành, ủng hộ Đảng, Nhà nước trong nỗ lực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực."

"Lò" nóng lên là do tất cả cùng vào cuộc, cùng quyết tâm "đốt lò" để đẩy lùi tham nhũng,"  Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói trong bài phỏng vấn được hàng loạt báo Việt Nam đăng tải ngày 20/2/2018.

Cuối tháng 1/2018, Thông tấn xã Việt Nam đăng nội dung phỏng vấn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong đó ông nói việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt một số thành tựu và nhắc đến câu nói trên.

Tổng bí thư Trọng được cho là đề cập đến 'lò nóng' lần đầu tại Phiên họp thứ 12 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng tổ chức ngày 31/7/2017.

VOV thời điểm đó trích lời ông Trọng: "Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy."

Báo BBC tiếng Việt ngày 20 thg 2, 2018 — Tổng bí thư Đảng Cộng sản VNGiáo sư Nguyễn Phú Trọng được truyền thông nhà nước ca ngợi là 'Người đốt lò vĩ đạivới chiến dịch chống tham nhũng.

Tấm gương sáng của Đảng

Tại lễ trao Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng hôm 29/1/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đánh giá 'là tấm gương sáng tiêu biểu để cán bộ, đảng viên noi theo'.

Lời chúc mừng tại buổi lễ dành cho giáo sư Nguyễn Phú Trọng nhắc rằng ông cùng tập thể "xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn".

Ông được đánh giá là người "luôn sống giản dị, khiêm tốn, mẫu mực, chân thành". (http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam, 20/2/2018)

12.26. Nguyễn Tấn Dũng (sinh ngày 17 tháng 11 năm 1949 tại Cà Mau) nguyên là Thủ tướng  của nước CHXHCN Việt Nam.

Chức vụ: 

Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI (dự khuyết), VII, VIII, IX, X, XI

Uỷ viên Bộ Chính trị khoá VIII, IX, X, XI

Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Đại biểu Quốc hội khoá X, XI, XII, XIII

Trình lý luận chính trị: Cao cấp

Trình độ học vấn: Cử nhân Luật

Khen thưởng:

Huân chương Kháng chiến hạng nhất; hai Huân chương Chiến công hạng 3; 6 danh hiệu Dũng sĩ; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2, 3; Huân chương Hữu nghị hạng Đặc biệt của Nhà nước - Hoàng gia Campuchia. Huân chương ISALA và Huân

Ông Nguyễn Tấn Dũng (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/)

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

11/1961- 9/1981: Tham gia Quân đội, làm văn thư, liên lạc, cứu thương, y tá, y sỹ, bổ túc chương trình phẫu thuật ngoại khóa của bác sĩ quân y và đã qua các cấp bậc-chức vụ: Tiểu đội bậc trưởng, Trung đội bậc trưởng, Đại đội bậc phó, Đại đội bậc trưởng - Đội trưởng Đội phẫu thuật, Đại đội trưởng và Chính trị viên trưởng Đại đội Quân y (Bí thư Chi bộ Đảng thuộc Tỉnh đội Rạch Giá (hiện nay là tỉnh Kiên Giang).

- Học khóa sỹ quan chỉ huy cấp tiểu đoàn-trung đoàn bộ binh và đảm nhiệm nhiệm vụ: Thượng úy - Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Bộ binh 207 (Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn) và Đại úy - Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Bộ binh 152 (Ủy viên Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn) chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp bạn Campuchia. Thiếu tá - Trưởng ban Cán bộ (Phó Bí thư Đảng ủy Phòng Chính trị) thuộc Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kiên Giang.

10/1981 - 12/1994: Học Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội) và lần lượt qua các chức vụ: Tỉnh ủy viên - Phó ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang. Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Kiên Giang - Bí thư Huyện ủy Hà Tiên. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Kiên Giang. Phó Bí thư Tỉnh ủy - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang; đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh. Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang - Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng ủy viên Đảng uỷ Quân khu 9.

6/1986: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, được bầu ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

6/1991: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, được bầu là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

1/1995-5/1996: Thứ trưởng Bộ Công an, Đảng ủy viên – Đảng ủy Công an Trung ương.

6/1996: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. 

6/1996 - 8/1997: Trưởng ban Kinh tế Trung ương và phụ trách công tác tài chính của Đảng.

9/1997: Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa X, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ. 

9/1997 - 6/2006: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Ban cán sự đảng Chính phủ – Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ. Kiêm nhiệm các chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Tài chính tiền tệ quốc gia; Trưởng ban chỉ đạo Tây nguyên; Trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về các công trình trọng điểm Quốc gia; Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước; Trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tội phạm; Chủ tịch Hội đồng đặc xá Trung ương và Trưởng ban chỉ đạo một số công tác khác.

5/1998 - 12/1999: Kiêm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bí thư Ban cán sự đảng Ngân hàng Nhà nước.

4/2001: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI.

8/2002: Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XI, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ.

4/2006: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

27/6/2006: Tại kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XI được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ.

28/7/2006: Thủ tướng Chính phủ, Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng.

7/2006 : Thủ tướng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ. Kiêm nhiệm các chức vụ: Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng; Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh; Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương; Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Giáo dục; Trưởng ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ; Trưởng ban Chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng; Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Tiểu ban xây dựng Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 - 2020).

1/2011: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị (khóa XI).

Từ 7/2011 đến 4/2016: Thủ tướng Chính phủ, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/, ngày16/4/2018)

 12.27. Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Nguyễn Sinh Hùng sinh ngày 18 tháng 1 năm 1946, thuộc dòng họ Nguyễn Sinh ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An 

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VIII, IX, X, XI;

Ủy viên Bộ Chính trị khóa X, XI;

Đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII, XIII;

Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ (7/2006 - 7/2011);

Chủ tịch Quốc hội (từ 7/2011 - 3/2016)

Chuyên môn: Tiến sỹ kinh tế

Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn)

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

9/1966 - 12/1970: Sinh viên ĐH Tài chính – Kế toán Hà Nội

1/1972 - 12/1977: Cán bộ Ngân hàng Kiến thiết Trung ương, Bộ Tài chính

1/1978 - 9/1982: Nghiên cứu sinh tại ĐH Kinh tế Các Mác, Bungari

10/1982 - 10/1986: Phụ trách Phòng Tổng hợp rồi Trưởng Phòng Tổng hợp, Phó Vụ trưởng, sau là Vụ trưởng Đầu tư xây dựng cơ bản, Bộ Tài chính.

10/1986 - 1/1990: Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan, Chánh văn phòng Bộ Tài chính; Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Khối Kinh tế Trung ương.

2/1990 - 9/1992: Cục trưởng Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính.

10/1992 - 11/1996: Phó Bí thư Ban cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Tài chính.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tài chính.

11/1996 - 6/2006: Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng; Đại biểu Quốc hội khóa X, XI.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Từ 7/2006: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng thường trực Chính phủ. Phó bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ; Đại biểu Quốc hội khóa XII. Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị; đại biểu Quốc hội khóa XIII.

Ngày 23/7/2011, được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Quốc hội khoá XIII (2011 - 2016)

Ngày 30/3/2016, được Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội và nghỉ chế độ (https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/, ngày 27/5/2018 )

Khen thưởng

Huân chương Lao động hạng Nhất (2002) 

Huân chương Itsara hạng Nhất của Lào (năm 2007) (https://vi.wikipedia.org/).

12.28. Nguyễn Xuân Phúc 

Ngày sinh: 20/07/1954

Quê quán: Xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Dân tộc: Kinh

Ngày vào Đảng: 12/05/1982                      Ngày chính thức: 12/11/1983

Trình độ đào tạo:

- Giáo dục phổ thông: 10/10

- Chuyên môn nghiệp vụ: Cử nhân kinh tế

- Lý luận chính trị: Cao cấp

- Ngoại ngữ: Tiếng Anh; Tiếng Nga

Thủ tướng Chính phủ  Nguyễn Xuân Phúc (http://chinhphu.vn)

Khen thưởng:

- Các Huân chương Lao động hạng Ba năm 2001, hạng Nhì năm 2005, hạng Nhất năm 2009;

- Huân chương Chiến công hạng Ba năm 2003;

- Huân chương Vàng Quốc gia của Nhà nước CHDCND Lào năm 2017

- Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 2000 và 2010

Chức vụ:

- Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng các khóa X, XI, XII, XIII

- Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, XII, XIII

- Đại biểu Quốc hội khóa XI, XIII, XIV, XV

- Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 05/04/2021)

Tóm tắt quá trình công tác

Từ 1966 - 1968: Lên chiến khu Cách mạng, được Đảng đưa ra miền Bắc đào tạo, học phổ thông cấp II.

Từ 1968 - 1972: Học sinh cấp II, cấp III, Bí thư Chi đoàn, Bí thư Đoàn trường cấp III tại Hà Nội.

Từ 1973 - 1977: Sinh viên Khoa Kinh tế công nghiệp KI5, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. Bí thư Chi đoàn.

Từ 1978 - 1979: Cán bộ Ban Quản lý kinh tế tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Từ 1979 - 1993: Chuyên viên, Phó Văn phòng, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Bí thư Đảng ủy cơ quan, Đảng ủy viên Đảng ủy Khối dân chính đảng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng khoá 1, 2. Học quản lý hành chính nhà nước tại Học viện Hành chính Quốc gia.

Từ 1993 - 1996: Giám đốc Sở Du lịch kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị Khu du lịch Furama Đà Nẵng, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng khoá 15, 16. Học lý luận chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; học quản lý kinh tế tại Đại học Quốc gia Singapore.

Từ 1997 - 2001: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam khoá 17, 18, Phó Chủ tịch rồi Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Nam; kiêm Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Quảng Nam, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Quảng Nam. Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam khoá 6.

Từ 2001 - 2004: Phó Bí thư Tỉnh ủy khóa 18, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam khóa 6, kiêm Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật tỉnh Quảng Nam. Đại biểu Quốc hội khoá XI, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội khoá XI.

Từ 2004 - 2006: Phó Bí thư Tỉnh ủy khóa 19, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam khóa 7, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh khoá 7. Đại biểu Quốc hội khoá XI, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội khoá XI.

Từ 3/2006 - 5/2006: Phó Tổng Thanh tra Chính phủ. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Từ 6/2006 - 8/2007: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Chính phủ; Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội khoá XI

Từ 8/2007 - 01/2011: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng; Ủy viên Ban cán sự đảng Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Tổ trưởng Tổ công tác cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ; Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối cơ quan Trung ương.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị

Từ 01/2011 - 7/2011: Ủy viên Bộ Chính trị khoá XI; Ủy viên Ban cán sự đảng Chính phủ, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Tổ trưởng Tổ công tác cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ; Đại biểu Quốc hội khóa XIII.

Từ 8/2011 - 01/2016: Ủy viên Bộ Chính trị khoá XI; Phó Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ Việt-Lào; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tây Bắc; Trưởng ban Ban Chỉ đạo phòng chống tội phạm của Chính phủ; Trưởng ban Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ; Chủ tịch Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia; Chủ tịch Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm; Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng chống tham nhũng; Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương, Trưởng Ban chỉ đạo của Chính phủ về tổng kết thi hành Hiến pháp 1992; Tổ trưởng Tổ Kinh tế của Tiểu ban Kinh tế - Xã hội chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII... Tham dự Chương trình Lãnh đạo Quản lý cấp cao Việt Nam tại Đại học Harvard.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu lại vào Bộ Chính trị.

Từ 01/2016 - 4/2016: Ủy viên Bộ Chính trị khoá XII; Phó Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ; tiếp tục giữ các chức vụ Trưởng ban, Phó Trưởng ban các Ban chỉ đạo liên ngành nêu trên.

Ngày 07/4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII

Từ 4/2016 - 7/2016: Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh; Ủy viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương; Ủy viên Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương; Chủ tịch Uỷ ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông - Hải đảo, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực... Đại biểu Quốc hội khóa XIV.

Ngày 26/7/2016, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV, được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.

Từ 7/2016 - 4/2021: Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh; Uỷ viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương; Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương; Chủ tịch Uỷ ban chỉ đạo Nhà nước về Biển Đông - Hải đảo, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế, Chủ tịch Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử, Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; Trưởng Ban chỉ đạo về an toàn, an ninh mạng quốc gia; Trưởng Tiểu ban Kinh tế - Xã hội chuẩn bị Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu lại vào Bộ Chính trị khóa XIII. 

Từ 05/04/2021: Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ tháng 7/2021 đến 18/01/2023: Đại biểu Quốc hội khóa XV. Ngày 26/7/2021, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, được bầu giữ chức Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh nhiệm kỳ 2021-2026.(https://vpctn.gov.vn/, ngày 31 / 08 / 2023)

Tại kỳ họp bất thường lần thứ 3, Quốc hội đã xem xét, quyết định việc miễn nhiệm chức vụ chủ tịch nước nhiệm kỳ 2021-2026 và cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa XV đối với ông Nguyễn Xuân Phúc (https://tuoitre.vn/, ngày 14/02/2023)

12.29. Nguyễn Thị Kim Ngân

Ngày sinh: 12/4/1954

Quê quán: Xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre

Dân tộc: Kinh

Chức vụ: 

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, X, XI, XII

Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, XII

Bí thư Trung ương Đảng khóa XI

Đại biểu Quốc hội các khóa XII, XIII, XIV

Chủ tịch Quốc hội từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2021 

Ngày vào đảng: 09/12/1981

Ngày chính thức: 09/12/1982

Trình lý luận chính trị: Cử nhân chính trị

Trình độ học vấn: 12/12

Chuyên môn: Cử nhân chuyên ngành tài chính – ngân sách nhà nước; Thạc sỹ Kinh tế

Ngoại ngữ: Tiếng Anh (C)

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

Từ 8/1975 - 02/1976: Nhân viên Văn phòng Ban Kinh tài khu 8

Từ 3/1976 -7/1978: Giải thể Khu, chuyển về Văn phòng Ty Tài chính Bến Tre

Từ 8/1978 - 6/1983: Cán bộ Phòng Tài vụ - Thu quốc doanh

Tháng 6/1983: Được bổ nhiệm Phó phòng Tài vụ - Thu quốc doanh

Từ 7/1983 - 4/1987: Phó phòng Tổ chức – Hành chính – Tổng hợp

Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân (http://vietnamnet.vn/)

Từ 5/1987 - 9/1990: Phó Giám đốc Sở Tài chính – Vật giá; Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan

Từ 10/1990 - 9/1991: Quyền Giám đốc Sở Tài chính – Vật giá, Bí thư Đảng ủy; Ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy Liên cơ; Ủy viên Ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh

Từ 10/1991 - 3/1995: Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài chính – Vật giá, Bí thư Đảng ủy; Ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy Liên cơ; Ủy viên Ban chấp hành Liên đoàn lao động tỉnh

Từ 4/1995 - 3/2001:  Thứ trưởng Bộ Tài chính; Ủy viên Ban cán sự Đảng

Từ 1996 - 2002: Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ, Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy Khối cơ quan kinh tế Trung ương

Từ 4/2001 - 8/2002: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Thứ trưởng Bộ Tài chính; Ủy viên Ban cán sự Đảng, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ; Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy Khối cơ quan kinh tế Trung ương

Từ 9/2002 - 2/2006: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Bí thư tỉnh ủy Hải Dương

Từ 3/2006 - 4/2006: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Thứ trưởng Bộ Tài chính

Từ 5/2006 - 7/2007: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Bí thư Ban cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Thương mại

Từ 8/2007 - 01/2011: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Bí thư Ban Cán sự Đảng

Từ 01/2011 - 7/2011: Bí thư Trung ương Đảng khóa XI; Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bí thư Ban Cán sự Đảng

Từ 7/2011 - 5/2013: Bí thư Trung ương Đảng khóa XI; Phó Chủ tịch Quốc hội

Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII

Từ 5/2013 - 01/2016: Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI; Phó Chủ tịch Quốc hội

Từ 01/2016 - 3/2016: Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII; Phó Chủ tịch Quốc hội

Ngày 31/3/2016: Tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khóa XIII, được tín nhiệm bầu giữ chức vụ Chủ tịch Quốc hội nhiệm kỳ 2011 – 2016.

Ngày 22/7/2016: Tại kỳ họp lần thứ nhất Quốc hội khóa XIV, được tín nhiệm bầu tái cử giữ chức vụ Chủ tịch Quốc hội nhiệm kỳ 2016 – 2021.

Ngày 30/3/2021: được Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia.(https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/, ngày 31/3/2021)

 

 

 

 

Các chương: