Video
Công đức
Sách: ĐẠI NAM THỰC LỤC

TẬP II:

ĐẠI NAM THỰC LỤC

Tập hai

Phiên dịch : Ngô Hữu Tạo, Nguyễn Mạnh Duân, Phạm Huy Giu, Nguyễn Danh Chiên, Nguyễn Thế Đạt, Trương Văn Chinh, Đỗ Mộng Khương.

Hiệu đính : Đào Duy Anh.

Nhà xuất bản giáo dục

chính biên

Đệ nhị kỷ

Tự Đức năm thứ 14 [1861] tháng 5, ngày 25, nhà vua dụ rằng : “Nay cứ bọn Tổng tài Quốc sử quán là Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Lễ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, Phan Thanh Giản, Phó tổng tài là Hình bộ thượng thư sung Kinh diên nhật giảng quan, chuyên quản Khâm thiên giám sự vụ, Trương Quốc Dụng, Toản tu là Lễ bộ Hữu tham tri, kiêm quản Hàn lâm viện ấn triện, Phạm Hữu Nghi và Hồng lô Tự khanh Lê Lượng Bạt, tâu nói đã soạn xong sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên, xin đem khắc in, xem tờ tâu Trẫm rất yên lòng. Nước có chính sử, ghi chép công tốt, để lại lâu dài. Bởi thế, các sách Thuật Hán((1) Thuật Hán : chỉ những sách Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán kỷ, thuật lịch sử đời Hán.1), Tôn Nghiêu((2) Tôn Nghiêu : Tôn Nghiêu tập của Trần Quán đời Tống.2), Thánh chính((3) Thánh chính : sách chép về chính trị của thánh triều. Chu Tất Đại đời Tống được sai biên soạn về quan chế do “Th`ánh chính” đã định.3), Nhật lịch((4) Nhật lịch : nhật ký của sử quan.4) là để làm điển chương lớn của một đời. Nhà nước ta, thần truyền thánh nối, hơn 200 năm, cũng như Thương Chu gây dựng, nguồn gốc dài lâu.

Thế tổ Cao hoàng đế ta, mặc áo nhung y, dẹp yên cả nước, tạo nên thái bình, quy mô dựng nghiệp lưu truyền là để giúp người sau, đều chính đáng mà không thiếu sót.

Hoàng tổ ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế, lấy tư chất bậc thượng thánh, giữ vận nước được hanh thông, thông minh duệ trí, rực rỡ hành vi, gốc ở công cách trí thành chính((5) Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm5), suy làm việc bày sắp bổ thêm, tuỳ thời mà dựng đặt, đều có thứ tự nhất định. Lớn thì các việc Giao Miếu, Triều đình, gần thì các việc cung cấm con cháu. Đặt ra bộ, viện, tự, các ; chia ra tỉnh, phủ, huyện, châu. Lễ nhạc rỡ ràng, phẩm thức đầy đủ. Lại làm quan châm((1) Quan châm : lời răn bảo các quan.1)để răn bảo người chức vị ; nén kẻ quyền hãnh((2) Quyền hãnh : người quyền thế, gần gũi với vua2), để trong sạch chốn quan trường. Định mưu chước lớn để bày phương pháp làm quan ; ban điều dạy bảo, để chính phong tục dân chúng. Cấm tuyệt dị đoan để tôn sùng đạo chính ; ban cấp sách vở để gia ơn sĩ lâm. Đặt khoa thi lấy học trò mà nhân tài nổi dậy ; cày ruộng tịch khuyên nghề ruộng mà dân được đủ no. Phàm khi hai kỳ có loạn thì sai tướng ra quân, đánh dẹp nơi nào, võ công hoàn hảo. Trừ hết giặc Xiêm thì biên cương yên ổn ; đặt ra Trấn Tây thì bản đồ rộng thêm. Công đức thánh thần, sáng soi trời đất. Giáo hoá lâu ngày, thịnh trị đủ phước. Để trên noi theo mưu mô rực rỡ của Thế tổ Cao hoàng đế ta, để làm rạng thêm ơn trạch để lại cho cháu chắt của liệt thánh hoàng đế. Thực đường hoàng thay ! Trong khoảng 21 năm, dựng công vòi vọi, lòng thành kính cung. Thực là những chuyện vẻ vang của một thời không thể viết sao cho hết được. Từ năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], đặt ra Sử quán sai quan sửa soạn sách Liệt thánh thực lục định làm Tiền biên, Chính biên, thể tài nghĩa lệ, đều do thánh tâm định đoạt. Bàn lễ nghĩa, xét văn chương, đủ cả ở đấy. Kính nghĩ, bậc đại thánh nhân chế tác, thực đủ chiết trung nghìn đời để soi rõ lòng tin của thiên hạ.

Hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế, lấy tư cách thánh mà nối nghiệp thánh, tâm pháp trị pháp((3) Tâm pháp : phép giữ lòng cha con truyền cho nhau.

     Trị pháp : phép trị nước. 3) tinh vi, đã hợp quy củ, mà công việc sáng tác noi theo cũng thêm thịnh lớn và sáng sủa rõ rệt. Năm Thiệu Trị thứ 1 [1841], lại mở Sử cục, sai soạn Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên. Năm thứ 4 [1844] làm xong Thực lục tiền biên về Thái tổ Gia dụ hoàng đế và liệt thánh hoàng đế, đã giao khắc in, trang hoàng thành pho để vào kho sách. Lần này Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế và Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện đương biên soạn, chuẩn định chương trình, dạy bảo cặn kẽ, rộng cho năm tháng, cốt sao cho được hoàn thành. ấy thánh nhân để ý về việc biên soạn, thận trọng như thế đấy.

Ta là con nhỏ, chịu cơ nghiệp lớn này, nhớ mãi sự khó về sáng nghiệp thủ thành((4) Sáng nghiệp thủ thành : dựng nghiệp mới, giữ nghiệp sẵn4), nghĩ tới đức tốt về phong hoá công lao. Năm Tự Đức thứ 1 [1848] đã làm xong sách Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế, đem ra khắc in, để vào kho sử của hoàng triều.

Kính nghĩ bản thực lục về hoàng tổ là Thánh tổ Nhân hoàng đế đã được hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế trước sau xét định, đạo thường phép lớn, cũng đã rõ ràng rồi, mà vẫn ra lệnh cho các sử quan hết sức biên chép mài gọt mà lần lượt đã tiến trình bản mẫu. Trong đó sự tích có một vài chỗ nên nghiên cứu sửa chữa, ta lại kính cẩn sửa đổi, đã giao cho bổ thêm vào, công việc đã xong. Kể từ năm Thiệu Trị thứ 1 đến nay, trải 20 năm, mới thành được sách đầy đủ thế này. Nghĩ Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, kính trời bắt chước tổ, hoà thuận thân thích, thể tất bề tôi, quý học trò, yêu nhân dân, chuộng văn chương, xét việc võ. Phàm những dấu tích hành động cuốn mở, vẫn đã sáng như mặt trời và tinh tú, rung động cả trên trời dưới đất, thực nên khắc vào bản in, để làm gương vẻ vang cho nghìn thu, thì mới có thể tỏ được lòng ta kế tự không quên. Rồi đây lại biên tập xong Thực lục chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế, kính cẩn đem khắc in thành sách, mà chứa cất, làm cho rạng rỡ công hoá thánh thần của nước Đại Nam ta, mà để làm gương cho đế vương nghìn muôn đời sau.

Vậy lần này tu sửa Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, được bao nhiêu quyển, lập tức cho Thái sử chọn ngày tốt để mở cục ở trong Sử quán khởi công làm ngay, vẫn giao các viên Toản tu ở quán kiểm soát nét chữ và khoản thức, cốt được ổn thoả. Viên Tổng tài đại thần ở quán cũng phải gia tâm xem xét để cho chóng xong bộ sách lớn này. Nhân công vật liệu để làm, cần dùng thế nào thì do hữu ty kính cẩn ứng biện. Các ngươi phải kính theo dụ này.

*

*     *

Bọn thần là Tổng tài, Phó tổng tài, Toản tu Quốc sử quán kính cẩn tâu lên về việc soạn xong sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, xin đem chạm khắc để tỏ rõ việc to lớn rực rỡ.

Trộm nghĩ từ xưa thánh đế minh vương, nối trời mở mối, dấy giáo hoá, đến thái bình, để thành cuộc thịnh trị sáng sủa của một đời, đức tốt công to, tất phải chép vào sách sử để lại đời sau mãi mãi. Sự nghiệp cao xa rộng rãi của nhị đế((1) Nhị đế : Đường Nghiêu và Ngu Thuấn.1) và thói tốt thuần phác của tam vương((2) Tam vương : Hạ, Thương, Chu.

(3) Điển, Mô, Huấn, Cáo : các thiên ở Kinh Thư.2) thấy chép ở các thiên Điển Mô Huấn Cáo(3), đều là chép thực về lời nói việc làm và chính sự của đế vương. Các vua giỏi đời Hán, Đường, Tống, Minh, công việc làm mỗi đời một khác, đời nào cũng có sách sử để chép việc đời ấy.

Nước An Nam ta, các đời Đinh, Lý, Trần, Lê dấy lên, sách chép hãy còn thiếu sót, tìm đến chỗ thành công cao cả, văn chương rực rỡ, rạng cho đời trước, để lại đời sau, ví với các đế vương, chưa có đời nào tốt đẹp được như thánh triều ta cả.

Nhà nước ta, dựng nền ở cõi Nam, thần truyền thánh nối hơn 200 năm, ơn đức đầy rẫy, đã sâu lại xa. Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy thánh đức võ công, dựng nghiệp trung hưng, thu cả nước Việt, tự mình làm nên thái bình, công cao đức lớn, tốt đẹp không cùng. Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, có tư chất thượng thánh làm cho vận nước lại sáng tươi, noi theo đức trước, rạng rỡ công xưa, năm Minh Mệnh thứ 2 đặt ra Sử quán, sai quan soạn thực lục về các đời liệt thánh, định làm Tiền biên Chính biên, thể tài nghĩa lệ tự ý ngài quyết định cả. Sử sách quý báu ức muôn đời của nước Đại Nam ta, thực khởi đầu từ đấy.

Hiến tổ Chương hoàng đế ta, noi theo chí trước, lại mở Sử cục, sai soạn sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, chuẩn định chương trình, dạy bảo cặn kẽ, lại còn rộng cho năm tháng, cốt sao cho được hoàn thành. Năm Thiệu Trị thứ 4 [1844] làm xong Thực lục tiền biên về các đời liệt thánh, đã tâu xin đưa khắc in rồi.

Nay Hoàng thượng ta, noi theo đức trước, sáng thêm nền văn, năm Tự Đức thứ 1 làm xong Thực lục chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế, đã tâu lên và được chuẩn khắc in để vào kho sử. Năm Tự Đức thứ 2 vâng chỉ dụ, trong có một khoản nói rằng : “Thực lục về đời hoàng tổ ta là Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện đương sửa chữa, phải nên sớm biên tập xong, để cho hoàn thành bộ sách quý. Thực lục về đời hoàng khảo ta là Hiến tổ Chương hoàng đế thì soạn chép nối vào, cũng nên kịp hạn xét chữa, để bảo cho đời sau. Nhưng phải nghĩ kỹ rằng : Ba quyền lớn((1) Vực trung tam đại : ba quyền lớn trong đất nước ; lời của Cư Hằng nói “Trong cõi có ba cái lớn, trời là lớn, đạo là lớn, sử là lớn”.1) trong cõi thì sử là một. Trong năm điều khó((2) Năm điều khó : Viên Sơn Tùng, một sử gia đời Tấn, phàn nàn về viết sử có năm điều khó :1) Tài liệu bề bộn mà không hoàn chỉnh ; 2) Văn chép thô tục mà không trang nhã ; 3) Sách chép không đúng thực lực ; 4) Việc thưởng phạt không đúng lẽ phải ; 5) Lời văn chép không nổi bật được phẩm chất của sự việc (Xem Phương đình tuỳ bút, quyển hạ).2) của tác giả, sử là kiêm cả. Huống chi hoàng tổ và hoàng khảo ta, tâm pháp truyền trao rất tinh, trị thống mở dăng rất diệu, làm ra thật là thánh, trí thuật lại thật là thông minh, bày ở văn thư thì pháp độ rất tường, ghi ở tả sử thì góp nhặt rất kỹ, xét sửa tìm tòi, việc rất bề bộn. Sử thần các ngươi đều nên gia tâm kê cứu, hết sức chép sửa, cốt sao cho văn có đủ bằng chứng, việc đều ghi được sự thật, thì mới làm cho thêm rạng đức sáng đời trước, để rõ tín sử để lại đời sau. Phải kính theo lời dụ ấy”. Bọn thần vâng lời, hết lòng cứu xét, lần lượt soạn chép. Kính xét Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ về Thánh tổ Nhân hoàng đế, hiện thành bản mẫu cộng 220 quyển, đã lần lượt tiến trình, cúi đợi quyết định. Trong ấy có chỗ nào sự tích chưa được rõ ràng, chữ viết hơi có nhầm lẫn, được phê bảo, giao cho sửa đổi lại, bọn thần đã kính cẩn nghiên cứu tìm tòi, các khoản nên sửa chữa đã lần lượt kính cẩn bổ vào, tiếp tục tiến lên.

Cúi nghĩ rằng : Quốc triều ta sau khi dẹp yên cả nước, văn tự cỡ xe đều đã như nhau, ở trong ở ngoài đều được yên lặng, thực là lúc nên dựng đặt mọi việc. Thánh tổ Nhân hoàng đế, lấy đức thánh nối nghiệp thánh, mở mang trăm việc, tô điểm thái bình, lớn thì việc Giao Miếu Triều đình, gần thì việc ở cung cấm con cháu ; đặt ra bộ, viện, tự, các, chia ra tỉnh, phủ, huyện, châu ; then máy khuôn phép, đầy đủ rõ ràng. Đến cả những việc nén kẻ quyền hãnh, tuyệt hẳn dị đoan, mềm mỏng với người xa, giữ vững lấy bờ cõi, không việc gì là không đề phòng, uốn nắn làm thành phép tắc ; tìm dấu tích kinh luân của đế vương xưa, chắc cũng không hơn được thế. Kịp khi hai kỳ có loạn, sai tướng ra quân, trao cho phương lược, quân trời đánh chỗ nào thì như chớp giật sấm vang, không đến vài năm mà đã quét được giặc Sơn Âm, bình được giặc Để Định, trừ hết giặc Xiêm, lấy lại Phiên An, mở đặt Trấn Tây, võ công cáo thành, bản đồ thêm rộng. Nghĩ trong khoảng 21 năm, càn khôn mở đóng, trời đất vần xoay, chính trị rõ ràng, đạo hoá tràn khắp, vũ công văn đức, sáng rọi mọi nơi. Vì thế, hoà khí đem điềm hay, phước trời dài thêm mãi ; nước sông chảy thuận, thóc lúa được mùa ; muôn tuổi điềm lành, tam đa chúc phước. Lấy đức của thánh nhân, làm nên trị hiệu của thánh nhân, để hưởng phước của thánh nhân, thịnh trị và phước to, khó mà nói cho rõ được. Hiến tổ Chương hoàng đế ta, lại làm sáng rạng và thịnh lớn thêm. Phàm thấy ở ngôn hành chính sự, pháp độ kỷ cương, những điều sáng sủa rõ ràng, thật đủ làm gương soi cho đế vương nghìn muôn đời. Bọn thần đều đã vâng mệnh, đem công việc từ năm Minh Mệnh thứ 1 đến năm thứ 21, xét từng năm chép lên, theo từng việc chép vào, kể từ năm Thiệu Trị thứ 1 đến nay, trải 20 năm, lần lượt tiến trình xét định. Tinh thần cuốn mở làm lụng và đường lối giúp rập định nên của thánh nhân, bày tỏ ra ở nơi phương sách, đều rõ ràng, đầy đủ cả.

Nay xin dâng bản mẫu đã xong về Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ về Thánh tổ Nhân hoàng đế, đã được chuẩn cho chọn ngày tốt khởi công chạm khắc. Rồi sau Thực lục chính biên về Hiến tổ Chương hoàng đế soạn chép xong, cũng sẽ thứ tự tiến trình, tâu xin đem khắc, để cho hoàn thành bộ sách lớn mà rạng vẻ sáng lành, để được ngửa thấy sự tốt về mưu mô công liệt, đức thịnh về văn võ thánh thần, đều để mãi không bao giờ hết được. Bọn thần mong mỏi không biết chừng nào. Xin kính cẩn tâu lên.

Viết tại năm Tự Đức thứ 14 [1861] tháng 5 ngày 15,

                                       Ký tên :

Thần Phan Thanh Giản.

                            Thần Trương Quốc Dụng.

                            Thần Phạm Hữu Nghi

                            Thần Lê Lượng Bạt.

[Vua phê] : Y lời tâu, kính cẩn khởi công làm.

*

*      *

Bọn thần là Tổng tài, Phó tổng tài, Toản tu Quốc sử quán, kính cẩn tâu về việc đã khắc in xong sách Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế.

Hòm ngọc mở điềm, sách quý nêu sáng, bọn thần thật lấy làm vui vẻ, kính cẩn dâng biểu tiến lên.

Trộm nghĩ : Mệnh lớn tự trời cho, nguồn thịnh ức năm còn mãi ; sách quý như mặt trời đẹp, văn trị nghìn thuở dấy lên. Đức tốt rỡ ràng, chứng sáng giữ mãi.

Bọn thần trộm nghĩ : Thánh nhân làm gì, quy mô thể thống cao hơn cả trăm vua : thế đạo thịnh, giường mối văn chương truyền mãi đến muôn thuở. Cho nên, chính trị của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, sách vẫn còn ghi ; mà văn ở Điển Mô, Huấn Cáo, Thệ Mệnh, đời noi làm phép. Các đời từ Hán Đường mà xuống đều có thành thư ; nước ta là Đinh Lý đến nay còn nhiều thiếu sót. Phương chi thực lục ghi chép đã rõ ràng, so với chính sử thể tài có khác. Ban huấn điều, lập chính thể, nhóm họp nghĩa sâu rộng của các đời ; noi phước tốt, nối đức hay, rạng rỡ văn ngang dọc vùng trời đất. Nhà nước ta, gây nền ở Nam phục, đóng đô ở Xuân Kinh. Truyền nối hơn hai trăm năm, đời chồng phước cả ; mở đất mấy nghìn trăm dặm, dân theo người nhân. Khuôn phép đầy đủ, rõ hệ thống ở tiền biên ; nhân trạch sâu dày, để đức to cho hậu thế.

Thế tổ Cao hoàng đế ta, hợp tam linh((1) Tam linh : trời, đất, người.1) mà mở quẻ bói, nhân ngũ vận((2) Ngũ vận : kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ.2) mà chịu cơ đồ. Nổi giận để đánh giặc Tây Sơn, sấm sét vang lừng khoảng sông Giang sông Hán ; đón rước có người dân đất Bắc, vui mừng đón rước dâng lụa huyền lụa vàng. Đã làm nghĩa để dẹp kẻ bạo tàn, lại nhân thời mà sửa sang chính trị. Gây dựng cương kỷ, giáo hoá mới đẹp ban ra ; thi hành đức nhân, ca ngợi hoà bình vang nổi. Công to nghiệp lớn, đã sáng nghiệp, lại trung hưng ; việc tốt tiếng hay, rạng tổ tiên, yên con cháu. Trị thống muôn năm khuôn phép, đầy rẫy mưu hay ; chính biên nhất kỷ chép ghi, lưu truyền tiếng đức. Là bởi, trời thêm cõi rộng, từ Lạc Hùng trở lại chưa từng nghe ; đời hưởng văn minh, khí số thịnh lên có từ đấy.

Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, gồm tính sáng khôn, đương vận thịnh vượng. Theo đức ôn hoà của Nghiêu đế, văn võ thánh thần ; nối sáng sâu xa của Văn vương, nhân từ hiếu kính. Một lòng thành vận dụng, chỗ trai cư vẻ rồng hiện, vực lặng sấm vang ; ba điều thiện tuân theo, mặt trời tỏ mặt trăng tròn, bể nhuần sao sáng. Thiện lớn chọn tự lòng trời ; sáng lớn mình nhận ngôi báu. Trù thứ năm dựng cao, có đức người thánh được thời người thánh ; nền muôn hoá rộng mở, lấy tâm vua thuần làm chính vua thuần. Đầu đặt Sử cục, thu về sách sót bốn phương ; chia mệnh nho thần, soạn chép bản triều thực lục. Dựng xây Thế miếu, lòng hiếu tưởng lên xuống ở sân ; thờ phụng Từ cung, ban ơn khắp trong ngoài dân thứ. Nhạc tám cung hoà hợp, chim muông lại múa như nhạc Ngu ; đỉnh chín chiếc đúc nên, quỷ quái sợ hãi như đỉnh Hạ. Kính đối chốn Giao đàn, vâng đức lớn để nuôi muôn vật ; mình cày ruộng đế tịch, theo thời tiết mà khuyên nhà nông. Các cửa mở rộng suốt, để thông tai mắt mọi nơi ; hiệu nước đổi mới ra, để tỏ đất nước nhất thống. Trang kính đối trong cung khổn, gây vương hoá theo thơ Quan thư((1) Quan thư : thơ Quan thư, thiên Quốc phong ở Kinh Thi, nói đức tốt của bà Hậu phi vợ Văn vương.1) ; thuận hoà xử với họ hàng, rõ trung tín như thơ Hàng vĩ((2) Hàng vĩ : thơ Hàng vĩ, thiên Tiểu nhã Kinh Thi, nói về đạo anh em hiếu hữu với nhau.2). Đặt chín khanh để đốc suất công việc, mà nghĩa thừa hành giúp đỡ phân minh ; chia các tỉnh để tuyên chính trị dân, mà tệ áp chế chuyên quyền đổi hết. Binh có chế độ 5 người lấy 2, việc võ không nhàm mà đều tinh ; dân chỉ cung cấp 10 phần lấy 1, thuế đã nhẹ mà thường được miễn. Nêu cao hiếu thuận, hậu đãi tuổi già, rèn luyện lấy thói nhân nghĩa đạo đức ; đặt nhà học hiệu, mở đường khoa cử, cổ động cho đạo lễ nhạc thi thư. Cân nhắc đo lường, trăm việc đều tốt ; khoa điều luật lệnh, năm hình có dùng. Đi tuần để giúp đỡ dân, mùa thu xem gặt, mùa xuân xem cày ; đắp đê để phòng nước lụt, như mắt trông thấy, như mình đến nơi. Triều chính không thiếu sót điều gì, mà hỏi han tới cả người cắt cỏ kiếm củi ; nhân dân bị tai hại một chút, mà đuốc sáng soi khắp chốn vách nát nhà tranh. Phàm việc biến thông giáo hoá, đều là quyền lớn sáng tạo xây dựng của thánh nhân ; và việc lo xa xét nhỏ, đều là đạo gốc chế trị giữ nước của người cổ. Kịp lúc hai kỳ có loạn, một giận yên dân. Chước lạ mưu sâu, đánh đâu hẳn được đấy ; núi lay biển động, bền mấy cũng phải tan. Dẹp giặc Xiêm La, hạ thành Phiên An, uy linh làm mạnh sông núi ; quét giặc Sơn Âm, bình giặc Để Định, thanh giáo thông cả Man Lào. Xa lại gần ưa, không đâu chẳng phục ; công nên trị định, sáng hơn đời xưa. Hằng năm thường thấy được mùa ; sông trong vẫn nêu điểm tốt. Trời đất yên lặng, có đức được hoà ; trăng sao sáng soi, tuổi thọ hưởng phước. Sớm hôm lo sợ, kính mệnh trời ở lúc vui yên ; nhân nghĩa rõ ràng, vận thần công ở nơi sâu kín. Cầu đến trị an, lúc nào cũng lo vì trăm họ ; tôn thân cũng thế, phước lành chúc tụng một người.

Tốt lắm thay ! Trời mở thịnh trị, thánh lại tài năng. Cứng mạnh thẳng ngay mà tinh tuý, thể kiền làm mãi không thôi ; rộng dày cao sáng mà dài lâu, lòng thành rất mực chứng rõ. Đạo đủ cả, kính trời bắt chước tổ ; chăm chính yêu nhân dân. Ngày mới thêm gọi là thịnh ; có tất cả gọi là to. Đức rộng về xét tính vật, biện tài người, mến chư hầu, yêu người xa. Có phạm vi mà không quá ; uốn nắn nên không sót ai. Rực rỡ một sách Chính yếu, làm lụng cuốn mở, như thế kỹ càng ; chói lọi các tập văn thơ, nhã tụng âu ca, nghe ra văng vẳng. Lối trị ngày càng đổi mới, bỏ hết thói gian lậu nhân tuần các đời gần ; thái hoà lại thấy ngày nay, thêm mở rộng văn vật thanh danh của đất nước. So với nhị đế tam vương, như cùng một đạo ; nên cùng tam phần((1) Tam phần : sách chép về đời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế.1) nhị điển((2) Là Nghiêu điển và Thuấn điển trong Kinh Thư.

(3) Nguy vi tinh nhất : thiên “Đại Vũ mô” trong Kinh Thư, Ngu Thuấn bảo Hạ Vũ rằng : “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung”. 2), truyền đến vô cùng.

Hiến tổ Chương hoàng đế ta, kính vâng mưu xưa, noi theo phép lớn. Đời trước đắp nền, đời sau dựng cột, thời thịnh thêm rộng sửa sang ; ăn thấy ở canh, đứng thấy ở tường, đạo hiếu thực kiêm kế thuật. Bên tả ghi lời nói, bên hữu ghi việc làm, công đức để ở lịch hằng ngày ; làm ra gọi là thánh, thuật lại gọi là minh, sự thực làm tỏ gương nghìn thủa. Nhờ thánh dụ nêu ra nghĩa lệ ; để sử thần hết sức xét tìm. Duy biên chép phải được kỹ càng, mà rạng mở còn xin chờ đợi.

Hoàng thượng ta, theo chí đời trước, làm rạng mưu sâu. Truyền phép trị về nguy vi tinh nhất(3), nắm đạo trung của vua Nghiêu((4) Đạo trung của vua Nghiêu : Nghiêu bảo Thuấn chỉ có một câu “Doãn chấp quyết trung”, nên gọi là đạo trung của Nghiêu.4) để giữ gìn ; dựng nghiệp nước về kiến đốc cơ cần((5) Kiến, đốc, cơ, cần : thiên “Vũ thành” trong Kinh Thư, Vũ vương nhà Chu có nói “Duy tiên vương kiến bang khởi thổ, Công Lưu khắc đốc tiền liệt, Thái vương triệu cơ vương tích, Vương Quý kỳ cần vương gia : Tiên vương là Hậu Tắc mới được phong ở đất Thai nên nói là dựng nước mở đất ; Công Lưu là chắt Hậu Tắc hay dốc lòng vào công nghiệp của Hậu Tắc ; Thái vương là Cổ công Đản phủ ở nước Mân, người nước Mân đi theo, gây được nghiệp vương ở đấy ; Vương Quý hay siêng năng để nối cơ nghiệp.5), nhắm đức tốt của nhà Chu mà theo dõi. Bèn xét định mà hạn công ; để sửa chữa cho xong việc. Bắt đầu từ năm Canh thìn đến năm Canh tý, 21 năm để biên chép ; lại từ năm Tân sửu đến năm Canh thân, 20 năm mới thành sách. Đặt vào bao lụa vàng, đưa lên nhà để sử. Nối phương sách((6) Phương sách : ván gỗ vuông, khi trước chưa có giấy, ghi chép gì cứ viết vào gỗ vuông. 6)của các đời trước mà cùng truyền ; hơn sách vở của các đời xưa mà thịnh nhất. Xét không lầm, dựng không trái, rõ như phép bói để cho đời ; công cao vọi, văn sáng ngời, lớn như trời không thể hình trạng. Để tỏ phép hay dựng đắp từ trước ; để rộng mưu sâu mở giúp về sau.

Bọn thần, may được liệt vào nho thần, lạm coi biên soạn. Thuật ba bộ sử((7) Tam sử : Sử ký, Hán thư, Đông quán Hán ký là ba bộ sử về nhà Hán.7) nhà Hán, tự hổ không phải tài sửa chữa ở Đông Quán((8) Đông Quán : chỗ tàng thư trong cung nhà Hán.8) ; làm một bộ kinh nhà Đường, trộm bắt chước lấy cách biên tập của Xương Lê((1) Xương Lê : Hàn Dũ ở đời Đường.1). Chỉ biết tìm hàng đếm nét, sưu cầu chẳng bổ gì cho truyện xưa ; may nhờ khởi lệ phát phàm((2) Khởi lệ phát phàm : đặt ra phàm lệ để noi theo.2), xét định thảy theo ở gương sáng. Thấy sách xong mà vui mừng ; nhờ mệnh tốt để bày tỏ. Cúi mong Hoàng thượng, dốc hiếu biểu dương ; đạo noi liệt thánh. Để mối giềng có thể nối lâu, đắp thêm cõi nền nhân hậu ; theo phép cũ mà không sao nhãng, điểm tô dựng đặt thái bình. Thịnh thay công vũ mưu văn, rỡ đức tốt vì thêm sáng ; yên như đá bàn núi Thái vững nghiệp lớn ở muôn đời. Bọn thần vui vẻ không biết chừng nào, xin đem sách Thực lục chính biên Đệ nhị kỷ đã khắc in lần này là 220 quyển và 2 quyển mục lục, cộng 222 quyển tiến lên. Kính cẩn dâng biểu để tâu.

Viết tại năm Tự Đức thứ 17 [1864] tháng 11 ngày 29.

Ký tên :

 Thần Phan Thanh Giản

 Thần Phan Huy Vịnh

 Thần Phạm Huy

 Thần Trần Liên Huy

 [Vua phê] : Đã xem rồi

 

chính biên

Đệ nhị kỷ Phàm lệ

1.   Trong Bản kỷ, từ năm thứ nhất trở về sau, năm nào ở dưới cũng đều chua niên hiệu nhà Thanh để mà kê cứu.

2.   Chép việc thì lấy tháng theo mùa, mùa theo năm. Việc thường thì không chép ngày, việc lớn thì cẩn thận mà chép ngày.

3.   Tế Giao, Miếu hưởng, Yết lăng là lễ rất trọng, thường năm vẫn chép. Còn như các lễ triều hạ, ban sóc, đều chép ở tiết đầu, hằng năm lấy làm thường, sau không chép nữa.

4.   Đầu mùa xuân duyệt binh để giảng việc võ ; giữa mùa hạ cày ruộng tịch điền để khuyến khích việc ruộng, hằng năm cùng đều chép cả.

5.   Các việc lớn như lễ nhạc, hình chính, tên quan, chế độ, từ mới dựng ra thì chép là sơ [mới, bắt đầu], khi đổi làm thì chép là cải [đổi], nhân cũ mà làm kỹ thêm thì chép là thân định [định rõ].

6.   Phàm việc gì đã được lời chỉ của vua, chép làm mệnh lệnh hay làm lệ thường, cùng là tâu lên được vua chuẩn cho, từ đấy về sau chiếu lệ mà làm, thì đều chép là chuẩn định.

7.   Những chương sớ ở trong ngoài tâu lên đã được chỉ chuẩn cho thì đều chép cả, duy việc nhỏ nhặt thì chép sơ lược thôi.

8.   Việc gì quan hệ đến điển lệ thì điều khoản số mục đều chép đủ cả, là để rõ sự thực.

9.   Việc gì hợp lại chép suốt từ đầu đến cuối thì việc trước dùng chữ sơ [đầu là], chữ tiên thị [trước là], chữ chí thị [đến đấy] ; việc sau thì dùng chữ tầm [rồi thì], chữ cập [kịp], để phân biệt.

10. Em vua, con vua, cháu vua và trưởng công chúa được tấn phong tước hiệu đều chép cả.

11. Văn từ tứ phẩm trở lên, võ từ tam phẩm trở lên được bổ thụ chức hàm đều chép cả. Ngũ phẩm thì chỉ có chức Đốc học là giữ việc học một tỉnh nên cũng chép. Ngoài ra thì tuỳ việc mà biên.

12. Thân công, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, công chúa từ trần thì đều chép là hoăng [mất].

13. Văn tứ phẩm ấn quan, võ tam phẩm lĩnh binh trở lên mà qua đời thì đều chép là tốt [chết]. Văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở xuống, người nào rõ ràng có công lao, tài năng, tiết liệt, sau khi chết được cấp tuất và tặng phong, thì tuỳ việc mà chép, ngoài ra thì không chép.

14. Sách văn, chiếu dụ, có gặp chữ tên huý thì hoặc bỏ thiếu một nét, hoặc chiếu theo nghĩa văn đổi dùng chữ khác. Đến như tên đất thì hoặc theo tên ngày nay, hoặc bỏ chiếu một nét, duy chữ hoa (       ) cùng nghĩa với chữ ba (       ) thì đổi làm chữ ba (       ) ; tên người thì đều đổi dùng chữ khác.

15. Tên đất, tên người có đổi thì tên đất ở lúc chưa đổi, vẫn chép tên cũ, tên người ở chỗ bắt đầu thì viết ngay tên sau, trong khoảng ấy có một vài trở ngại chút ít thì tuỳ chỗ chua rõ, sau khi đã chua rồi cũng viết ngay tên sau. (Ví dụ tiến sĩ Phạm Thế Lịch sau đổi thành Phạm Thế Trung, Trần Mẫn sau đổi thành Trần Tiễn Thành).

chính biên

Đệ nhị kỷ - Tổng mục (1)

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Quyển I. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất [1820], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển II. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển III. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển IV. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển V. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển VI. Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển VII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển VIII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển IX. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển X. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển XI. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XII. Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển XIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển XIV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 3 nhuận.

Quyển XV. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

Quyển XVI. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7 tháng 8.

Quyển XVII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XVIII. Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển XIX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển XX. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển XXI. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển XXII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển XXIII. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XXIV. Quý mùi, năm Minh Mệnh thứ 4, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển XXV. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 [1824], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển XXVI. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển XXVII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển XXVIII. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển XXIX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XXX. Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển XXXI. ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6 [1825], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển XXXII. ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển XXXIII. ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển XXXIV. ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển XXXV. ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XXXVI. ất dậu, năm Minh Mệnh thứ 6, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển XXXVII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7 [1826], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển XXXVIII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển XXXIX. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển XL. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển XLI. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XLII. Bính tuất, năm Minh Mệnh thứ 7, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển XLIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 [1827], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển XLIV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa xuân tháng 3.

Quyển XLV. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

Quyển XLVI. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa hạ từ tháng 5 nhuận đến tháng 6.

Quyển XLVII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển XLVIII. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển XLIX. Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển L. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9 [1828], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển LI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển LII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 6.

Quyển LIII. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển LIV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa thu từ tháng 9 đến mùa đông tháng 10.

Quyển LV. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 11

Quyển LVI. Mậu tý, năm Minh Mệnh thứ 9, mùa đông tháng 12.

Quyển LVII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển LVIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa xuân tháng 3.

Quyển LIX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

Quyển LX. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.

Quyển LXI. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.

Quyển LXII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông tháng 10.

Quyển LXIII. Kỷ sửu, năm Minh Mệnh thứ 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển LXIV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 [1830], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển LXV. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa xuân từ tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển LXVI. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 4 nhuận.

Quyển LXVII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ tháng 5.

Quyển LXVIII. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.

Quyển LXIX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa thu từ tháng 8 đến mùa đông tháng 10.

Quyển LXX. Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển LXXI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12 [1831], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển LXXII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa xuân tháng 3.

Quyển LXXIII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 5.

Quyển LXXIV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa hạ từ tháng 6 đến mùa thu tháng 7.

Quyển LXXV. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa thu từ tháng 8 đến tháng 9.

Quyển LXXVI. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông tháng 10.

Quyển LXXVII. Tân mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 12.

Quyển LXXVIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 2.

Quyển LXXIX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa xuân tháng 3 đến mùa hạ tháng 4.

Quyển LXXX. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 5.

Quyển LXXXI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa hạ tháng 6.

Quyển LXXXII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu từ tháng 7 đến tháng 8.

Quyển LXXXIII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9.

Quyển LXXXIV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa thu tháng 9 nhuận.

Quyển LXXXV. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 10.

Quyển LXXXVI. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 11.

Quyển LXXXVII. Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13, mùa đông tháng 12.

Quyển LXXXVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa xuân tháng 1.

Quyển LXXXIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 2.

Quyển XC. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 3.

Quyển XCI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa xuân tháng 3.

Quyển XCII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.

Quyển XCIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 4.

Quyển XCIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.

Quyển XCV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 5.

Quyển XCVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.

Quyển XCVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.

Quyển XCVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa hạ tháng 6.

Quyển XCIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.

Quyển C. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.

Quyển CI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 7.

Quyển CII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.

Quyển CIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.

Quyển CIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 8.

Quyển CV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.

Quyển CVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.

Quyển CVII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa thu tháng 9.

Quyển CVIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.

Quyển CIX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.

Quyển CX. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 10.

Quyển CXI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 11.

Quyển CXII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 11.

Quyển CXIII. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.

Quyển CXIV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.

Quyển CXV. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.

Quyển CXVI. Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14, mùa đông tháng 12.

chính biên

Đệ nhị kỷ - Tổng mục (II)

 Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Quyển CXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], mùa xuân tháng 1.

Quyển CXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 1.

Quyển CXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 2.

Quyển CXX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 2.

Quyển CXXI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXXII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXXIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXXIV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 4.

Quyển CXXV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 4.

Quyển CXXVI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 5.

Quyển CXXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 5.

Quyển CXXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.

Quyển CXXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.

Quyển CXXX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa hạ tháng 6.

Quyển CXXXI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 7.

Quyển CXXXII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 7.

Quyển CXXXIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 8.

Quyển CXXXIV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 8.

Quyển CXXXV. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 9.

Quyển CXXXVI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa thu tháng 9.

Quyển CXXXVII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 10.

Quyển CXXXVIII. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 11.

Quyển CXXXIX. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 11.

Quyển CXL. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 12.

Quyển CXLI. Giáp ngọ, năm Minh Mệnh thứ 15, mùa đông tháng 12.

Quyển CXLII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16 [1835], mùa xuân tháng 1

Quyển CXLIII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 1.

Quyển CXLIV. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 2.

Quyển CXLV. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 2.

Quyển CXLVI. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXLVII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXLVIII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXLIX. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 4.

Quyển CL. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 4.

Quyển CLI. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 5.

Quyển CLII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 5.

Quyển CLIII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 6.

Quyển CLIV. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ từ tháng 6 đến tháng      

                             6 nhuận.

Quyển CLV. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa hạ tháng 6 nhuận.

Quyển CLVI. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 7.

Quyển CLVII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 8.

Quyển CLVIII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 8

Quyển CLIX. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa thu tháng 9.

Quyển CLX. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 10.

Quyển CLXI. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 11.

Quyển CLXII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 11.

Quyển CLXIII. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 12.

Quyển CLXIV. ất mùi, năm Minh Mệnh thứ 16, mùa đông tháng 12.

Quyển CLXV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) mùa xuân tháng 1.

Quyển CLXVI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa xuân tháng 2.

Quyển CLXVII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa xuân tháng 3.

Quyển CLXVIII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 4.

Quyển CLXIX. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 5.

Quyển CLXX. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa hạ tháng 6.

Quyển CLXXI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 7.

Quyển CLXXII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 8.

Quyển CLXXIII. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa thu tháng 9.

Quyển CLXXIV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 10.

Quyển CLXXV. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 11.

Quyển CLXXVI. Bính thân, năm Minh Mệnh thứ 17, mùa đông tháng 12.

Quyển CLXXVII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18 [1837], mùa xuân tháng 1.

Quyển CLXXVIII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa xuân tháng 2.

Quyển CLXXIX. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa xuân tháng 3.

Quyển CLXXX. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 4.

Quyển CLXXXI. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 5.

Quyển CLXXXII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa hạ tháng 6.

Quyển CLXXXIII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa thu từ tháng 7 đến

                                tháng 8.

Quyển CLXXXIV. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa thu tháng 9.

Quyển CLXXXV. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 10.

Quyển CLXXXVI. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng 11.

Quyển CLXXXVII. Đinh dậu, năm Minh Mệnh thứ 18, mùa đông tháng12.

Quyển CLXXXVIII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, [1838], mùa xuân

                                           tháng1.

Quyển CLXXXIX. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa xuân tháng 2.

Quyển CXC. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa xuân tháng 3.

Quyển CXCI. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ tháng 4.

Quyển CXCII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ tháng 4 nhuận.

Quyển CXCIII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa hạ từ tháng 5 đến

                                  tháng 6.

Quyển CXCIV. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa thu từ tháng 7 đến

                                  tháng 8.

Quyển CXCV. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa thu tháng 9.

Quyển CXCVI. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa đông từ tháng 10 đến

                                  tháng 11.

Quyển CXCVII. Mậu tuất, năm Minh Mệnh thứ 19, mùa đông tháng 12.

Quyển CXCVIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20 [1839], mùa xuân tháng 1.

Quyển CXCIX. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa xuân tháng 2.

Quyển CC. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa xuân tháng 3.

Quyển CCI. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 4.

Quyển CCII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 5.

Quyển CCIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa hạ tháng 6.

Quyển CCIV. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 7.

Quyển CCV. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 8.

Quyển CCVI. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa thu tháng 9.

Quyển CCVII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa đông từ tháng 10 đến

                                 tháng 11.

Quyển CCVIII. Kỷ hợi, năm Minh Mệnh thứ 20, mùa đông tháng 12.

Quyển CCIX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21 [1840], mùa xuân tháng 1

Quyển CCX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa xuân tháng 2.

Quyển CCXI. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa xuân tháng 3.

Quyển CCXII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 4.

Quyển CCXIII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 5.

Quyển CCXIV. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa hạ tháng 6.

Quyển CCXV. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 7.

Quyển CCXVI. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 8.

Quyển CCXVII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa thu tháng 9.

Quyển CCXVIII. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 10.

Quyển CCXIX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 11.

Quyển CCXX. Canh tý, năm Minh Mệnh thứ 21, mùa đông tháng 12.

chính biên

Đệ nhị kỷ

Vâng sắc khai chép chức và tên các sử thần :

(Nguyên làm việc từ năm Tự Đức thứ 13 [1860] trở về trước).

Tổng tài :

Cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần chính điện đại học sĩ, quản lý Binh bộ sự vụ, sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, kiêm lĩnh Khâm thiên giám, Tuy Thịnh quận công, thần Trương Đăng Quế.

Phó tổng tài :

Hình bộ Thượng thư, sung Kinh diên nhật giảng quan, kiêm biện Khâm thiên giám sự vụ, thần Trương Quốc Dụng.

Nguyên thự Hình bộ Thượng thư, kim hiện thự Long Tường Tổng đốc, thần Trương Văn Uyển.

Nguyên Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Lễ bộ Thượng thư, kim giáng bổ Binh bộ Tả tham tri cách lưu, thần Lâm Duy Hiệp.

Toản tu :

Lễ bộ Tả Tham tri, thần Tô Trân.

Lễ bộ Hữu Tham tri, kiêm quản Hàn lâm viện ấn triện, thần Phạm Hữu Nghi.

      Công bộ Hữu Tham tri, kiêm quản Đô sát viện ấn triện, thần Phạm Chi Hương.

Thự Lại bộ Tả Tham tri, thần Bùi Quỹ.

Nguyên Quang lộc Tự khanh, biện lý Hình bộ sự vụ, kim bổ Hàn lâm viện Trực học sĩ, sung giám tu Việt sử Phó tổng tài, thần Phạm Huy.

Nguyên thự Lễ bộ Hữu tham tri, kim hiện thự Lại bộ Hữu Thị lang, sung Kinh diên nhật giảng quan, thần Đỗ Quang.

Nguyên Hồng lô Tự khanh, kim bổ thụ Lang trung, lãnh Định Tường Tuần phủ, kiêm lãnh Bố chính ấn triện, thần Nguyễn Tường Vĩnh.

Biên tu :

Nguyên Hàn lâm viện Thị độc, kim bổ thụ Hình bộ Hữu tham tri, thần Phan Huy Vịnh.

Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim bổ thụ Thái bộc Tự khanh, lĩnh Thái Nguyên Bố chính, thần Vũ Công Độ.

Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim bổ thụ Hồng lô Tự khanh, sung Việt sử Toản tu, thần Lê Hiếu Hữu.

 Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim hiện thự Hưng Hoá án sát, thần Vũ Văn Tuấn.

Nguyên Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, kim lĩnh Bắc Ninh Đốc học, thần Phan Đình Dương.

Nguyên Hàn lâm viện Tu soạn, kim bổ thụ Lễ khoa chưởng ấn Cấp sự trung, kiêm kê hạch Tôn nhân phủ sự vụ, thần Nguyễn Huy Phan.

Hàn lâm viện Thị độc, thần Nguyễn Huy Lịch.

Hàn lâm viện Thị độc, thần Vũ Phạm Khải.

Nguyên Hàn lâm viện Thị độc, kim bổ thụ Nam Định Đốc học, thần Phạm Văn Nghị.

Hàn lâm viện Thị giảng, thần Nguyễn Huy Huỳnh.

Nguyên Hàn lâm viện Trước tác, kim bổ thụ ứng Hoà phủ Tri phủ, thần Vũ Thấu.

Nguyên Hàn lâm viện Trước tác, kim bổ thụ Thuận An phủ Tri phủ, thần Nguyễn Đăng Tuyển.

Nguyên Hàn lâm viện Tu soạn, kim bổ thụ Hải Ninh phủ Tri phủ, thần Đỗ Huy Diễm.

      Nguyên thự Hàn lâm viện Thị độc, kim hiện dĩ Tòng ngũ phẩm lĩnh Kiến Thuỵ phủ Giáo thụ, thần Nguyễn Xuyến (trước là Kim Xuyến).

Hàn lâm viện Tu soạn, thần Đặng Long Đống.

Hàn lâm viện Tu soạn, thần Phan Danh.

Nguyên thự Hàn lâm viện Thị giảng, kim bổ thụ Hình bộ Nam Hiến ty, Tòng thất phẩm lĩnh Tư vụ, thần Trịnh Xuân Thưởng.

Khảo hiệu :

      Hàn lâm viện Biên tu, thần Lê Quang Linh.

Hàn lâm viện Biên tu, thần Nguyễn Văn Lương.

Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần Nguyễn Đức ý.

Hàn lâm viện Điển bạ, thần Tôn Thất Thụ.

Đằng lục :

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Trần Viết Khải.

Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Lê Văn Chân.

      Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trần Quang Quýnh.

      Thu chưởng :

      Hàn lâm viện Chánh bát phẩm bút thiếp thức, thần Mai Văn Trí.

      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Lợi.

      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Hoàng Hữu Đường.

      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Dĩnh.

      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Hữu Thăng

      Hàn lâm viện Tòng bát phẩm bút thiếp thức, thần Bùi Xuân Hiển.

Chép thêm

(Từ năm Tự Đức thứ 14 [1861] đến năm thứ 17 [1864] tiết thứ tiếp tục làm)

Tổng tài :

Hiện biện đại học sĩ lãnh Hộ bộ Thượng thư, kiêm lĩnh Quốc tử giám, sung Cơ mật viện đại thần, thần Phan Thanh Giản.

Phó tổng tài :

Thự Hình bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám, thần Phan Huy Vịnh.

Toản tu :

Hồng lô Tự khanh, thần Lê Lượng Bạt

Hồng lô Tự khanh, thần Bùi Sỹ Tuyển.

Thự Hồng lô Tự khanh, thần Phạm Huy.

Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Ngô Quang Tuấn.

Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Ngô Phùng.

Lãnh Quang lộc tự Thiếu khanh, thần Trần Liên Huy.

Biên tu :

Hàn lâm viện Thị độc, thần Phan Lịch.

Hàn lâm viện Thị giảng, thần Lê Điều.

Hàn lâm viện Thị giảng, thần Cát Văn Tuỵ.

Hàn lâm viện Thị giảng thần Nguyễn Viện.

      Hàn lâm viện Thị giảng, thần Lê Cơ.

      Hàn lâm viện Trước tác, thần Vương Đình Chiểu.

      Hàn lâm viện Trước tác, thần Tạ Khắc Quản. 

Hàn lâm viện Trước tác, thần Phạm Huy Bỉnh.

Khảo hiệu :

Chánh bát phẩm hàm, thần Trần Nhượng.

Hàn lâm viện Điển bạ, thần Nguyễn Khắc Lý.

Hàn lâm viện Điển bạ, thần Trần Huy Phan.

Hàn lâm viện Điển bạ, thần Cao Duy Tự

Hàn lâm viện Điển bạ, thần Hồ Sĩ Đĩnh

Hàn lâm viện Điển bạ, thần Trần Duy Hoà.

Chánh cửu phẩm hàm, thần Trương Hữu Tự

Chánh cửu phẩm hàm, thần Phạm Quang Khản

Chánh cửu phẩm hàm, thần Hồ Đĩnh

      Đằng lục :

Chánh cửu phẩm bút thiếp thức, thần Đỗ Đăng Phong.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Lý.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trương Giảng.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Trần Diệu.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Văn Duyên.

Thu chưởng

Hàn lâm viện Kiểm thảo, thần Tôn Thất Nghi.

Hàn lâm viện Chánh bát phẩm bút thiếp thức, thần Nguyễn Diễm.

Chánh bát phẩm, thần Đặng Văn Tài.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Hoàng Đức Trị.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Lê Văn Côn.

Hàn lâm viện Tòng cửu phẩm bút thiếp thức, thần Lê Thanh.

chính biên

 

Đệ nhị kỷ - quyển i

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Thánh tổ, Thể Thiên Xương Vận Chí Hiếu Thuần Đức Văn Vũ Minh Đoán Sáng Thuật Đại Thành Hậu Trạch Phong Công Nhân hoàng đế, tên huý là Hiệu, lại huý là Đởm, sinh năm Tân hợi [1791] (năm thứ 12 sau khi Thế tổ Cao hoàng đế nối ngôi vương - Thanh Kiền Long năm thứ 56), là con thứ tư Thế tổ Cao hoàng đế. Mẹ là Thuận thiên Cao hoàng hậu Trần thị. Trước khi sinh vua, hoàng hậu nằm mơ thấy người thần dâng một cái ấn, sắc đỏ như mặt trời. Vua sinh ra thực ứng vào điềm ấy.

Năm Gia Long thứ 15 [1816], mùa hạ, tháng 6, ngày Kỷ mùi, sách phong lập làm Hoàng thái tử, ở điện Thanh Hoà.

Năm thứ 18 [1819], mùa đông tháng 12, ngày Đinh mùi, Thế tổ Cao hoàng đế băng, bầy tôi dâng tờ khuyên ngài lên ngôi, ngài thương khóc mãi không thôi. Các đại thần hai ba lần xin mãi, ngài mới nghe theo.

Ngày Giáp dần, đúc sách vàng.

(Sách văn rằng : Đức lớn của trời đất là sinh, duy ở trước sau không ngừng ; báu lớn của thánh nhân là vị, quý ở truyền trao được đúng. Kính nghĩ Hoàng thái tử ta, tính tốt trời cho, đức sáng ngày mới. Chốn lầu rồng thăm hỏi, lòng hiếu kính ân cần ; nơi cung hạc tu tề, tình thân yêu đốc hậu. Thay quyết muôn cơ, trên vâng lòng vui của tiên đế ; giao tin một đức, dưới yên mong muốn của thần dân. Nuôi đức ở nơi tiềm để ((1) Tiềm để : chỗ ở khi chưa làm vua.1), nay đã 4 năm ; tình người khắp cả trong ngoài, thảy đều kính mến. Lúc Tiên hoàng đế sắp băng, đã ban di chiếu nối ngôi để nối lấy mối lớn. Nay việc lớn đã xong, bọn thần kính cẩn dâng sách vàng, kính dâng tôn hiệu Hoàng đế. Cúi mong nghĩ đến sự phó thác nặng nề của Tiên đế, cho hợp tình mong mỏi của bầy tôi, nối công việc, nhận cơ đồ, lên giữ ngôi vua, noi theo phép lớn, điều hoà thiên hạ, để cho dài nghiệp lớn muôn đời không cùng).

Ngày ất mão, đem việc lên ngôi kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc.

Ngày Bính thìn, đến điện Hoàng Nhân, lạy chịu ấn vàng truyền quốc và áo bào “Muôn năm nối ngôi”.

Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất [1820], (Thanh Gia Khánh năm thứ 25), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 Mậu ngọ, vua lên ngôi Hoàng đế ở điện Thái Hoà, đặt niên hiệu và đại xá, ban chiếu cho trong ngoài.

Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ, con hiếu thờ hai thân, chủ tế tự để phụng thừa Tôn Miếu ; thánh nhân đầu muôn vật, rủ áo xiêm để theo nghĩa Kiền Khôn. Cho nên, trị nước quan hệ ở một người ; truyền ngôi vốn gốc từ tam đại. Mệnh trời ở đâu, ngôi thần về đấy.

Nghĩ Thánh tổ Thần tông, mở nền Nam phục, dựng nghiệp kim âu. Mưu sáng công to, rực rỡ cho đời trước ; nhân sâu ơn hậu, rạng tỏ để đời sau. Hoàng khảo ta, vâng nhận mệnh lớn, lại dựng nghiệp to. Chống phủ việt đánh kẻ bạo tàn, thắt dải mũ giữ gìn trị hoá. Nhớ việc khai thác hơn 200 năm, võ công hơn đời trước ; tự mình chăm lo trong 18 năm, đế đức to tầy trời. Vạc Hiên Viên mới đúc xong, mà núi hồ không kéo lại được ; hoa Đường Nghiêu chợt thấy rụng, đến hang sâu cũng thấy đau thương. Thực trời kia xuống tai vạ cho nước ta ; nên hoàng khảo để gánh nặng cho đức mọn. Trẫm tự hổ, là người hèn kém, mà giữ ngôi này. Nghỉ gốc cây, cưỡi trên thuyền((1) Nghỉ gốc cây cưỡi trên thuyền : vua Đường Thái tông thấy thái tử đứng ở gốc cây thì bảo rằng : Cây gỗ theo dây mực thì thẳng, vua nghe lời can là thánh ; thấy thái tử cưỡi thuyền thì bảo rằng : Nước hay chở được thuyền, mà cũng hay lật được thuyền.1), việc dạy bảo theo như khuôn phép ; vỡ ruộng hoang, làm nhà cửa((2) Vỡ ruộng hoang làm nhà cửa : vua Vũ Vương nhà Chu bảo em là Khang Thúc rằng : “Như làm ruộng, đã vỡ hoang rồi thì phải sửa sang bờ cõi ; như làm nhà, đã làm tường luỹ rồi thì phải tô nề và lợp”.2), việc dành cho nhờ ở mưu mô. Nghĩ gánh vác chỉ thấy khó khăn ; càng đau thương biết bao cho hết. Vui không cùng, thương cũng không cùng, lòng hiếu nghĩ sợ thêm về đường nối dõi ; vị tất được, danh cũng tất được, lời dặn dò há dám trễ việc phó giao. Nay các tước công, các đại thần, các quan văn võ trong ngoài, đều khuyên trẫm tuân theo di chiếu, sớm lên ngôi vua, để theo lòng mong đợi của mọi người. Vì thế châm chước lễ văn, bớt thương thuận biến, lấy ngày 27 tháng 12 năm Gia Long thứ 18 [1819] kính cáo Giao Miếu, ngày 28 kính yết bàn thờ, ngày 1 tháng 1 năm nay, lên ngôi ở điện Thái Hoà. Trẫm vâng “mệnh sáng” ở trời, chịu “mệnh sáng” ở hoàng khảo, vậy lấy năm nay là năm Canh thìn, làm năm Minh Mệnh thứ 1, để chính tên hay, để rõ mối lớn. Đặc cách xuống ân điển gồm 16 điều : 1) Những tiền thóc sản vật mà dân còn thiếu từ năm Gia Long thứ 18 trở về trước đều tha miễn cả. 2) Thuế lệ tiền thóc sản vật về nhân đinh điền thổ, trong năm Minh Mệnh thứ 1 đều rộng miễn cả. 3) Em vua và cháu họ vua, ai đã được phong tước công thì cấp thêm lộc hằng năm là 500 quan tiền, 500 phương gạo. 4) Em bé của vua chưa được phong tước công thì đợi 3 năm sau bộ Lễ bàn tâu sẽ sách phong. 5) Người tôn thất chưa làm quan thì cấp thêm lương tiền. 6) Các quan văn võ, ở trong từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia một bậc cấp. 7) Các quan văn võ, ở trong từ ngũ phẩm, ở ngoài từ tứ phẩm trở xuống, đã thục thụ thì chu cấp cho lương tiền 2 tháng. 8) Cha mẹ các quan trong ngoài, từ tam phẩm trở lên, đều chiếu phẩm phong tặng. 9) Từ tam phẩm trở lên đều cho tập ấm một người con cho vào học ở nhà Quốc tử giám ; khi tuổi đã trưởng thành, có thể lục dụng được thì sai đại thần đề cử người mình biết lên rồi thứ tự dẫn lên yết kiến, sẽ tuỳ tài bổ dụng .10) Các công thần Vọng Các, hoặc không có con cháu ngành trưởng mà có con thứ hay cháu thứ thì lượng cho quan tước lương tiền. 11) Công thần đã chết rồi, hoặc không con cháu mà có vợ còn giữ tiết, thì cấp cho tiền gạo để nuôi. 12) Tra xét rõ thần kỳ cả nước để phong tặng. 13) Đặt thêm nhà thêm phòng ở Quốc tử giám, và ưu cấp lương tiền. 14) Kỳ thi Hương khoa Kỷ mão, ai đỗ nhị trường thì miễn binh dao

3 năm ; đỗ nhất trường thì miễn 2 năm. 15) Từ mờ sáng ngày 1 tháng giêng năm nay trở về trước, phàm tội sung quân và tội lưu trở xuống đều buông thả, tội tử thì lượng cho khoan giảm. 16) Trộm cướp ra thú thì đều rộng tha.

Ôi ! Nối chí noi việc là hiếu, mong biểu dương phước lớn các thánh được lâu dài ; ban phước ra ân về xuân, để cho khắp trong ngoài thứ dân được đầy đủ”.

Vua đã lên ngôi. Lấy Quang Minh đường làm nhà Lương am((1) Lương am : nhà ở của vua khi có tang.1), màn trướng đều dùng vải trắng, lấy Tả Phương đường làm nơi tiện điện để nghe chính sự. Lỗ bộ đại giá, phàm tàn lọng cờ quạt đều dùng sắc vàng không thêu thùa trang sức. (Trong ba năm để tang thì ở tiện điện nghe chính sự, vua mang áo khăn vải trắng, các quan đều mang áo đen khăn vải trắng để chầu).

Ngày Kỷ mùi, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện lớn. Từ ngày ấy trở đi mỗi ngày ba lần làm lễ điện (lễ điện buổi sáng, lễ dâng đồ ăn, lễ điện buổi chiều, vua thân đến làm lễ, hoặc sai thân công làm lễ). Ngày mùng một và ngày rằm thì làm lễ điện lớn (Vua thân đem bầy tôi làm lễ. Như gặp ngày lễ Miếu hưởng, ngày Ban sóc và ngày tết Nguyên đán thì để hôm sau làm lễ). Các hoàng thân tước công thay phiên chầu chực ban đêm. Các bầy tôi văn võ chia làm ba ban chầu chực và phụ bái ban ngày. Không phải người đến bái và người chấp sự thì không được vào.

Ngày Canh thân, yết các miếu. Trước đây vua sai bộ Lễ bàn về yết kiến các miếu. Bộ Lễ tâu : “Kính xét sách Thượng thư có nói “Kính yết tổ tiên” và chú thích rằng “Yết kiến tất cả các vua đời trước của nhà Thương”. Thơ “Mẫn dư tiểu tử” ở “Chu tụng” chú thích rằng “Tự vương((1) Tự vương là vua mới nối ngôi.1) đến chầu miếu”. Như thế là Tam đại đã có lễ kiến miếu. Từ Văn đế nhà Tây Hán về sau, phàm vua mới lên ngôi tất phải yết kiến miếu Cao tổ. Từ Quang Vũ đời Đông Hán về sau, vua mới lên ngôi thì yết kiến miếu Cao tổ và miếu Thế tổ. Khoảng đời Lục triều((2) Lục triều : sáu triều đại là Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần ở Trung Quốc.2), gián hoặc có đời làm. Tiêu Sâm đời Tề bàn rằng : Há có người đứng ngôi chính, ở nơi tôn, nối nghiệp trước, vâng mệnh trời, mà không đến nhà Thái miếu yết kiến tổ tông sao ? Đời Đường Tống trở về sau, đều câu nệ thuyết ba năm có tang thì không tế, rồi không làm lễ ấy nữa, như thế không phải tỏ lòng thành với chín miếu mà ảnh hưởng đến muôn nước. Lại xét Minh điển về nghi thức lễ lên ngôi, thì trước khi lên ngôi, sai quan kính cáo ở miếu ; đến ngày lên ngôi, vua thân hành đến cáo ở điện Phụng Tiên, sau khi lên ngôi không có lễ kiến miếu nữa. Như thế thì trước khi chưa lên ngôi có một việc mà hai lần cáo ở miếu, lễ như thế là phiền, sau khi lên ngôi không thân đến chầu tôn miếu, lễ như thế là thiếu. Nay xin theo lễ Tam đại và Lưỡng Hán, sau khi lên ngôi, chọn ngày tốt thân yết các miếu, mới là hợp lễ”.

      Vua nghe theo, liền dụ rằng từ nay trở đi, phàm có việc ở Thái miếu thì đại giá do cửa Tả Túc, ra cửa Tả Đoan, vào cửa Hiển Nhân, đến cửa Hiển Thừa dừng lại, đến miếu làm lễ.

      Vua để tang, lòng thương nhớ, hằng ngày đến bàn thờ lạy khóc, dẫu ngày rét ngày nắng, chưa từng ngày nào thiếu. Mỗi khi ra vào đô thành, tất đem việc cáo. Từng đối với bầy tôi khen thuật công đức tiên đế, nhỏ nước mắt khóc không thôi. Lại bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Thận và Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng thường nói xin bớt đau thương.

      Vua nói rằng : “Trẫm vẫn biết, thương mà huỷ hoại thân thể, vượt ra ngoài lễ, đến nỗi không thể để tang được nữa, lại là bất hiếu, nhưng tình thương nhớ không thể tự thôi được”. Từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng : “Hoàng khảo ta có để lại giáp chiến, nón chiến, đai lưng là các đồ khi dẹp loạn vẫn dùng, nay trẫm trông thấy phảng phất như trông thấy người, cũng do đó mà biết công nghiệp gian nan bởi đâu mà nên” (sau khi đã an táng thì đem để ở điện Minh Thành). Vua lại đưa ra một đĩnh vàng bảo rằng : “Đĩnh vàng này là của tin của Hoàng tỷ((3) Hoàng tỷ : mẹ vua chết rồi gọi là Hoàng tỷ.3) lúc còn xiêu dạt để lại cho ta khắc mà cất đi. (Trước kia khoảng năm Quý mão, Thế tổ Cao hoàng đế phải đổi chỗ ở luôn, mới lấy một nén vàng chia làm hai đĩnh, một đĩnh đưa cho hậu để làm của tin. Kịp khi thiên hạ đã yên, Thế tổ bảo hậu rằng : “Lúc gian nan cũng không quên được, nên lưu lại để bảo con cháu”. Đến nay vua ra lệnh khắc vào đĩnh vàng ấy rằng : “Thế tổ đế hậu Quý mão bá thiên thời tín vật - Vật tin của Hoàng hậu vua Thế tổ lúc xiêu dạt năm Quý mão”. Kính cất ở điện Hoàng Nhân).

Cho các kỳ lão ở trong kinh kỳ bạc và cơm rượu theo thứ bậc.

Thu chép các bề tôi cũ có quân công.

Chiếu rằng : “Đến nơi công việc là bổn phận của tôi con ; cất nhắc thưởng khen là ơn điển của nhà nước. Nhớ xưa Hoàng khảo ta, một bộ nhung y, đánh dẹp giặc giã, trung thần chí sĩ, như mây họp, như bóng theo. Trong khoảng ấy, có những người vì nước khó nhọc, ra trận lập công, không thể kể hết được. Sau khi đại định, đã được khen thưởng, tước xứng với công, lớn nhỏ không sót. Từ đấy đến nay, hoặc có bệnh phải từ chức, hoặc vì tuổi già phải rút lui, hoặc về quê quán nghỉ ngơi, hoặc vì lầm lỗi mất chức, đấy đều là sự bất đắc dĩ cả, há lấy làm yên tâm ở đấy đâu. Trẫm nay mới nối ngôi, cần tìm người cũ, muốn nêu dùng thêm rộng để không ai bị nén chìm. Đặc chuẩn cho những người vì quân công được bổ quan vào khoảng từ năm Đinh mùi trở về sau, năm Gia Long thứ 18 trở về trước, ai dự có chỉ sai, chỉ truyền, châu sắc, châu thị và công đồng phó, đã tản cư về thôn quê, hoặc lệ thuộc vào các nha, có ai trước ốm mà nay khỏi, tuổi già mà sức khoẻ, tình nguyện xin khởi phục để làm việc, cùng là người có tội bỏ trốn đi mà biết ra trình thú tội, thì đều cho về kinh, do bộ Lại dẫn yết kiến, sẽ tuỳ tài bổ dụng”.

Lại dụ cho các quan ở Kinh và ở ngoài ai bị xử phạt bổng từ năm Gia Long thứ 18 về trước thì đều được khoan miễn.

Hạ lệnh cho các quan trong ngoài đều cử những người học trò có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học.

Chiếu rằng : “Hiền tài là đồ dùng của nhà nước, cho nên ngoài khoa mục ra, phải nhờ có cử tri, mà chức phận của đại thần là phải đem người tài đức để thờ vua. Trẫm mới nối ngôi, mưu toan gắng gỏi, rất muốn trong triều có nhiều người giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm mưu to, vang lừng đức hoá. Vậy ra lệnh cho các quan ở trong Kinh, văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên, ở ngoài thì các quan ở thành dinh trấn, đều cử một hai người có đức hiền lành ngay thẳng và có văn học, không kể là nhà sang hay nhà hèn, đều kê tên tâu lên”.

Bắt đầu chế dấu quan phòng để cấp cho văn võ đại thần. (Giám Thần sách quân, Chưởng Tượng quân, Chưởng Hậu quân, Chưởng Hữu quân, Chưởng Trung quân, Chưởng Tiền quân, Chưởng Thuỷ quân và Thượng thư sáu bộ, mỗi chức một dấu quan phòng bằng bạc. Thuỷ quân Thống chế được một dấu quan phòng bằng đồng, Tả tham tri, Hữu tham tri sáu bộ, mỗi chức được một dấu quan phòng bằng ngà). Trước đây các quan văn võ tâu nghị thì dùng ấn công. Đến nay sai Hữu ty chế ấn quan phòng ban cấp, cho khi phụng lục dụ chỉ và khi tâu nghị thì dùng.

Bắt đầu đặt Văn thư phòng. Sai Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân, Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân, Cai hợp Hứa Đức Đệ, Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh và Nguyễn Văn Thuận sung các chức Thị thư, Thị hàn, coi giữ đồ thượng bảo và văn thư, chương tấu, đồ bản, sổ sách ; sai Hàn lâm Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh và Cống sĩ viện Nguyễn Trường Huy sung chức Khởi cư chú ; đều do bộ cấp bằng để làm việc ở Văn thư phòng. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng của Văn thư phòng giao cho các Thị thư, Thị hàn, Nội hàn cùng giữ.

Chuẩn định từ nay phàm năm, tháng, ngày, gặp phải “cảnh mệnh” [là chữ ngọ], các văn thư của quan dân đưa lên, giao xuống thì cho viết thẳng tháng ấy ngày ấy, bất tất dùng chữ “kế” (như tháng 5 thì viết kế tứ nguyệt) cùng những chữ “nhật tiền nhật hậu” nữa.

Lấy Vệ uý vệ Tả bảo nhất Tả quân là Nguyễn Văn Tính làm Khâm sai chưởng cơ vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung.

      Cho Lê Kim Nhượng làm Vệ uý vệ Minh nghĩa Tả quân, Trần Văn Hãnh làm Phó vệ uý.

      Triệu Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân, Hữu tham tri Hình bộ hành Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Minh Nghĩa, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính về Kinh. Lấy Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Hoàng Văn Diễn làm Hữu tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành, Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Huy Trinh làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ, Tham hiệp là Nguyễn Khoa Hào làm Thự lý hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Công bộ là Nguyễn Văn Thục làm Ký lục Bình Định.

Trấn thần Quảng Ngãi dâng sớ tâu xin lấy chức cai hợp bổ tri huyện, Thượng thư Lại bộ là Nguyễn Hữu Thận đem việc ấy lên tâu. Vua nói : “Chức thần dân thì nên chọn người khoa mục để làm, tư lại không làm chức ấy được”. Hữu Thận xin cử Cống sỹ viện. Vua nói : “Chọn người dùng được thì dùng, chớ gây nên cái thói vội vàng cầu cạnh”.

      Bầy tôi bàn dâng tôn thuỵ Đại hành hoàng đế là Khai Thiên Hoàng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ.

      Vua nói : “Hoàng khảo ta trung hưng kiêm sáng nghiệp, công đức thịnh lắm, Cao tổ và Quang Vũ nhà Hán, không thể hơn được, tôn thuỵ như thế thì cũng hầu được chăng”.

      Vài ngày sau lại dụ các đại thần rằng : “Ta đêm nằm mơ thấy Hoàng khảo ở điện Trung Hoà bảo ta rằng : Đưa kim sách của ta lại đây. ý giả vong linh Hoàng khảo ở trên trời cũng ngầm nhận tôn thuỵ ấy”.

      Răn dụ thần dân trong ngoài :

      Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ hoàng cực dựng đạo trung, đối thời mà nuôi muôn vật ; vua nói làm phép tắc, ra mệnh để cáo bốn phương. Vì ban đức ra lệnh, làm phước thi ân, bắt đầu ở mùa xuân ; mà ban chầu trị quân, nhận chức làm phép, đều do ở việc lễ. Xét xưa, vua tôi khuyên răn, đều là theo lối người trước ; sửa sang mưu hay, trong ấy giáo hoá dựng làm. Để cho người lớn có đức, người nhỏ tạo nên. Đạo phải lâu thì hoá mới nên ; định lời nói để yên dân chúng. Theo lẽ trời đất giao thái ; chính ngày trên dưới đợi nhau. Giúp đỡ khuyên răn không bỏ thiếu, cùng lòng e sợ mà hợp lòng kính cung ; triều quận mục thú bắt chước nhau, xếp bằng phép tắc mà xét bằng tin thực. Còn như quân sĩ nanh vuốt ; từng trải chiến trận gian nan. Một mùa giảng võ ba mùa về cày, đều theo mệnh lệnh lui tới ; nghìn ngày chăm nuôi một ngày đem dùng đến chớ quên gan dạ trung thành. Đến như đông đúc cả đàn, đều dưới bao gồm che khắp. Cày dệt chớ bỏ nghề nghiệp, rèn nung lấy thói kiệm cần ; tài năng giữ ấy tính trời, hăng hái đua nhau nhân nhượng. Trẫm chịu ngôi báu lớn, nối phước tốt xưa. Vâng Tiên hoàng để cơ nghiệp nặng, giao việc khó khăn, vẫn sợ hãi như tới vực sâu, băng mỏng ; lúc sợ chính nhường bưng chậu đầy, ở cảnh mãn túc, càng giữ gìn như soi gương sáng nước trong. Nay nhân buổi ban cho ngọc thuỵ((1) Ngọc thuỵ : lễ chư hầu chầu vua, thì ban cho ngọc thuỵ.1) vậy đem lời dạy bảo đinh ninh. Ôi ! Uốn nắn không sót, phạm vi không qua, đã nhóm được phước làm chí đạo ; dạy bảo không cùng, dung dưỡng không hạn, để kéo lại cuộc thịnh đại đồng. Cố gắng đều lo ; thanh bình cùng hưởng”.

Ban cho vua nước Chân Lạp sắc thư và gấm lụa. (Gấm Tống 10 cây, lụa vải đều 50 tấm, trừu lông 10 tấm).

Dụ rằng : “Trẫm vâng trọng trách của Tiên đế phó thác cho, nghĩ tôn thống nước nhà quan hệ vào đấy, ngôi thần khí không thể vắng lâu. Vừa rồi, trên tuân di chiếu, dưới theo lòng người, ngày mồng 1 tháng giêng năm nay nối ngôi Hoàng đế, ban phước ra ơn, để tai mắt mọi người đều mới. Vương ở hàng chức cống đã lâu, nhờ Tiên hoàng đế ta dựng lại nước cho, đã suy lòng nhất thị đồng nhân, nên hưởng phước chung cùng thiên hạ. Vậy dụ cho biết và ban phẩm vật cho vương, để rõ ơn đặc biệt. Vương nên vâng theo lời dụ, kính giữ lễ phiên thần để khỏi phụ lòng ta, tức là không phụ ơn đức che chở của Tiên hoàng đế”

      Lại sai may áo trắng đưa đến nhà Nhu viễn để ban cấp cho. Vua dụ Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân rằng : “Bọn khanh trông coi việc ngoài khổn, canh phòng ở chỗ biên cương, càng không nên quên nước Chân Lạp là thần thuộc của bản triều ở giáp giới hai nước lớn. Nay Tiên đế vừa băng, chính giáo đổi mới, phải xét kỹ xem họ hướng lại quay đi thế nào, để mà yên ủi vỗ về, dù có chi phí cũng không nên tiếc. Vả nước Chân Lạp từ khi bản triều gây dựng cho đến nay, người nước Xiêm há không thắc mắc. Nay hoặc giả nhân lúc nước ta có việc đau thương, mưu toan úp lấy Nam Vang, cũng không thể không phòng bị được. Đại kế ở biên cương đó, khanh nên liệu kỹ sớm đi”.

      Sai Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt chọn các ấm tử có tài có hạnh, tâu lên để bổ dụng.

      Ngày ất sửu, vua mặc áo trở đến điện Hoàng Nhân làm lễ điện buổi sáng, lễ xong đổi mặc áo thường đến làm lễ ở trước bàn thờ Hoàng tỷ.

      Truy cấp cho Tham tri Hình bộ Nguyễn Duy Hoà 2 cây gấm Tống, 50 lạng bạc. (Mùa đông năm trước Duy Hoà sung chức Đề điệu trường thi Thăng Long, trở về ốm chết).

      Ban gươm đeo và súng tay cho các quan võ Kinh và ở ngoài (quan Kinh thì từ Vệ uý trở lên, quan ngoài thì các đại viên ở hai thành). Lê Văn Duyệt và Nguyễn Đức Xuyên đều được cho thêm sừng tê.

      ở Kinh sư giá gạo cao. Sai Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng hỏi thăm dân gian, có ai muốn mua gạo thì giảm giá mà bán cho.

      Ban lịch Hiệp kỷ năm Minh Mệnh thứ 1.

      Sai biền binh các vệ Hữu bảo nhất, Hữu bảo nhị, Trung bảo nhất đi thú Nghệ An, Thanh Hoa và Bắc Thành ; cho áo quần và tiền lương bổng theo thứ bậc. Rồi lính thú không quen thuỷ thổ, nhiều người bị ốm. Vua nghe tin, sai trung sứ chạy theo đường trạm đến xét thăm. Dụ cho các quan địa phương vỗ về thương xót ; nếu có người chết thì cấp tiền theo như lệ và cấp thêm cho một tấm vải.

      Cho tế tướng sĩ chết trận ở Thi Nại. Vua nhớ lại buổi quốc sơ trong trận Thi Nại tướng sĩ nhiều người chết trận, sắc cho Hữu ty sắm sẵn sinh lễ và 300 quan tiền, sai Lê Văn Duyệt làm đàn để tế.

      Bàn đặt quan thuộc ở phủ Tôn nhân. Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng : “Thế hệ của nhà nước từ vài trăm năm chi phái sinh ra nhiều lắm, không thể ghi hết được. Nay nên lấy thân thuộc hai ba đời làm một sổ riêng, sống thì đặt tên, chết thì cho thuỵ, các lễ quan hôn tang tế thì ân cấp theo thứ bậc. Đặc chức Tả, Hữu tôn chính và các phủ thuộc coi giữ phả hệ, để rõ nghĩa luân thường.”

      Ngày ất hợi, đúc sách vàng tôn thuỵ. (Dùng 9 tờ vàng, mỗi tờ dài 6 tấc 3 phân 4 ly, ngang 3 tấc 5 phân 1 ly).

      Ngày Bính tý, xuất binh (trao cờ tiết mao cho đại thần võ ban như lệ trước). Trước một ngày, ra lệnh cho 1.000 biền binh Thị trung sắp hàng ở Công thự tả hữu, 1.000 biền binh Thị nội sắp hàng ở hai bên tả hữu trong cửa Đoan Môn. Đến ngày thì xuất binh. Xong thì thôi việc giới nghiêm. Ghi làm lệ.

Cho Kiến An công là Đài 2.000 quan tiền.

      Dụ rằng : “Nghe thấy em không đủ tiền tiêu dùng, vậy cấp cho tiền. Em phải nghĩ đấy, những bổng lộc ấy là máu mỡ của dân. Phải cung kiệm để nối nghiệp nhà, đừng xa xỉ mà hại đức. Ta vì thiên hạ giữ của há có thể thường dùng của công làm ơn riêng mãi được sao ?”.

      Định lệ hậu thăng hậu điệu cho các quan ở Kinh và ở ngoài bổng mãn.

      Vua từng xem sổ các quan, dụ bầy tôi rằng : “Triều đình vì nước chọn người, hoặc lấy tư cách, hoặc lấy công lao tài năng, đều nên đem ra bàn chung, há nên kéo bè tư túi. Vậy định điều lệ để thi hành”. Bèn chuẩn định : Phàm những quan trong ngoài, văn từ Chánh tam phẩm, võ từ Tòng nhị phẩm trở xuống, hiện ăn lương bổng chức đương làm đã đầy sáu năm trở lên tức là bổng mãn. (Bàn lương bổng chỉ lấy chức thực thụ hiện nay mà bàn, còn người nào nguyên đã có chức từ trước, tuy ăn bổng nhiều năm, cũng không bàn đến. Lại như người nào ăn lương bổng đã đầy sáu năm, nhân có tang về nghỉ, lại được bổ nguyên chức cũ mà không được thăng, nay tính từ khi lại bổ nguyên chức đến giờ, dẫu chưa đầy sáu năm cũng cho liệt làm bổng mãn), Thượng ty quản lĩnh nên xét người ấy có thể làm được việc thì hằng năm cứ đến tháng xuân làm hai bản danh sách. Văn có việc làm, võ có coi quân, là sách hậu thăng (võ thì Trấn thủ, Lưu thủ lệ cũng thế), văn không làm việc, võ không coi quân, là sách hậu điệu, do hai bộ Lại Binh tâu lên, đợi chỉ thăng điệu (ở Kinh thì tháng 2, ở ngoài thì tháng 3, đều cứ trung tuần thì gửi cho bộ). Nếu do đặc chỉ và do chuẩn theo đình thần cử lên thì không kể niên hạn.

      Lại định lệ khai khuyết. Phàm quan chức có khuyết thì ngay tháng ấy làm sách gửi cho bộ, bộ thần lấy cả sách hậu thăng, hậu điệu tiến trình, đợi chỉ bổ khuyết.

      Bàn định ngày ninh lăng. Khâm thiên giám là Hoàng Công Dương cùng Thị trung Trực học sĩ là Lê Duy Thanh đều giữ ý kiến riêng. (Công Dương chọn ngày 16 tháng 4 là ngày Tân sửu, giờ Đinh dậu, Duy Thanh chọn ngày 29 tháng 3 là ngày ất dậu, giờ Đinh sửu). Vua phê bảo bầy tôi rằng : “Văn từ Thiêm sự, võ từ Thống chế trở lên, phải kính cẩn bàn kỹ. Việc ninh lăng là việc lớn, lâu dài muôn năm, nên phải hết tốt hết đẹp, mới xứng tấm lòng hiếu của trẫm. Nếu thấy đích xác có chỗ chưa hợp thì cho chỉ ra tâu lên. Nhược bằng trước thì theo hùa, sau lại phát lời nói quái để người nghi hoặc thì trị tội nặng”.

      Mọi người bàn cho ngày Tân sửu tháng 4 của Công Dương chọn là tốt nhất. Lại sai các tước công bàn lại, đều hợp cả. Lời bàn đã nhất định rồi. Bèn ra lệnh cho Hữu ty sắm sửa tang nghi, lấy các đại thần chia ra trông coi công việc.

      Dụ rằng : “Việc đưa đám là lễ lớn, nếu một việc gì chưa được hết tốt hết đẹp thì hối hận suốt đời. Bọn khanh phải hết lòng trù tính đấy”.

      Vua sáng suốt cẩn thận về chính thể. Những chương sớ trong ngoài tâu lên, nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc châu phê. Có bản phê bắt đầu từ đấy.

      Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Trương Công Vĩ về đinh ưu. Lấy Thị trung Trực học sĩ Lê Duy Thanh thay.

      Lấy Thượng bảo khanh là Trần Đình Trưng làm Cai bạ Phiên An.

      Triệu Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất về Kinh. Sai Phó tổng trấn Lê Văn Phong quyền coi ấn vụ Bắc Thành.

      Trước đây Chất dâng sớ tâu xin vào viếng tang. Vua nghĩ rằng phương Bắc là nơi quan trọng, không thể tạm lìa được, không cho. Đến nay vua thấy lễ ninh lăng đã định ngày mới triệu vào. Sai lấy 1.500 người trong các vệ Ngũ kích thuộc ngũ quân đi theo.

 

      Gọi 2.000 người quân Thần sách ở Thanh Nghệ về Kinh (Thanh Hoa 600 người, Nghệ An 1.400).

      Đổi Nội đồ gia làm Nội vụ phủ, Ngoại đồ gia làm Vũ Khố. Sai Thiêm sự Hộ bộ quản Nội đồ gia là Nguyễn Công Vị vẫn quản Nội vụ phủ, Tri bạ Đồ gia là Hồ Hữu Thẩm và Nguyễn Công Khiêm làm Biện lý Nội vụ phủ. Hữu tham tri Công bộ quản Đồ gia là Nguyễn Khoa Minh vẫn quản Vũ Khố. Sai chế ấn quan phòng bằng đồng để cấp cho.

      Lấy Cai đội Lê Văn ý làm Thủ ngự sở Phú Quốc. Sai mộ lính lập 10 đội ở thủ sở, mỗi đội 50 người, cho mỗi đội đều làm thuyền lớn thuyền nhỏ 3 chiếc, nhà nước cấp cho khí giới, tha cho thuế thân và tạp dịch để sai đi tuần biển.

      Lấy Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Tứ làm Phó vệ uý vệ Tín oai thự việc vệ uý.

      Lấy Vệ uý vệ Hiếu dũng là Tôn Thất Tình lĩnh Quản phủ Hà Trung và ban cho triều phục. Tình bệ từ, vua dụ rằng : “Ngươi là họ tôn thất, không ví như người khác ; Hà Trung là đất thang mộc, lại không ví như phủ khác. Ngươi nên siêng năng cố gắng thêm lên, để xứng đáng trách nhiệm giao cho. Nếu làm việc không kính cẩn thì không những phải tội với triều đình mà lại phải tội với thế phả nữa. Phàm người ta phải kính sợ mới làm nên việc. Làm thiên tử còn nơm nớp sợ trên kiêng dưới, không dám cho mình là tôn cao giàu sang mà xa xỉ. Ngươi nên thể tất ý trẫm, phải kính sợ, phải cẩn thận nhé”.

      Tình cúi đầu vâng mệnh.

      Lạc Hoàn sai sứ sang cống ; sứ giả đến Nghệ An, xin đến Kinh lạy chầu. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua y cho. Sứ giả đến, cho yết kiến ở Tiện điện, rồi cho hậu mà bảo về.

      Triệu Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính về Kinh. Lấy Chưởng cơ Mai Gia Cương thay lĩnh chức Trấn thủ.

      Sai Lê Văn Duyệt bói ngày tế Giao. Từ đấy đầu mùa xuân sai quan bói ngày tế Giao, hằng năm lấy làm lệ thường.

      Trí sĩ là Binh bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Hựu vào viếng tang. Đăng Hựu tuổi 69, vua vời vào yết kiến để uỷ lạo, rồi cho 100 quan tiền.

      Bãi việc các địa phương tiến dâng thú rừng.

Theo việc cũ thì ngày lễ kỵ, các dinh trấn nhiều nơi dâng thú rừng. Vua bảo bầy tôi rằng : “Tế ở nhà Tôn Miếu, các món trân tu bày ở trở đậu((1) Trở đậu : đồ thờ để đựng thịt cúng.1) đều có phép thường. Nếu cứ để bốn phương cống hiến, một con chim một con muông, tuy là vật nhỏ mọn, mà quan lại trách lấy ở dân, không khỏi khó nhọc phiền phí. Vậy bãi đi”.

      Người Thanh Hoa là Trần Hữu Bảo đào được một cái ấn bằng đồng, có chữ “Sắc mệnh chi bảo” ((2) Sắc mệnh chi bảo : cái ấn đóng sắc mệnh của vua.2)(Sau lưng khắc “Nguyên Hoà ngũ niên tạo”. Nguyên Hoà là niên hiệu của Lê Trang Tông). Người Quảng Đức là Hồ Quang đào được một cái ấn ngọc, trong có chữ : “Trung hoà vị dục” ((3) Trung hoà vị dục : chữ sách Trung dung, nghĩa là : đạo được trung hoà thì trời đất yên ngôi (vị), muôn vật sinh nở (dục).3). Đều do quan địa phương dâng lên. Vua sai thưởng bạc theo bậc khác nhau (Trần Hữu Bảo bạc 20 lạng, Hồ Quang 5 lạng).

      Lấy Ký lục Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa làm Cần Chính điện học sĩ.

Trấn thủ Cao Bằng là Nguyễn Bá Xuyến, Hiệp trấn là Trần Văn Thái, vì nhũng lạm bị tội miễn chức. Lấy cựu Trấn thủ Thái Nguyên là Nguyễn Công Đát làm Trấn thủ Cao Bằng, Tham hiệp Kinh Bắc là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn, Tri phủ ứng Hoà là Phùng Khắc Tuân làm Tham hiệp, Hàn lâm viện Nguyễn Bá Tuân làm Tham hiệp Kinh Bắc.

      Đem bạc, lụa, trâu, rượu cho cha Lê Văn Duyệt là Văn Toại và mẹ Lê Chất là Đào thị và cho thư để khen ngợi uỷ lạo.

      Cho dịch trạm các dinh trấn 3 tháng lương. (Từ Quảng Đức trở về Nam đến Biên Hoà, về Bắc đến Thanh Bình, cộng 91 trạm, gạo 4.995 phương).

      Ban kính đeo mắt của Tây dương và lọ dầu đinh hương cho bầy tôi.

      Vua dụ bầy tôi rằng : “Đạo trị nước chép ở sách vở, không xem rộng xét kỹ không thể biết hết được. Nay thư viện Thanh Hoà chứa nhiều sách lạ bốn phương, bọn khanh lúc rỗi việc mà có chí đọc sách thì mượn mà xem”.

      Cho công thần Vọng Các là Chưởng dinh thượng đạo hưu trí Nguyễn Long 30 lạng bạc. Long trước đây vì tuổi già về nghỉ, đến nay nghe tin quốc tang, ốm nặng không thể vào viếng tang được, dâng biểu tự trần. Vua thương, dụ cho miễn đến Kinh mà hậu ban cho. Thuộc hạ là Cai cơ Cao Văn Quế cũng được cho bạc 10 lạng.

      Thưởng vàng bạc cho các thân công, hoàng đệ, thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, theo bậc khác nhau.

      Sai dinh Quảng Đức xây lò gạch ngói ở Vân Cù (tên xã thuộc huyện Hương Trà), hằng tháng cấp tiền gạo cho người làm việc. Lò làm vào ruộng đất của dân thì đền bằng thóc.

      Sai bộ Hộ làm tổng sách tiền thóc. Dụ rằng : “Tiên đế để lại kho tàng cho ta để giúp nhân dân, số đủ thiếu không thể không biết được. Vậy tính kê số tiền thóc xuất nhập trong một năm, thừa được bao nhiêu, làm thành hai bản sách, một bản để dâng nơi bàn thờ, một bản để ta xem”.

      Chọn lính Thị trung, người có sức mạnh bổ vào mười đội Túc trực, lấy cất vật nặng đi xa làm mức thưởng cấp bạc tiền áo quần. (Cách chọn, lấy hai khối chì mỗi khối nặng hơn 100 cân, người dự tuyển mỗi tay nhắc một khối đi 15 trượng ; lại cho một tay nhắc một khối đi 30 trượng là hạng ưu ; hai tay nhắc đi 12 trượng, một tay nhắc đi 24 trượng là hạng ưu thứ ; hai tay nhắc đi 10 trượng, một tay nhắc đi 20 trượng là hạng bình ; hai tay nhắc đi hơn 8,9 trượng, một tay nhắc đi hơn 16 trượng là hạng bình thứ ; hai tay nhắc đi 7 trượng cho đến 5 trượng, một tay nhắc đi trên dưới 10 trượng là hạng thứ).

Thống quản đồn Uy viễn là Nguyễn Văn Tồn chết. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Nguyễn Văn Tồn tuy là ở ngoài giáo hoá, nhưng làm tôi thờ Tiên đế, đã nhiều năm vất vả, một lòng trung thành, rất đáng thưởng”. Bèn sai quan dụ tế, cho hai cây gấm Tống, 20 tấm vải, 200 quan tiền. Lấy Phó quản đồn là Cai cơ Hồ Văn Thất thự Chánh quản đồn, An phủ là Tót làm Phó quản đồn.

      Biên các đội tinh binh ở đồn Uy viễn làm cơ Tĩnh biên, cho Nguyễn Văn Vì là con Nguyễn Văn Tồn làm Cai đội thự Chánh quản cơ, Cai đội Nguyễn Văn Thành thự Phó quản cơ.

Vua đã đại xá tù đồ (ở Kinh tù lưu đồ 217 người, ở ngoài tội sung quân và lưu đồ 389 người), lại lo rằng hoặc giả chúng khinh rẻ lại tái phạm, mới dụ rằng : “Triều đình thể đức hiếu sinh của trời đất mà xá lỗi tha tội, thì người có lương tri nên cố sức hối cải, làm người dân lành, để cùng lên cõi nhân thọ. Nếu quen nết xấu không chừa, lại can vào tội, tức là cố ý không hối cải, thì nước có hình thường, dẫu muốn lại cầu xin ơn điển cũng không thể được nữa. Bộ Hình phải lấy chỉ dụ này gửi khắp cho các địa phương khiến đều biết cả”.

      Sai sứ báo tang cho nước Xiêm. Lấy Tham tri Lễ bộ Bùi Đức Mân sung Chánh sứ, Thiêm sự Công bộ Trương Quang Hải và Thuộc nội cai đội Ngô Văn Trung sung giáp ất Phó sứ (Tặng Phật vương 2 cân kỳ nam, 3 cân nhục quế, 1.000 cân đường phèn, 2.000 cân đường cát và the sa vải đều 100 tấm). Đức Mân đến, vua Xiêm khoản đãi rất hậu, hỏi rằng : “Tục nước tôi viếng đám tang lấy bố thí làm hậu, nay muốn sai sứ đem vàng để làm phước có được không ?” Đức Mân nói : “Không hại gì”. Khi về, vua quở trách rất dữ, giao cho bộ Hình nghị tội. Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng hết sức xin cho mới được khỏi tội.

      Định lệ thưởng phạt vì chóng hay chậm cho lính trạm từ Gia Định và Bắc Thành đến Kinh. (Thành Gia Định, việc rất khẩn 9 ngày đến Kinh, thưởng tiền 6 quan, không tới 9 ngày mà đến thì thưởng thêm 3 quan ; việc khẩn vừa đi 10 ngày đến thì thưởng tiền 4 quan. Bắc Thành việc rất khẩn đi 4 ngày 6 giờ đến thì thưởng tiền 4 quan ; đi không tới 4 ngày 6 giờ đến thì thưởng thêm 2 quan ; việc khẩn vừa đi 5 ngày đến thì thưởng tiền 3 quan. Phàm việc rất khẩn và khẩn vừa mà đi quá hạn 1 ngày thì đình thưởng, tha tội ; quá hạn đến 1 ngày 1 giờ thì đánh 30 roi, cứ chậm một ngày lại thêm 20 roi, tội chỉ đến 90 trượng là thôi. Đến như đi thường thì Gia Định 12 ngày, Bắc Thành 6 ngày, quá hạn 1 ngày thì tha tội, quá hạn 1 ngày 1 giờ thì đánh 30 roi, cứ chậm 1 ngày thì thêm 10 roi, đến 50 roi là thôi. Từ Kinh đến hai thành, lệ cũng như thế).

      Sau có tiểu sai từ Gia Định đệ biểu tâu việc thường mà cũng đi khẩn để cầu thưởng, vua ra lệnh không thưởng và sắc cho hai bộ Lại, Hộ từ nay về sau nên xét việc đệ đi, việc khẩn thì thưởng như lệ, việc thường thì thôi.

      Tháng 2 dâng lên Hoàng mẫu 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo.

      Quảng Nam giá gạo hạ, vua nghe rất vui lòng. Mùa đông năm trước ở Quảng Nam giá gạo cao, sai Tham bồi Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Bá Nhân đến phát gạo ra bán. Đến nay gạo rẻ, ít người lĩnh gạo bán, triệu bọn Nghi về.

Tha thuế điền thổ cho dân xiêu dạt ở xã Nga Mi (thuộc huyện Nông Cống) trấn Thanh Hoa. Từ đấy về sau ruộng đất của dân xiêu dạt bỏ hoang, sở tại đem án tâu lên, đều miễn thuế.

      Sửa Hữu miếu.

      Cất sinh đồ ở Thanh Hoa là Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận bổ vào Hàn lâm viện. Trước đây Lê Văn Duyệt đi kinh lược địa phương Thanh Nghệ, hai người ấy đều có công gọi giặc trốn ra đầu hàng. Duyệt đem việc tâu lên triều đình cho nên có mệnh này.

      Lấy Cai đội Nguyễn Văn Niệm làm Vệ uý vệ Tả bảo nhất, cựu Phó quản cơ Nguyễn Văn Bằng làm Phó vệ uý.

      Bắc Thành giá gạo cao. Dụ cho các trấn trong thành hạt rằng tiền lương bổng phải chi về tháng 3 tháng 4 thì cho chi bằng thóc, giảm giá thóc mỗi hộc trị giá 1 quan tiền.

      Dân hai xã An Vân và Đốc Sơ (thuộc huyện Hương Trà) dinh Quảng Đức tâu xin miễn cho tạp dao 2 tháng để đào mương lấy nước tưới ruộng. Vua sai dinh thần khám thực, rồi y cho.

      Sai Phó đô thống chế Tôn Thất Bỉnh, Tả thống chế Tôn Thất Dịch, Chánh giám sơn lăng sứ Tôn Thất Đạo, hễ đến ngày mồng 1 và ngày rằm, đều mặc triều phục đến các miếu kính cẩn làm lễ.

      Sai các cửa biển dự trữ tiền gạo để cấp cho người bị nạn.

      Chiếu rằng : “Thương người bị nạn để rõ chính sách nhân từ. Vả đường biển gian hiểm, sóng gió khó lường, gần đây quan quân dân chúng, hoặc đi việc công, hoặc đi buôn bán, lội hiểm lặn sâu, đều là bất đắc dĩ cả, gián hoặc bỗng gặp nạn gió, người sống thì không nơi nương tựa, người chết không ai liệm bọc, xét soi thấy thế, rất đáng xót thương. Vậy hạ lệnh cho các thành dinh trấn đều dự trữ tiền 100 quan gạo 100 phương ở thủ sở cửa biển, khi có người bị nạn thì xem việc công hay việc tư, tuỳ bậc mà cấp. (Phàm người đi công sai, cai đội phó đội trở lên, mỗi người cấp tiền 4 quan gạo 1 phương ; chánh đội trưởng, đội trưởng thì tiền 2 quan gạo 1 phương ; người chết thì số tiền cấp gấp đôi. Binh lính thì tiền 1 quan gạo 1 phương ; người chết thì tiền 3 quan. Nhân dân thì cấp 5 tiền và 15 bát gạo ; người chết thì 2 quan tiền. Không phải là đi công sai thì cai đội phó đội trở lên tiền 2 quan gạo 15 bát ; người chết thì 3 quan tiền. Chánh đội trưởng trở xuống đến quân dân, thì 3 tiền 10 bát gạo ; người chết thì 1 quan tiền).

      Sai Thiêm sự Hoàng Quốc Bảo, Thị hàn Hoàng Sư Định, Nội hàn Lê Bá Tú đến Quảng Trị phát thóc kho ra bán. Trước là dân Quảng Trị nhiều người điêu hao, bọn Bảo vâng lệnh phái đi thăm hỏi, đem hết tình trạng đau khổ tâu lên, vua bèn ra lệnh phát thóc kho giảm giá bán ra (Thóc 1 hộc trị giá 8 tiền, quân dân đều bán cho 1 hộc ; kẻ goá vợ, goá chồng, cô độc thì bán một nửa).

      Lại triệu Ký lục Quảng Trị Lê Đồng Lý đến quở trách rằng : Bọn các ngươi là người giữ việc chăn dân mà để cho dân đến như thế, chẳng phải là vỗ về nuôi nấng không đúng nên đến thế sao ! Ngươi làm việc mới ít ngày, hãy tha cho ; phải về cùng với Lưu thủ là Bùi Văn Thái hội đồng với phái viên mà làm cho thoả đáng, cho tiểu dân đều được nhờ ơn, để bù lại lỗi trước. Còn Cai bạ Nguyễn Cư Tuấn không có tài chăn dân, giải chức ngay về Kinh để đợi chỉ. Lại chuẩn lời bàn của đình thần, phàm dinh hạt nào nhân dân xiêu dạt thì tha bắt dao dịch, hoãn thúc giục thuế, để dân được thư.

      Bộ Công tâu xin trưng thu trước gỗ thuế của thợ rừng ở Quảng Trị.

      Vua nói : “Lệ thuế sản vật năm nay, trước đã có lệnh tha, nay mực tờ chiếu chưa khô mà lại trưng thu thì lấy gì để cho dân tin được. Nếu không đủ thì lấy tiền công mà mua”.

      Cấm các quản quân thiện tiện đòi lính mộ trốn thiếu.

      Vua thấy lính ứng mộ không dính dáng đến việc xã dân điền cấp, thế mà gần đây mỗi khi có người trốn thì người cai quản thường thường theo nguyên quán mà đòi bắt, làm khổ cho dân, nên sắc từ nay về sau hễ có lính trốn thì tư cho bộ Binh phái nã, không được bắt bớ nhiễu dân.

      Đổi tên đài Bắc Củng làm đài Bắc Định, cửa biển Yên Việt làm cửa biển Việt Yên.

      Sai biền binh Thuỷ quân đem các thuyền hiệu, thuyền ô, thuyền lê 70 chiếc đi chở gỗ cây, đá phiến cùng tiền và sản vật nhà nước ở Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Bình, Phú Yên, Bình Định nộp về kinh.

      Bộ Lễ tâu dâng nghi chú tế Giao, từ lúc phát thệ ăn chay đến lúc lễ xong, cứ theo như điển cũ. Vua nghe theo. (Trước khi tế Giao 3 ngày, đại hội các quan văn võ để thề ăn chay ở sân điện Thái Hoà. Trước 2 ngày vua thân đến cáo ở Thái Miếu và điện Hoàng Nhân. Trước 1 ngày xa giá đến Trai cung. Đến ngày hôm ấy đem bầy tôi làm lễ lớn).

      Ngày Tân sửu, tế Trời đất ở đàn Nam Giao, lễ xong, mưa to như trút nước. Trước đây trong kinh kỳ kém mưa, nhà vua lấy làm lo, dụ rằng để sau khi tế Giao thì cầu đảo. Ngày hôm ấy mưa, người đều cho rằng lòng tinh thành cảm đến trời đất.

      Sai trung sứ đi các huyện ấp trong kinh kỳ, xét xem lúa ruộng thế nào để tâu lên.

      Sai Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Tường Vân vẫn lĩnh Hộ tào Bắc Thành, hiệp cùng Phó tổng trấn Lê Văn Phong bàn làm các việc ở thành. Tường Vân trước đây có lệnh gọi về Kinh, chưa kịp lên đường, vừa gặp Lê Chất đến Kinh, vua hỏi về việc thành. Chất nhân tâu nói : “Văn Phong là người chất phác hiền lành, không có học, xin để Tường Vân cùng ở làm việc”. Vua nghe lời tâu, bèn ra lệnh cho Tường Vân ở lại thành. Cải bổ Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Tào hộ Bắc Thành là Hoàng Văn Diễn làm Hiệp trấn Thanh Hoa, Hữu Tham tri Binh bộ lĩnh Hiệp trấn Thanh Hoa là Nguyễn Xuân Thục ở lại Kinh làm việc bộ.

      Đặt trạm đường thuỷ ở sông Vĩnh Tế.

      Trước đây Hà Tiên có việc báo cho Gia Định tất phải theo đường biển, nhiều khi chậm trễ. Đến nay ra lệnh cho thành thần đặt trạm đường thuỷ để chạy đệ tin báo quan trọng, nếu đường sông có chỗ nào chưa thông thì đi đường bộ cho nhanh việc công.

      Lấy Phó vệ uý vệ Củng võ Hữu dinh quân Thần sách là Lê Văn Sách làm Vệ uý vệ Diệu võ Tả dinh.

      Cấm trong kinh thành chứa chấp những bọn nhỏ hèn vô lại và nói tiếng Hồ ăn mặc lạ.

      Vua bảo thị thần rằng : “Kinh thành ở sát dưới xe, gần đây viên giám thành lơ là đàn áp nên bọn nhỏ hèn nhiều kẻ dám đi lại làm ồn ào, không tôn trọng nơi kinh sư, phải nghiêm cấm đi”.

      Quảng Bình giá gạo cao. Sai dinh thần phát gạo kho 10.000 phương, giảm giá bán ra (1 phương gạo giá 8 tiền).

      Trấn thần Bình Định tâu nói : “Các sở đầm nguồn Trà Đinh, Thạch Bàn, Kiều Bông, Hà Náo, Ô Kiêm, Đồng Trí thuộc hạt ấy ít người muốn trưng, xin giảm giá để tiện cho dân”. Vua y cho. Sắc từ nay về sau ai muốn trưng thì cho trưng, ai không muốn thì chớ bắt ép.

      Sai các quân tập trận. Vua ngự điện Kiền Nguyên để xem.

      Lấy Hữu tham tri Công bộ là Đoàn Viết Nguyên làm Tả tham tri Hộ bộ, Nguyễn Đức Huyên làm Tả Tham tri Công bộ, Ký lục Bình Định là Trần Văn Tính làm Hữu tham tri Công bộ.

      Bổ con Đặng Đức Siêu là Đức Thiệm, con Trần Văn Trạc là Văn Thục làm Hàn lâm Thị thư.

      Bàn định quy trình nhà Quốc tử giám.

      Vua bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng : “Học hiệu là quan hệ đến hiền sĩ, nhà nước dùng người phần nhiều lấy ở đấy. Tiên đế bắt đầu đặt nhà Quốc tử giám, đặt học quan và định phép xét thi để gây dựng nhân tài cho nhà nước dùng. Ta theo chí Tiên đế, muốn sai làm nhà học, lấy thêm sinh viên, hậu cấp lương cho, định rõ chương trình khiến cho người học đều được thành tài để đợi xét dùng. Bọn khanh phải cùng học thần bàn từng phần mà tâu lên”.

      Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Văn Nhân dâng biểu thành khẩn xin vào viếng tang. Vua y cho, sai Hiệp tổng trấn Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh ấn vụ Tổng trấn.

      Vua nghĩ Văn Nhân là người huân cựu, tuổi lại già dụ cho đi đường thong thả, chớ để nhọc mệt, khi đến, vời vào yết kiến ở Tiện điện, thung dung cho ngồi, yên ủi hỏi han mãi.

      Lấy Vệ uý vệ Thắng oai quân Thị nội là Phạm Văn Tín làm Lưu thủ Quảng Nam.

      Sai Đốc thần Thanh Hoa là Nguyễn Văn Ngoạn tế cáo ở Nguyên miếu.

      Chiếu rằng : “Báo đền từ gốc để cho tôn đạo hiếu ; chính từ lúc đầu để cho rõ điển lễ. Trẫm mới nối mối lớn, nghĩ đến Nguyên miếu ở quý hương, gây mở nghiệp vương để lại muôn đời. Vậy ra lệnh sắm lễ yết cáo, để tỏ nghĩa nhớ đến tổ xa”.

      Định thêm lệ lễ Nguyên miếu. (Lệ trước có những lễ Trừ tịch, Chính đán, Đoan dương, tế hưởng mạnh Xuân, mạnh Thu và tế Chạp. Đến nay thêm hai lễ hưởng mạnh Hạ, mạnh Đông). Đặt ty Từ tế, lấy người công tính là Nguyễn Hựu Tuyên làm Từ tế sứ (trật Tòng tứ phẩm), Nguyễn Hựu Sỹ làm Từ tế phó sứ (trật Chánh ngũ phẩm), kiêm quản các chi công tính và phụng giữ việc thờ cúng. Vua dụ rằng : “Bọn ngươi là công tính coi giữ việc thờ tự, nên xướng suất người họ, dạy bảo con em, phàm việc tất phải thành kính, chớ bỏ mệnh lệnh của trẫm”.

      Lấy tiền bạc trâu rượu cho tôn thất, công tính, ngoại thích, quý hương, quý huyện. Lại thưởng thêm cho các kỳ lão công tính tuổi từ 70 trở lên, các kỳ lão quý huyện tuổi từ 80 trở lên, bạc lụa rượu thịt theo bậc khác nhau.

      Bắt đầu đặt bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai quân Thị nội, mỗi dinh đều 5 vệ. Dinh Thần cơ 5 vệ thì lấy 8 đội Trung hầu (từ đội 2 đến đội 9), 3 đội Chấn oai, cộng 11 đội, bổ làm Trung vệ, 10 đội Chấn oai làm Tiền vệ, 10 đội Loan nghi làm Hậu vệ, 2 đội Tân hầu ở Bình Định, 7 đội, 5 đội Thắng và 2 đội Chấn ở Quảng Nam, đội Kiên Ngãi ở Quảng Ngãi, cộng 10 đội, làm vệ Thần oai, 2 thuyền Kiên súng và Nhưng súng ở Bình Hoà, thuyền Tân bính ở Bình Thuận, 5 thuyền Bính ở Quảng Nam, đội Oai bính ở Quảng Trị, đội Thắng súng ở Phú Yên, cộng 10 đội, làm vệ Chấn oai. Dinh Tiền phong 5 vệ thì lấy 8 vệ Kiện võ bổ làm Trung vệ, 10 đội vệ Kỳ võ làm Tiền vệ, 10 đội vệ Trang võ làm Tả vệ, 10 đội vệ Nghiêm võ làm Hữu vệ, 10 đội vệ Tuyên võ làm Hậu vệ. Dinh Long võ 5 vệ thì lấy 10 đội vệ Nội trực bổ làm Trung vệ, 11 đội vệ Trung tín nhất làm Tiền vệ, 4 đội Tả vệ, Hữu vệ, Hoàng kiếm và Tiểu sai, 6 đội Nội hầu (từ đội 8 đến đội 13), cộng 10 đội làm Tả vệ, 6 đội Kiên thuận, 3 đội Kiên dũng, đội Trung hầu thuộc tòng, cộng 10 đội, làm Hữu vệ, 10 đội vệ Hữu bảo nhất làm Hậu vệ. Dinh Hổ oai 5 vệ thì lấy 10 đội vệ Tín oai bổ làm Trung vệ, 10 đội vệ Thắng oai làm Tiền vệ, 10 đội vệ Trung cần làm Tả vệ, 12 đội vệ Trung tín nhị làm Hữu vệ, 10 đội vệ Hữu bảo nhị làm Hậu vệ. Còn quân Thị nội, vệ Kỹ võ (12 đội sinh thiết), vệ Thành võ (2 đội Thành võ, 3 đội Nội hầu ngũ, Nội hầu lục, Nội hầu thất, 5 đội Thường hầu, cộng 10 đội), vệ Trinh võ (2 đội Tiểu sai, Nội mã, 4 đội Trinh nghĩa, cộng 6 đội) cùng với đội Hoàng kiếm, đội Tả vệ , đội Hữu vệ, 3 đội Dực võ nhất nhị tam, đều để nguyên hiệu cũ.

      Bổ Phó vệ uý vệ Trung hầu là Trương Công Tuyên làm Phó vệ uý Trung vệ dinh Thần cơ quân Thị nội, Vệ uý vệ Kiện võ là Lê Phước Hậu làm Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong, Vệ uý vệ Trang võ là Vũ Văn Châu làm Vệ uý Tả vệ, Phó vệ uý vệ Trang võ là Hồ Văn Trương làm Phó vệ uý, Vệ uý vệ Nghiêm võ là Nguyễn Khả Bằng làm Vệ uý Hữu vệ, Phó vệ uý vệ Nghiêm võ là Vũ Văn Tính làm Phó vệ uý, Vệ uý vệ Tuyên võ là Nguyễn Đăng Huyên làm Vệ uý Hậu vệ, Vệ uý vệ Nội trực là Mai Văn Thành làm Vệ uý Trung vệ dinh Long võ ; Vệ uý vệ Trung tín nhất là Phan Văn Thuý làm Vệ uý Tiền vệ, Quản cơ cơ Hữu thủy là Nguyễn Văn Sử làm Phó vệ uý, Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất là Ngô Văn Thành làm Phó vệ uý Hậu vệ, Phó vệ uý vệ Tín oai là Nguyễn Xuân làm Phó vệ uý Trung vệ dinh Hổ oai, Phó vệ uý vệ Thắng oai là Nguyễn Văn Phượng làm Phó vệ uý Tiền vệ, Vệ uý vệ Trung cần là Đỗ Quý làm Vệ uý Tả vệ, Phó vệ uý vệ Trung cần là Bùi Văn Phượng làm Phó vệ uý, Vệ uý vệ Trung tín nhị là Nguyễn Văn Lượng làm Vệ uý Hữu vệ, thự Vệ uý vệ Tín oai là Tôn Thất Tứ làm thự Vệ uý Hậu vệ, Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Nguyễn Văn Tùng làm Phó vệ uý.

      Chọn lấy 40 người trong các đội Loan nghi quân Thị nội đặt làm đội Bả cái.

      Bắt đầu đặt vệ Nội hầu. Lấy 3 đội Nội hầu nhị, tam, tứ, đội Tả hầu, đội Hữu hầu, đội Trung hầu nhất, đội Chấn hầu, hai thuyền Toàn bính nhất, nhị, thuyền Quảng bính, sung bổ vào.

Sai Tôn Thất Dịch kiêm quản đội Giám thành.

      Vua thấy trong Kinh thành nhiều người quyền thế quan trọng, mà quản giám thành thì phẩm trật thấp, sợ không kiềm chế được, mới sai Dịch kiêm quản.

      Cai đội Hậu quân là Nguyễn Văn Trạc đi lầm vào Thanh Phong đường, bị người giữ cửa bắt được. Chưởng Hậu quân Lê Chất sợ hãi tạ tội, xin chém Trạc. Vua nói rằng : “Trẫm làm chính trị bằng lượng rộng lớn. Trạc vừa ở ngoài đến, chưa biết tình hình cấm cửa, đánh roi mà tha cho”.

      Sửa lăng liệt thánh.

      Sửa nhà Tả trù và nhà Hữu khố của Thái miếu.

      Định lệ thuộc binh của Thống chế quân Thị trung quân Thị nội và của Thượng thư, Tham tri, Thiêm sự sáu bộ. Sai mộ dân ngoài tịch sung vào (Thống chế 50 người, Thượng thư 20 người, Tham tri 15 người, Thiêm sự 5 người).

      Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Định là Phạm Văn Quỳnh, tuổi già nghỉ việc, cho chi nửa lương công thần Vọng Các.

      Lấy Hữu thống chế quân Thị trung là Trương Phước Đặng lãnh án trấn Bình Định. Sai cấp cho 20 người đội Tài hoa làm thuộc binh, gọi là đội Kiên định. Phước Đặng đến trấn xin mộ đủ quân số một đội. Vua y cho.

      Giảm 5 phần 10 tiền thóc cày mướn ruộng quan điền, quan trại năm nay (thường năm cày mướn ruộng quan điền quan trại lệ không được ân xá, đây là đặc cách).

      Vua thấy từ trước đến nay chương sớ của bốn phương tâu lên, các bộ thần mở phong bì phụ xem trước, có việc gì không hợp thì bỏ không tâu, bèn sắc cho sáu bộ, từ nay chương sớ có cái không hợp cũng đem việc thanh minh, không được tự ý bác đi, để phòng sự che lấp.

      Bắt đầu đúc tiền “Minh Mệnh thông bảo” 6 phần bằng đồng và bằng kẽm, sai lấy mẫu tiền gửi cho cục Bảo tuyền ở Bắc Thành theo đúng phép mà đúc. Định lệ tiền công liệu (Cứ trong 100 cân đồng kẽm thì có 49 cân đồng đỏ, 45 cân kẽm, 6 cân chì, đúc thành tiền đồng 37 quan 8 tiền, cấp tiền công liệu 5 quan 5 tiền 33 đồng 6 phân 2 ly. Mỗi 100 cân kẽm đúc thành tiền kẽm 41 quan, cấp tiền công liệu 3 quan 4 tiền 21 đồng 6 phân 5 ly).

      Cấm người thượng thiện mua rẻ vật ở chợ.

      Vua bảo Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng rằng : “Kinh thành là nơi đô hội, buôn bán đông đúc, gần đây nghe nói người thượng thiện và nhà bếp ở các nha môn, nhiều kẻ lấy thanh thế nạt người mà mua hàng rẻ, người ở chợ lấy làm khổ. Trẫm muốn luật pháp thi hành từ chỗ gần, cho nên ra lệnh cho người thượng thiện đều đeo tín bài để biết (bài khắc hai chữ Thượng thiện), hễ dám làm càn điều phi pháp thì bắt trị không tha”.

      Trấn thủ Tuyên Quang là Lê Văn Thái về đinh ưu, lấy Quản đạo Thanh Bình là Đào Văn Thành làm Trấn thủ Tuyên Quang, Vệ uý Tiền vệ dinh Long võ quân Thị nội là Phan Văn Thuý làm Quản đạo Thanh Bình.

      Thái có tang mẹ, về táng ở Gia Định, khi đến Kinh vào yết kiến, vua nghĩ Thái ở ngoài 19 năm, vẫn có công lao rõ rệt, cho 100 quan tiền.

      Hiệp trấn Hải Dương là Ngô Khản vì ốm miễn chức ; lấy Tham hiệp Hưng Hoá là Nguyễn Kim Bảng làm Hiệp trấn Hải Dương, Tri phủ Kiến Xương là Trần Đình Tiến làm Tham hiệp Hưng Hoá.

      Lấy Tri bạ Nội hàn là Trần Công Tuân làm Hàn lâm viện Thừa chỉ, Cai hợp Hứa Đức Đệ làm Tu soạn, Thủ hợp Lê Bá Tú, Hoàng Quýnh, Nguyễn Văn Thuận làm Biên tu. Quýnh và Thuận kiêm chức Khởi cư chú.

      Hạ lệnh cho các hoàng tử và hoàng đệ vào học ở Hữu Phương đường. Lấy Cần Chính điện học sĩ Ngô Đình Giới, Lê Đại Nghĩa sung chức Giảng quan.

      Vua từng bảo Nguyễn Hữu Thận và Phạm Đăng Hưng rằng : “Cha anh yêu con em, tất phải rèn luyện cho nên người có đức, không thế thì yêu chúng lại là làm hại chúng. Trẫm có 4 người em nhỏ. Muốn đặt sư phó để dạy cùng với các con. Nhưng nghĩ đến người dạy thì chỉ có Ngô Đình Giới và Lê Đại Nghĩa là bậc lão thành túc học, có thể kham chức ấy”. Bèn có mệnh này. Rồi Đình Giới được thăng Hữu tham tri Hình bộ, Đại Nghĩa một mình chuyên việc giảng dạy.

      Vua dụ rằng : “Trẫm từ lúc nhỏ, nhờ sức giúp đỡ sửa chữa của khanh. Nay bọn Quân Cự là em nhỏ của trẫm, đều sinh trưởng ở nơi thâm cung, không dạy thì không thành người có đức được. Khanh nên sớm hôm khéo dẫn bảo, có lỗi thì đánh, chớ để cho thành tính kiêu căng lười biếng”. Nhân cho cái roi dạy.

      Lại thấy Quảng Oai công là Quân có tính kiêu hoang, đặc mệnh Hàn lâm trực giảng là Nguyễn Công Vị riêng sung giảng quan Công phủ, hằng ngày đến dẫn bảo. Vị tâu nói : “Quảng Oai công chuyên chơi đùa mà lười học, sợ một mình thần không thể làm cho nên được”. Vua hỏi rằng : “Không có Nguyễn Khoa Thường là trưởng sử ở đấy à” ? Vị đáp rằng : “Trưởng sử đối với hoàng đệ thấy thì lạy, gọi thì dạ, còn sợ gì mà học”. Vua nói rằng : “Về phận trên dưới thì vậy nhưng còn sự giúp đỡ khuyên bảo thì không thể làm hết chức trách sao ?”.

      Đốc học Quốc tử giám là Nguyễn Đăng Tài vì già ốm về nghỉ. Vua nghĩ đến công hầu giảng trước, cho tiền 50 quan. Rồi Đăng Tài chết. Cho một cây gấm Tống, 20 lạng bạc.

      Chưởng cơ lĩnh Lưu thủ Quảng Trị là Bùi Văn Thái có bệnh xin về Kinh điều dưỡng. Vua y cho.

     

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển iI

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

      Canh thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất [1820], mùa xuân, tháng 3, lấy Tham bồi Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi làm Ký lục đạo Vĩnh Thanh. Khi Nghi bệ từ, vua dụ rằng : “Vĩnh Thanh là đất xung yếu ở cõi Nam, trấn thủ cũ phần nhiều không được người giỏi. Ngươi là người trong họ, vẫn có tiếng khen, nay tới đất ấy, nên hết lòng với nhà vua, để ý phòng giữ nơi biên giới, cần phải tuyên dương ân tín, để cưu mang dân chúng và man di. Ngươi còn tuổi trẻ, khí huyết đương hăng, thực nên lấy đấy làm răn, cùng bạn đồng liêu, bàn tính điều nên điều chăng để cùng giúp việc nước, thì ngươi được tiếng khen xứng chức, mà trẫm cũng không mang tiếng là tư vị người thân”.

      Sai Thượng thư Lại bộ Nguyễn Hữu Thận chọn trong hai ty Tiết thận và Cẩn tín ở điện Thanh Hoà, ai làm được việc thì bổ vào phủ Nội vụ. Dụ rằng : “Giữ việc tuyển bổ, cân nhắc nhân vật, là trách nhiệm của ngươi, phải cẩn thận đấy”. Lại nói rằng : “Bề tôi thờ vua, có việc gì không phải thì nói đừng giấu giếm. Xưa Đế Thuấn răn bề tôi rằng : Ta trái thì ngươi sửa giúp ngươi chớ chỉ có theo trước mặt. Ngươi nên thể theo ý ấy. Có việc gì sai trái thì nói hết đừng tiếc, để giúp những điều trẫm không biết tới. Vả lại trẫm mới nắm cầm muôn việc, làm sao cho mọi việc đều hay cả được. Muốn đặt chức ngự sử giao cho chức trách hiến nộp lời phải, xét hặc việc trái, mà khó tìm người. Ngô Đình Giới là người cương quyết ngay thẳng, bọn ngươi nên cùng bàn bạc chính sự được đấy”.

      Bãi thuế sân chim ở Hà Tiên. Bộ Hộ tâu dâng ngạch thuế sân chim. Vua nói : “Dân là đồng bào ta, vật là cùng sống với ta, người làm vua nên suy lòng nhân với dân kịp đến muôn vật, khiến đều thoả sống. Nay bọn tiểu dân trục lợi lấy việc đánh chim làm làm nghề nghiệp, làm hại nhiều sinh vật, lòng ta không nỡ để như thế. Vậy bãi đi”.

      Thổ phỉ ở Thái Nguyên là Hà Đoan Thiệu nguỵ xưng là Lý nguyên soái

và Lương Hoàng Hải nguỵ xưng là Quốc lão họp đảng đi cướp bóc, đông đến

2.000 người, đánh vây trấn thành. Trấn thủ Phan Văn Hài đóng chặt thành để tự thủ. Thành thần nghe tin báo, lập tức sai Vệ uý vệ Hùng dũng là Đỗ Thiên Thẩm họp đánh. Thẩm đem 300 quân đánh nhau với giặc, bắt chém rất nhiều. Thiệu giải vây chạy.

      Tin thắng trận tâu lên. Vua sai thưởng cho Thẩm và Hài mỗi người một bộ mũ áo đại triều, cho quân lính hơn 600 lạng bạc. Người chết hay bị thương thì hậu cấp cho.

      Rồi Thiệu chạy đến Quỳnh Động (tên xã thuộc huyện Yên Thế, Bắc Ninh). Thẩm cùng Thống quản thập cơ là Ngô Văn Vĩnh đuổi bắt được Thiệu và Lương Hoàng Hải cùng đồ đảng hơn 160 người.

      Vua cho rằng thành thần Lê Văn Phong điều độ được đúng, hạ chiếu nêu khen. Thưởng thêm cho quân lính hơn 300 lạng bạc ; cho Thẩm thăng Chưởng cơ, các tướng hiệu theo thứ tự được thăng thưởng.

Khi thành thần dâng án lên, vua không nỡ giết nhiều, chỉ ra lệnh giết Thiệu và Hải cùng vài người cố phạm, còn các người khác thì rộng tha hết.

Sai hành nhân là Quan Vĩnh Phát sang nước Thanh mua hàng hoá.

Lấy Lê Bá Phẩm làm Thượng thư Hình bộ. Phẩm vì già ốm xin từ. Vua dụ rằng : “Trẫm trẻ tuổi nối ngôi, nghĩ nhờ năm ba người bề tôi cũ giúp đỡ, nay có mệnh mà khanh từ, vậy thì khanh không nghĩ yêu vua à ? Vả lại, trẫm lấy khanh quản lãnh việc bộ là để nắm đại cương thôi, đến như án kiện giấy tờ thì có Tham tri Thiêm sự chia giữ, chứ có phiền khanh đến việc nhỏ đâu”. Phẩm nhỏ nước mắt khóc cố từ, vua vẫn không nghe.

Bộ Lễ bàn nghi thức dâng tôn thuỵ (trước kỳ, vua ăn chay, sai quan kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc, chọn sai đại thần chấp sự. Trước 1 ngày, nhân lễ điện buổi sớm đem việc dâng tôn thuỵ cáo ở bàn thờ. Đến ngày, lúc sáng rõ, hữu ty bưng sách vàng, sách lụa, sách hương, ấn hương, minh tinh để ở trên án trong Tiện điện. Vua mặc đồ trắng đến trước án, đứng quay mặt về phía bắc, cung kính xem xong, hữu ty bưng ra, dâng để ở thái đình cho loan nghi rước đi. Vua lên xe theo. Đến ngoài cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe vào, mặc áo tư thôi làm lễ. Sách vàng dâng để ở bên tả bàn thờ, minh tinh treo ở bên hữu ; sách lụa, sách hương, ấn hương đều đốt đi), xin vua mặc đồ trắng kính duyệt sách vàng ở Tiện điện, rồi đi xe theo đến ngoài cửa điện Hoàng Nhân.

Vua xem tờ tâu, phê rằng : “Trẫm phải mặc áo tư thôi mà duyệt sách và đi bộ theo, lòng trẫm mới yên”. Bầy tôi đều tâu nói : “Chỗ điện đình là nơi chính lệnh ban ra, không nên mặc áo tư thôi ra vào, cho nên Tiên đế để tang Hiếu Khang hoàng hậu cũng mặc áo trắng duyệt sách ở Tiện điện. Xin theo như bộ Lễ đã bàn”.

Vua nói : “Bọn khanh đã cho rằng mặc áo tư thôi duyệt sách chưa tiện, nên để cho trẫm đi bộ theo là phải”. Lại dụ rằng : “Làm vua thì lấy Tôn Miếu Xã Tắc làm trọng, lễ hạn chế nên tình không được tỏ hết ra. Đầu là trẫm muốn đưa tử cung Tiên đế để ở điện Trung Hoà cho được sớm hôm gần sát, sau đưa để ở điện Hoàng Nhân là cũng bởi các khanh hai ba lần lấy di mệnh của Tiên đế mà cố xin mãi, trẫm không theo không được thôi”.

Ngày Bính dần, vua đem bầy tôi bưng sách vàng dâng tôn thuỵ Đại hành hoàng đế ((1) Đại hành hoàng đế : vua mới chết chưa có tôn thuỵ1) là Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Vũ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ.

Sách văn rằng : “Vẫn nghe, bàn soạn để thuật đức hay, nêu rạng để tôn đạo hiếu, cho nên lời luỹ ((2) Luỹ : trình bày đức hạnh người chết bằng lời văn. Kinh Lễ nói : người hèn không được trình bày đức nết người sang, kẻ nhỏ không được trình bày đức nết người lớn.2) đã rõ ở Kinh Lễ ; mà lời tụng((3) Tụng : văn xưng tụng công đức, Kinh Thi có Thương tụng để xưng tụng công đức nhà Thương, Chu tụng để xưng tụng công đức vua nhà Chu3) bày ra ở Kinh Thi. Duy đức tốt tỏ lên đến trời, nêu danh to cao trùm nghìn thuở.

Kính nghĩ, đức “Đại hành hoàng đế bệ hạ, đức vừa cứng sáng, tài kiêm võ văn. Gặp vận nước nhiều việc khó khăn ; chỉnh kiền cương((4) Kiền cương : quyền của vua4) lúc đã rối loạn. Chân trời góc biển, đi chỗ hiểm như đất bằng ; hang hổ đầm rồng, ở chỗ nguy thành ra phước. Dầm mưa chải gió, thân đánh trăm trận. Giết thù nước để yên nạn lớn ; vững nghiệp cũ mà mở thái bình. Đức hiếu sinh khắp ở lòng dân ; oai thần vũ vang nơi tục khác. Công to đức thịnh, hơn các đế vương ; sáng nghiệp trung hưng, cao hơn Hạ Hán. Luân thường tốt đẹp, trên cả xưa nay ; đạo đức sáng tươi cảm đến trời đất. Tốt thay ! ba chục năm ngựa sắt gươm vàng ; mười tám năm dựng giường bày mối. Như trời mở đất đóng, vực lặng sấm vang. Biến hoá mầu nhiệm như thần ; chuyển vần như trời không nghỉ. Đức hoá đương thi hành trong nước ; linh hồn đã vội trở lại quê. Thềm Đế Nghiêu rụng hoa, canh tường ((5) Canh, tường : khi Đế Nghiêu chết đi, Đế Thuấn nhớ Đế Nghiêu quá, rồi lúc ăn thì như thấy Đế Nghiêu ở bát canh, lúc đứng như thấy Đế Nghiêu ở bức tường.5) như thấy ; rồng Hiên Viên bay ngất, cung kiếm khó vin. Tôi đòi cảm nhớ chốn miếu đường ; dân chúng đau thương nơi rừng núi. Ơn trời cao vòi vọi, sao chút đích báo đền ; đức vua khó hình dung, mong phô bày muôn vật. Kính cẩn đem bầy tôi, xin mệnh ở trời đất tôn miếu, kính dâng sách vàng, tiến tôn thuỵ là Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế, miếu hiệu là Thế tổ. Kính mong thông minh như trước, lên xuống ở đây ; nhận hiệu tốt này, ban phước lành mãi. ở trên soi xuống, cùng mặt trời mặt trăng sáng tỏ từng không ; như trời sáng cao, đặt núi to sông lớn vững bền muôn thuở”.

Lễ xong, bá cáo cho trong ngoài đều biết.

Chiếu rằng : “Nêu tên rạng rỡ để tôn đạo hiếu ; trau dồi cuối cùng để trọn luân thường. Cho nên có đức lớn tất được danh hay, mà tôn sùng gọi là điển lớn. Nay Đại hành hoàng đế vội bỏ nước nhà. Xét trong điển lễ, nên dâng hiệu hay. Tháng này, trước đã sai các quan kính cáo Trời Đất và Tôn Miếu Xã Tắc. Ngày mồng 10 thân đem bầy tôi dâng sách cung tiến tôn thuỵ và miếu hiệu. Xin ngài nhận lấy tên hay, mãi ban nhiều phước. Ôi ! bàn soạn báo đền không hết, đã thể một lòng hiếu của thánh nhân mở rộng ra ; nghi ngút để mãi không cùng, mong đến hàng ức năm nơi tông xã giữ hưởng mãi”.

Trước kia Thế tổ Cao hoàng đế se mình, bọn Cai bạ hầu thuốc Trần Văn Đại và y chánh Nguyễn Tiến Hậu, y phó Đoàn Quang Hoảng đều phải tội giam ở ngục, đến bấy giờ các đại thần hết sức xin, được tha cho về làng. Sau vua thường bảo thị thần rằng : “Nghề làm thuốc khó tinh. Khi Tiên đế ốm, bọn Văn Đại hầu thuốc thang, hỏi thì lúc nào cũng nói là tất khỏi, sau cùng không có hiệu nghiệm gì, khiến trẫm đến nay còn giận”.

Lưu thủ Quảng Ngãi hưu trí là Nguyễn Văn Toản vào chầu. Cho 5 tấm lụa,

20 lạng bạc. Tham tri Hộ bộ hưu trí là Trần Hữu Thiện, Chánh thống đồn Hậu quân hưu trí là Lê Văn Ký đều được cho 50 quan tiền.

Cho Trần Công Lại mỗi tháng 10 quan tiền, 10 phương gạo, Lại trước là Đô thống chế lãnh Trấn thủ Thanh Hoa, phải tội giam ở ngục, đến nay được tha về, vào hầu. Vua nghĩ Lại đã tuổi già, vả có công lao trước, nên đặc cách hậu cấp cho.

Cho năm con của Chưởng cơ Hồ Văn Bôi là công thần Vọng Các hằng tháng được cấp tiền gạo (con trai tiền 3 quan gạo 3 phương, con gái tiền 2 quan gạo 2 phương).

Định hạn cho kẻ cướp trốn ra thú. Đình thần tâu nói : “Trước đã có ân chiếu chuẩn cho ra thú, mà những kẻ phạm trốn còn nhiều kẻ trù trờ quanh co để ngóng xem, chưa ra thú hết. Xin lấy cuối tháng 6 năm nay làm hạn, trộm cướp không kể nặng nhẹ, ai hay đúng hạn đầu thú thì tha. Nếu quá hạn, xin theo luật mà phân biệt cho thú hay không cho thú, để cho người ta biết điều đáng sợ”. Vua nghe theo.

Định lệ lễ đền Thai Dương phu nhân((1) Thai Dương phu nhân : đền ở xã Thai Dương, huyện Hương Trà, tương truyền có một người đánh cá ở cửa biển, một hôm mưa gió, đến nửa đêm tạnh, thấy ở bờ biển có một hòn đá lạ, sờ mó xem, chợt ngủ đi, mộng thấy một người đàn bà đẹp nói : “Ta là Thai Dương phu nhân, ngươi không được khinh nhờn, phải lui đi ngay”. Người đánh cá thức dậy, biết là đá thần, khấn rằng : “Nếu là thần thì phù hộ cho tôi đánh được nhiều cá”. Quả nhiên đánh được nhiều, mới lập đền tranh để thờ. Sau nhà nước đảo vũ linh nghiệm, đời Gia Long lập đền ngói, cho quốc tế. Đến đầu thời Minh Mệnh sửa lại đền. Lại thờ chung ở miếu Hội đồng. 1). Phu nhân trước thờ chung ở miếu Hội đồng. Vua thấy có nhiều linh ứng, sai dinh thần Quảng Đức lập đền riêng để thờ ở xã Thai Dương, hằng năm mùa xuân mùa thu đến tế.

Triệu Vệ uý vệ Nghiêm uy Tả dinh quân Thần sách lĩnh Trấn thủ Kinh Bắc là Lê Viết Quý về Kinh, lấy Trấn thủ Hưng Hoá là Đoàn Đức Luận làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Kinh Bắc, Khâm sai chưởng cơ phó thống thập cơ Uy thắng thuộc Hậu quân là Hồ Văn Uẩn lĩnh Trấn thủ Hưng Hoá.

Lấy Vệ uý vệ Tiền nhất quân Thị trung là Nguyễn Văn Tính tạm coi ấn vụ Hữu thống chế quân Thị trung, Vệ uý vệ Hữu nhị là Hoàng Văn Tại làm Vệ uý vệ Tiền nhất, Phó vệ uý là Lê Văn Hiếu làm Vệ uý vệ Hữu nhị, Phó vệ uý vệ Ban trực tả Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Quyền làm Vệ uý vệ Tiền nhị, Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội là Nguyễn Văn Trọng làm Vệ uý vệ Tả nhị, Kiêu kỵ đô uý Tôn Thất Trinh làm Vệ uý vệ Hậu nhất, Vệ uý vệ Toàn võ Trung dinh quân Thần sách là Đoàn Văn Trường làm Vệ uý vệ Hậu nhị, Cai đội Trần Văn Lộc làm Phó vệ uý vệ Tiền nhị, Phan Văn Tạo làm Phó vệ uý vệ Hậu nhất, Nguyễn Văn Lễ làm Phó vệ uý vệ Võ oai Trung dinh quân Thần sách, Cai cơ Hoàng Văn Tín làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả Tả dinh.

Người Man ở các động Thâm Nguyên, Yến Sơn và Mộng Sơn thuộc trấn Nghệ An đến cống.

Lấy Thiêm sự Lễ bộ Phan Huy Thực làm Tham hiệp Lạng Sơn.

Ngày Quý dậu, vua yết lăng liệt thánh, cho các quân đi theo 3.000 quan tiền. Vua yêu nuôi quân lính, mỗi lần xa giá đi ra là thưởng cho quân lính đi theo, từ đấy về sau lấy làm lệ thường.

Cho lính đội Thủ lăng 40 lạng bạc.

Hoãn công việc đào sông Vĩnh Tế.

Vua mới lên ngôi, thấy việc đào sông từ mùa đông năm ngoái đến nay, người nước Chân Lạp đều phục dịch nhọc mệt khổ sở, xuống dụ cho thành thần Gia Định thường để ý hỏi han luôn, người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền vải. ốc Nha và Bồn Nha theo làm việc ở nơi công trường hơn 100 người đều thưởng cho gươm đeo, súng tay và áo mặc.

Lại dụ vua phiên là Chăn và các quan phiên rằng : “Tiên đế lấy việc đào sông làm lợi muôn đời cho các ngươi, vua tôi nhà ngươi nên cùng lòng hợp sức, sửa sang công việc, trước để xứng ý Tiên đế yên vỗ nước ngươi. Chớ tưởng rằng Triều đình muôn dặm, xét soi không tới. Cũng không thể đổ cho là phận sự của Đồng Phù (tên người quan phiên) mà lòng nghĩ sai đi, sức làm lười biếng. Sau khi thành sông rồi, sẽ có trọng thưởng. Phải cố gắng đi”. Đến nay công việc chưa xong, (đã thành sông được 3.224 trượng, chưa thành sông 9.992 trượng), vua không nỡ để cho nhọc sức dân mãi, nên hoãn lại. Những chỗ chưa kịp đào thì ra lệnh cho tạm mở lạch nhỏ, có thể cho thuyền nhỏ đi lại thông được mà thôi. Thưởng cho quan lại coi việc súng tay, áo quần và bạc theo thứ bậc khác nhau.

Từ Nghệ An ra Bắc đã lâu không mưa, sai trung sứ chia nhau đi các địa phương xem xét việc làm ruộng. Nhân dụ cho quan sở tại trai giới để cầu đảo.

Lấy Trấn thủ Bình Thuận là Trương Văn Chính làm Lưu thủ Quảng Đức.

Bọn con cháu nhà Lê là Lê Duy Tự, Lê Duy Cảo, con cháu chúa Trịnh là Trịnh Hiệu, Trịnh Cương đến Kinh chầu bái. Sai hữu ty hằng tháng cấp cho tiền gạo. Bọn Duy Tự xin dâng 70 lạng bạc làm lễ mừng, vua dụ sai trả lại.

Cai cơ Trần Hữu Khách quản thuyền hiệu Bạch Yến đi chở vật công ở Quảng Nam bị mắc cạn ở cửa biển Thuận An. Khách bị giáng làm Chánh đội trưởng. Nhân chuẩn y lời bộ Lại bàn định : Phàm thuyền vận tải ra vào cửa biển, những chỗ nông sâu đều do thủ ngự cắm tiêu chỉ bảo. Nếu lấy chỗ nông làm chỗ sâu, nhân thế mà sai hỏng thì bắt tội người thủ ngự. Nếu theo ý riêng mình mà đi bừa thì bắt tội người quản vận. Đều xét bởi tại đâu, và theo nhẹ nặng mà trị tội.

Triệu đại sứ cục Bảo tuyền ở Bắc Thành là Trương Văn Minh về Kinh, lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Chính Đức làm Biện lý cục Bảo tuyền.

Có người dâng đồng tiền cổ, mặt khắc tám chữ Quốc thái dân an phong điều vũ thuận((1) Nước thịnh dân yên, gió đều mưa thuận.1). Vua đưa cho bầy tôi xem và hỏi đúc vào đời nào năm nào, đều không biết cả. Vua nói : “Đồng tiền ấy tuy năm và đời không thể khảo được, chữ đó cũng là lời xưng tụng cầu đảo thôi, song trị thiên hạ mà được thực như tám chữ ấy thì cũng đủ đấy”.

Bọn Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái, Chưởng cơ chánh trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn, Chưởng cơ thượng đạo An Tây là Nguyễn Văn Tứ vào yết kiến. Vua cho tiền, gạo, áo mặc, gươm đeo, súng tay. Vua từng hỏi Nguyễn Văn Tứ về việc An Tây. Tứ tâu nói : “Người Man núi cướp bóc, không giết thì không răn trị được”. Vua hỏi về mưu chước. Đáp rằng : “Người Man bắn cung nỏ giỏi. Xin được 100 cái áo bông thì có thể đánh phá được”. Vua bảo rằng : “Đó chỉ là người Man nhỏ ngu xuẩn, nên cẩn thận, chớ có dùng nhảm oai thế mà gây hấn là được”. Rồi cho con Tứ là Nguyễn Văn Chẩn làm Cai đội. Lại trích 50 người lính khoẻ thuộc trấn quê ở An Tây cho theo Tứ để phòng giữ bảo nguồn Kiều Bông.

Sai Bắc Thành, Thanh Bình, Thanh Hoa, Nghệ An may áo quần thường để cấp cho thú binh các vệ. Nghệ An xin cấp cho tiền công để thú binh tự may lấy. Vua y cho.

Cấm các vệ đội Thị trung và Thị nội không được lấy binh khí và nhung phục của công để dùng riêng và cho người khác mượn.

Sai Hữu tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân ở lại làm việc Binh tào ở Gia Định.

Lấy Tri bạ thành Gia Định là Lê Đăng Doanh làm Tham hiệp Hà Tiên. Thành thần dâng sớ nói : “Hiệp trấn Hà Tiên là Phạm Nhữ Đằng vì có bệnh cáo về, Trấn thủ là Mạc Công Du không hiểu việc văn, xin lấy Đăng Doanh tạm làm Tham hiệp”. Vua nhân thế bổ Doanh.

Lấy Tri phủ Anh Đô là Nguyễn Hữu Thị làm Tham hiệp Yên Quảng.

Dựng đền thờ trưởng công chúa Ngọc Bích.

Chúa là con bà mỹ nhân họ Trần ở triều trước, mất sớm, không con, vua thương, sai dinh Quảng Đức đặt ruộng thờ mua đồ thờ, dựng đền ở nhà cũ của Trần mỹ nhân để thờ cúng.

Bộ Lễ bàn dâng nghi chú lễ Ninh lăng và các lễ tiết. (Tháng 4 ngày Tân mão, sai quan kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc và điện Minh Thành, rồi khai huyệt. Ngày Giáp ngọ, cáo ngày an táng. Ngày ất mùi, cáo các tôn lăng đi qua. Ngày Bính thân, rước thánh vị Cao hoàng hậu để ở gian bên hữu điện Minh Thành. Ngày Đinh dậu, tế khải điện và tế tổ điện. Ngày Mậu tuất, tế khiển điện. Long giá((1) Long giá : kiệu rồng rước quan tài tiên đế.1) ra ngoài hoàng thành, vua đi bộ theo. Trên kỳ đài treo cờ trắng, phóng chín tiếng ống lệnh. Long giá đến điện lợp tranh ở bến sông Hương, lên thuyền rồng. Tế điện buổi sáng, thượng thực, và điện buổi chiều, như nghi thức thường. Những chỗ đi qua, thì hương thân kỳ lão đều đặt hương án ở bờ sông để chiêm bái. Ngày Canh tý thuyền đến bến lăng Thiên Thụ. Ngày Tân sửu rước thánh vị để ở điện Minh Thành ; rước long giá để ở chính giữa điện tranh trước Hoàng đường. Giờ dậu rước tử cung((2) Tử cung : quan tài của nhà vua.2) đặt vào huyệt. Vua im khóc, đi thăm nom. Các hoàng đệ, hoàng tử, hoàng điệt, đại thần xoay tử cung để ngay ngắn theo hướng mộ, đặt áo tử cung, trải minh tinh. Vua đem bầy tôi tiến lụa dâng. Quan chấp sự bưng hòm sách hương, hòm sách lụa, hòm ấn hương, sách biên đồ minh khí((3) Minh khí : đồ mã chôn theo ở trong mộ hay đốt đi.3). Hữu ty khiêng linh dư, đồ minh khí và đồ lỗ bộ nghi trượng, cờ đạo trắng, phủ phất, các quạt và các vật thường dùng đến núi bên tả lăng mà đốt đi, rồi bỏ vào trong hố mà chôn. Sơn lăng sứ ở lại chỗ lăng coi việc xây lăng cho đến lúc xong. Ngày Nhâm dần, đề thần chủ ở điện Minh Thành, làm lễ sơ ngu. Vua thân hành bưng thần chủ lên xe, theo đường thuyền đến bến Kinh thành, lại bưng lên xe, vua theo ở trong xe, thân hành bưng đến cửa Tả Đoan. Trên kỳ đài treo cờ vàng, phóng chín tiếng ống lệnh. Đến cửa điện Hoàng Nhân, xuống xe, bưng thần chủ để ở chính giữa điện, làm lễ an vị. Ngày hôm sau, đem việc lễ Ninh lăng xong, kính ở cáo Giao Miếu Xã Tắc, và bố cáo cho trong ngoài biết. Ngày Kỷ dậu tế ngu lần thứ hai ; ngày Canh tuất, tế ngu lần thứ ba ; ngày Quý sửu tế ngu lần thứ tư ; tháng 5 ngày Bính thìn, tế ngu lần thứ năm ; ngày Kỷ mùi, tế ngu lần thứ sáu ; ngày Nhâm tuất, tế ngu lần thứ bảy ; ngày ất sửu, tế ngu lần thứ tám ; ngày Mậu thìn, tế ngu lần thứ chín ; ngày Giáp tuất lễ tốt khốc. Từ tế tổ điện đến tế đàm, những cung tần triều trước và cung tần tại nội, thái trưởng công chúa, các tước công, hoàng đệ, hoàng tử, hoàng nữ, phủ Tôn nhân, quan viên văn võ ở Kinh và ở ngoài, người quý hương, công tính, thích lý, và con cháu họ Lê, họ Trịnh, đều phụ tiến lễ phẩm).

Vua xem tờ tâu, bảo Nguyễn Văn Nhân, Lê Chất, Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Lễ tang lễ táng là việc lớn, nhiều nghi tiết lắm, ta đương lúc đau thương trong lòng rối loạn, các khanh nên xét kỹ, chớ để sai lễ”.

Mùa hạ, tháng 4, sai các quan đem ngày Ninh lăng kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. Lại sắc cho các nơi trong ngoài, từ trước tế khải điện 2 ngày, đến lễ tốt khốc, cấm mặc sắc đỏ tía và ca nhạc ; từ khải điện đến tế sơ ngu, cấm chợ phố làm thịt.

Lấy Lê Văn Duyệt làm Tổng hộ sứ, Lê Chất làm phó, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên làm Phù liễn sứ, Tôn Thất Bính, Tôn Thất Dịch làm phó, Tống Phước Lương làm Sơn lăng sứ, Nguyễn Xuân Thục làm phó, Trương Tiến Bửu, Nguyễn Văn Vân, Nguyễn Văn Trí, Mai Văn Thành, chia đốc các quân tả hữu, Trương Phước Đặng thủ hộ hoàng thành, Trần Văn Năng thủ hộ kinh thành. Hoàng thân, hoàng tử, các văn võ từ ngũ phẩm trở lên và các quân có việc ở hoàng đường đều cấp cho thẻ bài để đeo. (Hoàng thân thì thẻ rồng vàng, hoàng tử thì bài vàng, võ ban nhất phẩm thì thẻ rồng bạc, mặc áo chiến, từ nhị phẩm đến ngũ phẩm văn võ đều bài ngà ; quân đều đeo bài thắt lưng).

Sai Lê Văn Duyệt và Lê Chất đem phép đi đứng đường thuỷ đường bộ huấn luyện cho các quân.

Ngày Đinh dậu, tế điện cáo ở điện Hoàng Nhân. Ngày Tân sửu, an táng ở lăng Thiên Thụ. Trước ba ngày Mậu tuất, linh giá tiến phát, vua đi bộ theo đến điện tranh ở bến sông Hương, rước linh giá lên thuyền. Ngày hôm ấy linh giá đến điện tranh ở trước hoàng đường. Giờ dậu, an táng vào huyệt. Ngày Nhâm dần, đề thần chủ ở điện Minh Thành, rồi rước về yên vị ở điện Hoàng Nhân, Ngày hôm sau đem việc làm lễ xong kính cáo ở Giao Miếu Xã Tắc. Bố cáo cho trong ngoài. Thưởng cho các quân thuỷ bộ đi theo 14.000 quan tiền, cho biền binh thủ hộ 1.400 quan.

Trước là vua thấy sức chung ((1) Sức chung : tô điểm lúc cuối cùng.1) là việc lớn, ra lệnh cho lễ quan cứu xét lễ tang tế, thứ đệ rõ ràng, lớn nhỏ đều nêu hết. Đến như tang nghi và minh khí thì đều có hữu ty trông coi. Phàm lâu đài đền miếu, kho tàng thuyền xe, tất cả các vật ngự dụng, không cái gì là không tươm tất đầy đủ. Kể từ lúc khởi công là tháng giêng đến tháng này xong, phí tổn có bao nhiêu vạn, nghi tiết lễ vật đầy đủ, từ trước đến giờ chưa nghe như thế bao giờ.

Sai bộ Lễ bàn về tế điện ở bàn thờ.

Bộ thần tâu nói : “Xét ngũ lễ thì sau khi đã tế ngu vẫn sớm hôm khóc chứ không tế điện”. Chú rằng : “Ngày ấy lấy tế ngu đổi cho tế điện”. Sách Gia lễ của Chu Văn công nói : “Sau khi tế sơ ngu thì thôi tế điện buổi sớm buổi chiều”. Nghi thức phát dẫn đời Minh Vĩnh Lạc thì sau lễ tốt khốc, thôi tế điện buổi sáng buổi chiều. Theo Minh điển thì ở điện Phụng Tiên cũng chỉ sáng chiều đốt hương, ngày mồng một và ngày rằm chiêm bái, cứ tuần tiết dâng vật mới, chỉ ngày sinh ngày kỵ là tế thôi. Duy theo miếu chế của nhà Hán thì trong vườn có nhà tẩm, ngày tế thì một ngày bốn lần dâng đồ ăn ở nhà tẩm. Năm Gia Tĩnh triều Minh ở miếu Duệ tông mọc ra cỏ chi, đổi tên là cung Ngọc chi, mỗi ngày đều dâng đồ ăn. Xưa kia lễ đại tang của Hiếu Khang hoàng hậu, và Cao hoàng hậu, Thế tổ ta đều thôi tế điện buổi sớm buổi chiều ở sau khi tế sơ ngu. Nay Hoàng thượng ta hiếu tâm rất mực, tình dẫu không cùng, nhưng lễ quý có tiết, vậy xin theo phép cũ, sau khi đã tế ngu thì chỉ ngày sóc ngày vọng là tế điện lớn, sau tế đàm thì thôi.

Vua theo lời bàn, dụ rằng từ tế sơ ngu đến lễ tốt khốc, điện Hoàng Nhân và điện Minh Thành mỗi ngày ba lần dâng đồ ăn.

Diên Khánh công là Tấn từng nhân việc thiện tiện lấy roi đánh Cai đội Thị trung là Lê Văn Hương. Tôn Thất Dịch đem việc tâu lên.

Vua đương ngự ở Tiện điện, các tước công đều ở đấy. Vua quay lại nhìn Diên Khánh công, nhỏ nước mắt khóc, trách rằng : “Hương kia cũng là phẩm quan của triều đình, có tội nên tâu lên, sao lại tự lấy roi đánh người ta ? Vả lại phép của Tiên đế lập ra là của chung của thiên hạ, chứ có phải riêng của anh em ta đâu ! Em không thấy Tiên đế thiết trách Định Viễn công Bính à ? Bấy giờ Định Viễn công có lỗi nhỏ, mà anh vì Bính hai ba lần xin tha, Tiên đế vẫn không tha. Như thế là vì nghĩ rằng các hoàng thân sinh trưởng ở chỗ giàu sang, cậy mình được yêu thương đặc biệt, nên coi nhẹ mà phạm hiến chương, cho nên không thể không nghiêm ngặt để răn người sau. Nay anh lấy lòng Tiên đế làm lòng mình mà yêu em, em cũng nên lấy lòng anh làm lòng mình mà yêu anh, cùng nhau cẩn thận giữ phép sẵn, để giữ tiếng lành mãi không cùng. Chớ nên lại làm thế nữa”.

Diên Khánh công cúi đầu tạ lỗi.

Vua vời các văn võ đại thần dụ rằng : “Việc Diên Khánh công đã làm có trái với phép, các khanh hãy vì trẫm tha thứ cho, từ nay về sau có kẻ nào bắt chước lỗi ấy thì không rộng tha nữa”.

Dựng đình “Trần tĩnh ba thanh” ((1) Nghĩa là bụi sạch nước trong.1).

Lấy Cai cơ quản vệ Kỳ võ là Nguyễn Hữu Hựu làm Vệ uý Hữu vệ dinh Long võ quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Toàn võ quân Thần sách là Ngô Khánh Thái làm Vệ uý, Cai đội Lê Văn Quảng làm Phó vệ uý, Hoàng Văn Tâm làm Phó vệ uý vệ Quảng võ, Nguyễn Lộc làm Phó vệ uý vệ Tráng võ.

Sai trấn Bình Định chiếu lệ tiền thóc về tự dân tự điền của Lễ bộ Ngô Tòng Chu cho lấy tiền thóc trong kho trấn cấp cho như số để dùng vào việc thờ cúng (năm này ân xá, tự dân tự điền đều ở lệ tha miễn, nên cấp riêng cho).

Sơn Nam thượng và Kinh Bắc thiếu ăn. Phó tổng trấn Bắc Thành là Lê Văn Phong và Tham tri Hộ tào Nguyễn Tường Vân tuỳ tiện phát thóc kho cho dân nghèo vay.Việc đến tai vua. Vua dụ quở rằng : "Ta từ khi nối ngôi đến giờ, ăn muộn dậy sớm, cầu chữa được bệnh khổ của dân, những tiền thóc tha miễn có đến mấy trăm vạn ; khi dân Kinh kỳ, Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình thiếu ăn lại giảm giá thóc phát cho vay cũng gần mười vạn, để cứu giúp dân ; phàm những việc yêu nuôi dân chúng, trẫm đều không tiếc gì cả. Nay nếu dân hạt ngươi có thiếu ăn thì cũng không phải là khẩn lắm, nên làm sớ chạy tâu ngay, chỉ trong khoảng tuần nhật là có chỉ xuống thi hành cũng không phải chậm, há nên tự chuyên làm như thế ru ?”. Rồi vẫn hạ lệnh cho hai trấn đều lấy 30.000 hộc thóc cho vay.

Sứ bộ sang Thanh là bọn Cần Chính điện học sĩ Nguyễn Xuân Tình, Đông các học sĩ Đinh Phiên, Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hữu Bình trở về, đem dâng hai con cừu (một con đực một con cái, lông nhỏ mềm, sạch trắng như bông, đuôi to mà ngắn, con đực thì hai sừng cuốn vòng lại đối với nhau, gọi là dương dốc tức là đấy), sai đem nuôi ở Thanh Phong đường.

Tiết Thánh đản ((1) Ngày sinh nhật của vua.1)(ngày 23 tháng này). Trước một ngày vua mặc lễ phục (mũ Xuân thu, không trang sức, áo tràng vạt đen, xiêm màu lam), kính cáo ở điện Hoàng Nhân. Rồi đổi mặc thường phục đến cung Hoàng mẫu làm lễ người nhà. Đến ngày, Hữu ty đặt đại triều nghi ở điện Thái Hoà, hoàng thân và các quan đều mặc triều phục xin làm lễ mừng. Sắc miễn cho.

Lấy Tri phủ Lỵ Nhân là Nguyễn Hựu Vinh làm Thiêm sự Công bộ quản lý việc nội tạo, sinh đồ ở Bắc Thành là Nguyễn Danh Giáp làm Hàn lâm viện Kiểm thảo kiêm biện việc nội tạo. Hai người này có xảo tứ nên đặc cách dùng.

Sai Phó vệ uý Trung vệ dinh Hổ oai là Nguyễn Xuân đem lính vệ đi thú ở Bình Định.

Sai Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong là Lê Phước Hậu, Vệ uý Trung vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành, đều lấy chức mình mà biện lý việc dinh.

Ngày Canh tuất, yết lăng Thiên Thụ.

Vua đến chơi phủ Kiến An công, Thiệu Hoá công, Định Viễn công và Diên Khánh công. Vua rất yêu quý anh em, tự khi lên ngôi trở đi, cứ 5 ngày một lần sai người đến các phủ hỏi thăm, khi rỗi việc triều chính thỉnh thoảng đến chơi.

Sai Tôn Thất Dịch truyền dụ cho các hoàng thân, hoàng tử đều chọn một người thuần cẩn, tâu xin cho quan chức để quản suất các thuộc hạ trong phủ.

Vua nghe nói đầy tớ nhà Thái trưởng công chúa Ngọc Du cậy thế lấn người, mà chúa không cấm, mới vời con bà ấy là Khinh xa đô uý Võ Khánh đến trách rằng : “Nước có điển hình, sao mày không khuyên mẹ mày đi”. Khánh thưa rằng : “Không thể khuyên can được”. Vua bảo rằng : “Làm con thờ cha mẹ phải nên lấy lời nói dịu dàng can ngăn ở lúc việc chớm phát, để cha mẹ đừng mắc vào điều phi nghĩa, không thế thì trách nhiệm ở mày”.

Dựng cục đúc tiền ở Vũ Khố. Vua nhiều lần đến xem. Sai hằng tháng cấp cho thợ mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương.

Sai đình thần liệt kê các quan dinh trấn chưa vào chầu để lần lượt gọi về Kinh hỏi han cho rõ tình kẻ dưới. Rồi từ nay về sau, các quan dinh trấn vào chầu thì cho được cùng đình thần hội bàn, để xem uẩn súc của họ thế nào, và để tỏ ý trong ngoài nhất thể.

 

Lấy Hữu Tham tri Binh bộ là Nguyễn Xuân Thục lĩnh Công tào Hộ tào Gia Định, Cai án Nghệ An là Trần Hữu Châu làm Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào Công tào, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Quang Đức biện lý Hộ tào kiêm biện Binh tào. Khi Thục sắp đi, vua vời vào dụ rằng : “Công việc ở Gia Định không ít, khanh đến thành phải nên siêng năng cẩn thận để giúp việc nước”. Thục nhân nói từ trước đến nay các thành các trấn làm sổ binh phần nhiều chậm trễ. Vua bèn sai đình thần truyền dụ các địa phương từ nay về sau làm sổ binh ngạch kỳ tháng 4 thì hạn trong tháng 4 làm xong sổ để bộ Binh tâu xin chuẩn theo, rồi tức thì chép sao lại, nếu để chậm thì có tội”.

Lấy Hữu tham tri Hình bộ là Trần Minh Nghĩa làm Hữu Tham tri Binh bộ.

Làm xe ngọc kính((1) Xe lồng kính.1). Sai Vũ Khố làm theo cách thức của Tây dương ; thưởng cho thợ 100 quan tiền.

Sai bộ Hộ hằng tháng cấp tiền gạo cho các thợ bách công. Ai làm đồ dùng tinh xảo thì hậu thưởng.

Chuẩn cho các đạo Côn Lôn và Long Xuyên thành Gia Định, thay nộp thuế yến sào bằng tiền. (1 cân yến sào nộp tiền 50 quan).

Triệu Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào Bắc Thành là Nguyễn Tường Vân về Kinh, lấy Tả Tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên thay.

Sai biền binh các quân Thị trung Thị nội đóng 30 chiếc thuyền lê, cấp cho tiền làm xưởng thuyền (xưởng lớn 15 quan, xưởng trung 10 quan).

Ngày ất mão, bàn dâng thêm tôn thụy Cao hoàng hậu. Sai Hữu ty đúc sách vàng (5 tờ, mỗi tờ dài 6 tấc 3 phân 4 ly, ngang 3 tấc 5 phân 1 ly).

Triệu Hiệp trấn Cao Bằng là Lê Đình Khuê về Kinh để dùng.

     

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển iII

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Canh thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất [1820], mùa hạ tháng 5, sai quan lễ tạ thần biển và đền Thai Dương phu nhân, vì cớ việc vận tải đường biển được yên ổn.

Nhà quân Tiền phong cháy. Vua thân đem các quân Thị vệ đến dập tắt. Nhân dụ Tôn Thất Dịch và Võ Viết Bảo rằng : “Từ nay về sau phàm gặp cháy thì người trực ở tả vu tức thì đánh thanh la thổi tù và làm hiệu, đóng các cửa thành lại, quân thị vệ đều chỉnh bộ ngũ để đợi mệnh lệnh ở hai bên tả hữu điện Thái Hoà. Khi lửa tắt đánh chiêng thì thôi”.

Chuẩn định từ nay trở đi các quan không có lệnh triệu vào chầu hầu thì không được tự ý vào Tiện điện. Chánh phó vệ uý vào cửa Tả Túc trở vào thì chính mình đeo lấy gươm, không được giao cho người đi theo.

Ngày Kỷ mùi, đúc ấn vàng của Thế tổ Cao hoàng đế (vuông 2 tấc 7 phân, dày 3 phân 2 ly, núm rồng ngồi, khắc 6 chữ triện “Thế tổ Cao hoàng đế bảo” và ấn vàng của Cao hoàng hậu (vuông 2 tấc 3 phân, dày 2 phân 7 ly, núm rồng ngồi, khắc 4 chữ triện “Cao hoàng hậu bảo”). Sai Chưởng dinh Trương Tiến Bửu trông coi công việc.

Tiết Đoan dương, miễn lễ chầu mừng cho các quan.

Cho những cung nhân triều trước, người nào không có con thì về với người thân. Đầu là vua sai làm dãy nhà dài ở sau điện Hoàng Nhân cho cung nhân ở để đợi hết tang. Lê Văn Duyệt xin theo di mệnh của Tiên đế, ai muốn về thì cho về. Vua cho lời ấy là phải, ra lệnh cấp cho mỗi người 2 năm lương.

Triệu các Hương cống khoa Kỷ mão về Kinh, phái làm hành tẩu ở sáu bộ để học tập chính sự, cấp lương tháng cho mỗi người tiền 2 quan gạo 2 phương. Rồi sai Nguyễn Hữu Thận chọn lấy vài người học hạnh thuần cẩn sung làm trực học cho các hoàng tử. Thận cử Trương Đăng Quế, Doãn Văn Xuân và Ngô Hữu Vĩ. Vua y cho.

Vua nhân hỏi Thận rằng : “Nay đương cần cấp chuộng văn, để ý bồi dưỡng, mà nhân tài còn chưa được nhiều, ý giả sự cất nhắc người giỏi ở chốn quê mùa chưa được như đời cổ chăng”. Thận đáp rằng : “Phần nhiều người dạy chưa được người giỏi, nên ít người thành tựu”.

Vua nói : “Phải, đó là điều trẫm rất giận. Gần đây như Cao Huy Diệu làm Đốc học Gia Định, không tuyên dương được phép dạy để mài giũa thói tập của học trò mà lại cùng học trò đánh bạc chơi bời, sư phạm mà như thế thì mong thành tựu được nhiều người chẳng cũng khó lắm sao !”

Lấy Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt lãnh Tổng trấn thành Gia Định. Phàm truất thăng quan lại, hưng lợi trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tuỳ nghi mà làm.

Duyệt bệ từ. Vua cho rằng ký thác công việc ở biên khổn khó tìm được người, hai ba lần vỗ về yên ủi. Sai vệ Tả bảo nhất, vệ Tả bảo nhị, vệ Minh nghĩa và 2.000 người biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ ứng triệu về Kinh đi theo. Lại sai cựu Lưu thủ Nguyễn Cửu An theo đi Gia Định để quản suất năm đội Bính ở thành cùng các đội Bính ở các trấn. (Biền binh Bắc Thành, Thanh, Nghệ còn ở Kinh 1.500 người, đến tháng 6 cho về ngũ).

Lấy Vệ uý vệ Tín trực là Nguyễn Văn ứng làm Vệ uý vệ Trung bảo nhị, Cai cơ Trần Văn Hiệu làm Phó vệ uý vệ Tín trực, Phó vệ uý quản các đội Hữu sai thuộc Hữu quân là Phạm Văn Châu làm Vệ uý vệ Hữu bảo nhị.

Lấy Tham hiệp Thanh Hoa là Trần Nhật Vĩnh làm Thiêm sự Hình bộ, theo thành Gia Định chuyên làm việc từ chương, Thiêm sự Hình bộ là Hoàng Quốc Bảo làm Tham hiệp Thanh Hoa.

Quốc Bảo bệ từ. Vua dụ rằng : “Ngươi đến trấn nên cùng với bạn đồng liêu kinh dinh xếp đặt, phàm việc gì có thể ích nước lợi dân thì hết sức mà làm, chớ nên chỉ mưu cho mình tạm khỏi tội lỗi mà thôi”.

Lấy Đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách là Trần Văn Năng, quyền coi ấn vụ Tiền quân. Vệ uý vệ Định võ Tả dinh là Nguyễn Văn Mân làm Chưởng cơ quyền coi ấn vụ Phó đô thống Hậu dinh, Quản cơ cơ Trung thắng Hậu quân là Nguyễn Đình Phổ làm Vệ uý vệ Định võ.

Trấn Nghệ An đặt mua gỗ làm thuyền hiệu, những người lĩnh tiền của nhà nước phần nhiều chưa nộp gỗ. Đình thần bàn xin bắt nộp. Vua nói : “Trẫm nghe trấn Nghệ An đương khổ về thiếu ăn, dân ta làm sao lấy được gỗ để nộp cho nhà nước ! Vậy miễn cho”.

Sửa đắp đài Trấn Hải. Sai Lê Chất trông coi công việc.

Trước đây vua bảo Chất rằng : “Tiên đế đắp đài để giữ cửa biển Thuận An, gần đây sóng gió vỗ vào làm lở sụt. Muốn cho vững thì nên dùng chước gì ?”. Chất xin đóng nhiều cọc gỗ rồi lấp bằng gạch đá. Vua cho là phải, nhân đấy sai Chất làm. Sau vài tháng Vệ uý Lê Văn Chương từ Thuận An tâu rằng phía trước đài đất cát bồi dần. Vua mừng nói rằng : “Đài này gần sát sóng biển, thường lo vỡ lở, nay có cát để chắn thì đài vững được. Đấy là ý trời giúp cho, không phải sức người làm được”.

Cho bốn người con công thần Vọng Các Cáp Văn Hiếu hằng tháng được chi tiền gạo.

Định lệ khoá thanh tra cho cục Bảo tuyền Bắc Thành. Đầu là đại sứ cục Bảo tuyền Trương Văn Minh xin cho khám xét. Giao xuống đình thần bàn, đình thần tâu xin sai quan kiểm tra, từ tháng 4 năm Gia Long thứ 12 [1814], đến tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 1 [1820], làm khoá năm Kỷ mão ; từ năm Minh Mệnh thứ 1 trở về sau, cứ 3 năm một khoá, lấy các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu làm khoá kỳ. Đều chọn phái một người thiêm sự Hộ bộ đem các lệnh sử ty sáu bộ mỗi ty 1 người đi kiểm xét, theo như lệ thanh tra lương tiền. Vua nghe theo. Bèn sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng trông coi công việc thanh tra cục Bảo tuyền.

Thành Gia Định dâng chim hạc đen và lợn vàng nước Ma Ly Căn.

Xuống chiếu tìm sách cũ. Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ đế vương các đời dấy lên, tất có sách sử mỗi đời để chép lời nói việc làm và công việc chính trị mà để lại đời sau. Nhà nước ta, từ Triệu tổ hoàng đế mở đất dựng nước, Thái tổ hoàng đế chịu mệnh nối ngôi, các thánh nối nhau rỡ ràng sáng rạng hơn hai trăm năm, trong khoảng ấy đều có sự tích. Duy vương chế chưa đủ, sử cục chưa có sự biên chép của quan Trụ hạ((1) Trụ hạ : tên quan ở đời Chu Tần, tức là Ngự sử, đứng hầu ở dưới cột điện.1)hãy còn thiếu sót. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, trung hưng nghiệp đế, dựng nên thái bình, nhớ lại công xưa, nghĩ tìm thực lục, nhưng muôn việc nên không kịp làm, sử chức vẫn còn bỏ thiếu. Trẫm để ý điển xưa, noi theo chí trước, ngửa nghĩ rằng nhờ công đức các đời mở đắp mới có ngày nay, càng muốn làm cho rõ rệt dấu xưa, giao cho sử quan soạn thuật. Nhưng từ lúc dấy quân về sau, kho sách không có bằng chứng, duy các nhà nhiều học thức hoặc còn ghi chép được chăng. Vậy chuẩn cho quan dân trong ngoài, phàm nhà nào cất được những bản biên chép điển cũ của triều trước, thì không kể tường hay lược, đem nguyên bản tiến nộp hoặc đưa cho nhà nước sao chép, đều có khen thưởng”.

Do đó trong ngoài đều đem các bản biên chép đến dâng. Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và sách Minh Bột di ngư văn thảo, Chiêm hậu Hoàng Công Tài dâng sách Bản triều ngọc phả (2 bản) và sách Kỷ sự (2 bản), người Quảng Đức là Cung Văn Hi dâng sách Khai quốc công nghiệp diễn chí (7 quyển), người Thanh Hoa là Nguyễn Đình Chính dâng sách Minh lương khải cáo lục (34 điều), người Quảng Ngãi là Võ Nguyên Biều dâng sách Cố sự biên lục (1 quyển). Vua khen, thưởng cho vàng lụa theo các bậc khác nhau.

Quan Bắc Thành tâu nói : “Đồn Bạt Thái ở Sơn Tây (thuộc huyện Bất Bạt) đất giáp huyện Tam Nông, thực là quan yếu. Thủ bảo là Nguyễn Đình Lương mộ được 50 người đinh lậu tịch từ Nghệ An trở vào, xin lập làm đội Hùng oai, hằng tháng cấp gạo lương để cho đóng giữ đất ấy”. Vua y cho.

Định lệ cấp tiền tuất cho các đội thị vệ. Binh ở mười đội Túc trực, hai đội Trường trực và Thường trực mỗi người tiền tuất là 5 quan ; ngũ trưởng các đội Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất, mỗi người đều 10 quan .

Sai bọn Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Thiêm sự là Ngô Bá Nhân kiểm tra phủ Nội vụ.

Đổi dựng kho Nội tạng (kho ở bên hữu trong hoàng thành).

Ngày Tân mùi, yết lăng Thiên Thụ.

Bắt đầu định lệ thuế đinh cho người Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình. Trước kia ba trấn đạo ấy chỉ theo số người ở sổ thường hành mà nộp. Đến nay sổ đinh đã thành, mới định lệ thuế, cũng bằng các trấn ở Bắc Thành. (Dân thực nạp, tráng hạng từ 20 tuổi trở lên hằng năm nộp tiền dung 1 quan 1 tiền, tiền đầu quan 1 tiền, gạo cước 2 bát, dân đinh 18 tuổi nộp tiền dung 5 tiền 30 đồng, tiền đầu quan 30 đồng, gạo cước 1 bát. Dân biệt nạp cũng nộp như thế. Quan viên tử con quan từ Chánh tứ phẩm đến Chánh lục phẩm và các hạng biệt tính cũng nộp giống như tráng hạng. Chức sắc thì quan viên tử con quan các bộ viện ty Tòng tam phẩm trở lên và hương cống, sinh đồ, cai hợp, thủ hợp ở nhà, nhiêu thân, nhiêu ấm, tấn thân khoa mục đời Lê trước, giản binh ở dinh vệ đội các quân ; binh ở dinh cơ vệ đội các quân, giáo phường, nội giám, lính kho, lính trạm, đều là hạng ngoại tiêu sai, chuẩn cho miễn thuế).

Xây cầu Ngự Hà. Cầu ở phía bắc kho Thái Thương và kho Vũ Khố. Năm đầu Gia Long mới bắc cầu gỗ gọi là cầu Thanh Câu, lâu ngày cầu hư, vua mới sai các quân chồng đá xây ở dưới, để ba khoảng trống, trên lát đá xanh, hai bên có lan can bằng đá. Hơn một tháng cầu xong, vì tên sông là Ngự Hà cho nên đặt tên cầu là cầu Ngự Hà. Thưởng cho các quân hơn 2.400 quan tiền. Từ đấy về sau có công việc dựng làm, không việc gì là không hậu thưởng.

Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên có bệnh cáo về. Vua dụ rằng : “Trẫm mới lên ngôi, cần tìm người cũ, khanh ở bộ Công đã lâu, vừa được uỷ việc công chính, hễ bệnh khỏi là làm việc ngay. Đặc cách cho nghỉ 6 tháng”.

Truy lục những người có công Vọng Các. Phàm người khi sống chưa có chức thì tha phú dịch cho cả nhà để giữ việc thờ cúng.

Người Man bảy sách Cam Lộ đến hiến sản vật địa phương (Lễ tiến hương : sáp ong 70 cân, trâu 7 con ; lễ khánh hạ ; hai con voi đực). Khi đến Kinh vào chầu, vua sai bộ Lễ đem đồ tang phục cấp cho các sai trưởng. Nhân tế điện lớn, đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiến hương. Khi trở về, cho sắc thư khen thưởng.

Cấp cho công thần Vọng Các là Chưởng cơ Lê Phước Điển 4 người mộ phu. Lại cho sáu người con hằng tháng được chi tiền gạo.

Định chức vụ của phủ Nội vụ, chia làm bảy kho (kho bạc vàng, kho gấm đoạn, kho the lĩnh, kho hàng Nam, kho đồ sứ, kho dầu nến, kho vị thuốc), mỗi kho đặt chủ thủ 12 người. Những lệnh sử sáu bộ trước sung chức hiệp sự Nội vụ đều bãi. Rồi hạ lệnh đem sổ sách các kho cứ 5 ngày một lần đóng ấn ở Văn thư phòng Thanh Phong đường, ai đóng ấn thì đều ghi họ tên ở dưới để tiện kê cứu.

Cho con cháu các công thần Vọng Các được tập ấm.

Trước là Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng đem danh sách tập ấm đã dâng mùa đông năm trước tâu lại, cộng hơn 300 người. Vua sai cấp cho sắc thị theo bậc khác nhau.

Đặt đường phố ở Kinh thành. (Từ cửa Thể Nguyên về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Thể Nguyên ; từ cửa Quảng Đức về bắc đến mặt nam Hoàng Thành làm đường cái Quảng Đức. Đều khắc biển để ghi).

Dựng xưởng tướng quân((1) Xưởng để các súng lớn, gọi là xưởng tướng quân.1).

Sai Thuộc nội vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung là Phan Văn Mân kiêm quản mười đội Túc trực.

Bộ Hộ tâu dâng các án đinh điền lậu sổ ở Bắc Thành, xin truy thu thuế. Vua chuẩn y lời đình thần bàn, phàm phác giác từ lúc mờ sáng ngày mồng 1 tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 1 trở về trước thì không bàn, từ tháng giêng về sau mới truy thu. Những dân xiêu giạt và tù được tha mới về vào sổ thì đều miễn thuế thân năm nay.

Chuẩn định từ nay trở đi hễ gặp ngày kỵ các miếu thì sai hoàng tử tước công tế thay.

Tháng 6 dựng viện Đoan Chính.

Sai Nội hàn Trần Vĩnh Hựu và Phan Khắc Tỵ, Nội vụ phủ Lương Phước Đồng và Vũ Hữu Lễ sang nước Thanh mua hàng hoá.

Sửa Nguyên miếu. Đầu là sai trấn Thanh Hoa mộ khoán phu, mua gỗ giá gấp hai trước, trấn thần đem việc tâu lên, vua dụ rằng : “Trẫm nghĩ ơn của tổ tông để lại, cho nên mở rộng quy chế. Gỗ quý bền chắc, dẫu có phí nhiều cũng không tiếc”. Hạ lệnh cứ theo giá mà cấp cho. Rồi sai làm đồ thờ, trang sức bằng vàng bạc gấm vóc.

Sai Chánh quản cơ Tả kiên ở Quảng Ngãi kiêm coi cơ Lục kiên, hợp cùng trấn thần mà ngăn chặn người Man núi. Lại ra lệnh cho quản cơ Lục kiên mộ dân dời đến ở miền đất trống ven núi, lập làm thôn ấp, miễn thuế thân và dao dịch để sai phụ giữ.

Con cháu nhà Lê là Lê Duy Thản ốm chết. Lấy Lê Duy Cát làm Cai cơ (trật Chánh tam phẩm) để coi giữ việc thờ tự nhà Lê, hằng năm cấp tiền gạo vẫn như cũ.

Dựng hành cung Thanh Hoa (một chính đường, một tiền đường. Trước gọi là hoàng cung quy vọng đường, đến nay gọi là hành cung).

Thái trưởng công chúa Ngọc Du mất (Chúa là con gái thứ hai Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế ((1) Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế là Nguyễn Phước Huyên.1), gả xuống cho Chưởng Hậu quân tham thặng Bình tây đại tướng quân Võ Tánh). Vua vì thế nghỉ chầu. Cho thuỵ là Nhu Gia. Sai chi của công để sửa việc tang. Lại cho thêm 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo. Ngày an táng tứ tế một đàn. (Năm Minh mệnh thứ 10 [1829], truy phong là Phước Lộc thái trưởng công chúa).

Sai đình thần tham chước bàn bạc luật lệ quốc triều . Vua muốn định lại luật lệnh, cho rằng Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh và Trần Hựu là ba người có tội, không nên để làm nhơ nhuốc sách luật, sai bỏ ba tên ấy đi. Dụ bầy tôi rằng : “Hình để đe răn kẻ gian, luật thì theo ý đời xưa mà lệ thì lựa cho hợp sự nghi đời nay, theo đổi biến thông chứ không thể gắn chặt mãi được. Buổi quốc sơ soạn định luật lệ, trong ấy điều mục hoặc có chỗ hợp với cổ mà không hợp với kim, thích với pháp mà chưa thích với tục, hữu ty phụng hành phần nhiều câu nệ cố chấp . Đức Tiên đế thánh minh, thấu hết những lệ ấy nên mỗi khi nhân có việc lại do đấy mà thêm bớt, như các điều ăn trộm xử trượng lưu thì chuẩn cho lưu làm đồ, đều là thông biến cho hợp với dân, để bổ vào chỗ điều lệ chưa kịp đến, nhưng chưa có rỗi để sửa chữa một phen. Trẫm vâng nhận cơ nghiệp lớn, trau dồi điển chương cũ, càng nghĩ rằng sách luật là đồ để giúp việc trị, điều mục hoặc giả còn thiếu, hữu ty sai về nhẹ nặng, thì dân biết đặt chân tay vào đâu. Các khanh nên kê cứu luật cũ, bàn kỹ những điều nên theo nên đổi, nên bớt nên thêm, trẫm sẽ xét định thi hành”.

Đổi hai đội Yến oa ở Quảng Nam làm Yến hộ, đội trưởng làm hộ trưởng (trật Tòng cửu phẩm).

Lấy Hàn lâm Thị độc Nguyễn Hựu Bình làm Hàn lâm Thị độc học sĩ.

Bắt đầu dựng Quốc sử quán. Vua dụ bầy tôi rằng : “Nhà nước ta từ khi mở mang đến nay, các thánh nối nhau, hàng 200 năm. Kịp đến Thế tổ Cac hoàng đế ta trung hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy sự tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lấy gì để dạy bảo lâu dài về sau. Trẫm muốn lập Sử quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục, để nêu công đức về kiến, đốc, cơ, cần, ((2) Kiến, đốc, cơ, cần : xem chú thích ở biểu dâng sách Thánh tổ Nhân hoàng đế thực lục chính biên ở trên.2) làm phép cho đời sau, cũng chẳng là phải sao”.

Bầy tôi xin như lời dụ.

Bèn sai chọn đất ở bên tả trong Kinh thành, họp thợ xây đắp, hơn một tháng thì xong.

Sai dinh Quảng Bình sửa đắp đường quan (từ huyện Lệ Thuỷ đến châu Bắc Bố Chính hơn 20.000 trượng). Dân hạt đi ứng dịch hàng tháng được cấp tiền gạo. Đường có mở vào phần mộ của dân thì cấp tiền cho để di táng.

Ngày Tân mão, dâng thêm tôn thuỵ cho Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu là Thừa Thiên Tả Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu. Trước kỳ sai quan kính cáo ở các miếu. Trước một ngày vua mặc áo tư thôi kính cáo ở bàn thờ Tiên đế. Rồi đổi mặc thường phục, đến trước thần vị Hoàng tỷ cáo về việc ấy. Đến ngày, vua mặc lễ phục, đem bầy tôi dâng kim sách, kim bảo, rước thần chủ phối với Hoàng khảo (Năm Kỷ mão mùa đông đã rước thần chủ dời sang gian bên hữu điện Hoàng Nhân, đến nay đổi đề thần chủ thờ chung ở gian giữa). Sách văn rằng : “Lễ không gì lớn bằng tôn dâng danh hiệu ; hiếu không gì trước hơn ghi chép đức xưa. Khuôn phép tốt vẫn còn nhớ hoài ; xưng tụng to cần phải nêu rõ. Kính nghĩ, Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu, tư chất từ hiếu, tính nết đoan trang. Trong nhà cùng gánh vác cơ nghiệp gian nan, tu tề nối đầu vương đạo ; thờ trên chăm giữ gìn dung nghi hoà thuận, sau trước rất mực hiếu tâm. Khắp trong nước nhuần giáo hoá mẹ hiền ; cả cung đình được yêu như con cái. Tuy xe mây quê trời về trước, mà bút đỏ((1) Bút đỏ : chữ Hán là đồng quản (               ) nghĩa là quản bút đỏ, người nữ sử cầm để ghi chính lệnh ở trong cung và việc làm của hậu phi.1) khuôn phép vẫn ghi. Nên đức mọn mối lớn mới vâng, truy tôn thuật rõ công thánh ; nghĩ khôn nghi sánh cùng càn đức, tán tụng ghi ở điển to. Nay mới xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi, kính tiến kim sách kim bảo, dâng thêm tôn thuỵ là Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu. Cúi mong nhận lấy danh hiệu tốt , lên phối với Nễ cung((2) Nễ cung : miếu thờ cha.2) Ôi ! kính người vẫn tôn, đức dày khó xưng ra được ; khí thiêng vòi vọi, phước lớn để lại lâu xa”.

Ngày hôm sau ban chiếu cho trong ngoài.

Chiếu rằng : “Mảng nghe, trời đất hợp đức, theo thế thì thịnh cả hai ; đế hậu đều tôn, sùng báo thực là việc trước. Cả nghĩ Hoàng tỷ Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên hoàng hậu ta, ơn huệ rõ ràng, tiếng tốt đầy rẫy. Giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, làm rõ rệt công việc trong nhà, giúp sửa trị mối giềng âm hoá. Đức sánh Thái Nhâm Thái Tự ; nết hơn Hữu Sần, Đồ Sơn. Phước chốn khắp cung vi ; lợi đến cả tôn xã. Trẫm khi còn bé, sớm được yêu đương. Nuôi ở trong cung, ơn như ruột thịt. Bảo ban dạy dỗ, cho đến trưởng thành, đội đức nối danh, ánh sáng soi chiếu. Ghé tận tai bảo tận mặt toàn nhờ thánh mô ; ngày càng tới tháng càng lên đều nhờ ý phạm. Khôn nghi lâu vắng thổn thức nỗi lòng ; cưỡi rồng bay đi, bỗng ôm đau đớn. Mơ màng vẫn nhớ đến mờ sáng ; suy tôn càng dốc hiếu một lòng. Nay đã dâng thuỵ hiệu, miếu hiệu Cao hoàng đế rồi. Theo lễ thì đã bàn soạn từ trước ; về tình thì tôn thân không cách nhau. Kính cẩn lấy ngày mùng 4 tháng này, sai quan kính cáo Tôn Miếu, thân đem các tước công và đại thần, xin mệnh lệnh ở trước thần ngự Hoàng khảo, ngày mồng 7 kính dâng kim sách kim bảo và dâng thêm thụy hiệu của Hoàng tỷ là Hoàng tỷ Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu, để rõ rệt từ đức, phối hưởng lâu dài ở Nễ cung. Để nêu tiếng lớn cao vòi vọi rộng mênh mông, để rõ nghĩa lớn tôn người tôn quý người quý. Ôi ! Đứng vào ngôi, làm lấy lễ, một mình ta yêu quý không quên ; gốc ở mình, nghiệm ở dân, muôn họ ngươi hưởng phước mãi mãi. Khắp nơi báo cáo, để khiến đều hay”.

Ban bạc thay ăn yến cho các quan ở Kinh và ở ngoài.

Chiếu rằng : “Lúc mới lên ngôi vua, tất phải ra ơn cho khắp, yến hưởng bầy tôi, để mừng vua sáng tôi lành, mà tin trên hoà dưới thuận. Trẫm nhờ trời thương, trên vâng nghiệp nặng của Tiên đế phó thác, dưới hợp lòng thành của quan dân suy tôn. Khi mới lên ngôi, Tiên đế mới mất, nên lòng thương, sửa tang lễ, rối rít không kịp bàn làm. Nay đã núi Kiều((1) Kiều : cây kiều là chỉ cha. Thượng thư đại truyện có câu : “Kiều giả phụ đạo dã”.1) yên chỗ, miếu Nễ hợp tôn, phép thường là việc tôn sùng báo đáp, đều đã lần lượt làm xong, nhưng âm nhạc còn lặng, cung kiếm chưa nguội, trẫm còn đau thương, há phải là lúc vua tôi yến tiệc vui mừng ! Lễ không thể vượt mà việc lại không thể bỏ. Vậy cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau. (Trên nhất phẩm bạc 20 lạng, Chánh nhất phẩm 15 lạng, Tòng nhất phẩm 10 lạng, Chánh nhị phẩm 8 lạng, Tòng nhị phẩm 6 lạng, Chánh tam phẩm 3 lạng, Tòng tứ phẩm 2 lạng. Quan ở Kinh từ tứ phẩm trở lên, quan ngoài từ tam phẩm trở lên).

Sai Tôn Thất Dịch chọn các quan tôn thất ai có đức hạnh cho dạy con em trong tôn thất.

Sai Tôn Thất Bính kiêm quản vệ Nội hầu. Dụ rằng : “Thân binh cậy thế trái phép, người quản lãnh phần nhiều không hay ngăn giữ, ngươi nên nghiêm bảo đe nạt, nhất thiết lấy quân pháp mà trị, khiến cho đổi tệ trước đi”.

Chuẩn định cho Tượng quân mỗi năm được cấp 100 quan tiền để thờ thần ở miếu Long Châu. (Miếu ở xã Nguyệt Biều huyện Hương Trà, hằng năm đến tháng 2, tháng 5, tháng 8, tháng 11 thì chọn ngày tốt để tế).

Khởi phục cho Lê Cao Cơ làm chức Hàn lâm viện Tu soạn. Cao Cơ là con Thị giảng Lê Cao Kỷ, trước đây làm Tri châu châu Bố Chính ngoại có tội mất chức. Vua nói : “Lê Cao Kỷ hầu Hoàng tổ Hiếu Khang hoàng đế ta, trung tiết đáng khen, nên lục dụng con cháu”. Bởi thế có mệnh này.

Ngày ất mùi, vua đến điện Hoàng Nhân, rước thánh vị Cao hoàng hậu lên thờ chung ở điện Minh Thành.

Ngày Bính thân, yết lăng Thiên Thụ. Thưởng các quân đi theo hơn 900 quan tiền.

Tha thuế ruộng đất bị lở ở xã An Lãng (thuộc huyện Nam Xang) trấn Sơn Nam. Từ đấy về sau các địa phương có nơi nào đem việc ruộng đất bị lở tâu lên cho đều miễn thuế.

Triệu Thượng thư Lại bộ hành Hiệp tổng trấn Gia Định là Trịnh Hoài Đức về Kinh, lại cho lĩnh việc Lại bộ. Thượng thư Lại bộ Nguyễn Hữu Thận thì điều sang lĩnh việc Hộ bộ.

Cho các quan ở ngoài theo hầu trong lễ Ninh lăng, đều về nơi làm việc. Hà Công Thái bệ từ. Vua nói rằng : “Ngươi ở đạo, phàm mọi việc nên cùng với đốc trấn bàn bạc xét kỹ cơ nghi sao cho giặc cướp lặng yên, trấn đạo thanh tĩnh, để đền đáp ơn hậu đãi của triều đình. Phải cố gắng đấy”.

Triệu Ký lục Phiên An là Lê Chấn, Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn, Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh về Kinh. Trước là đình thần tâu cử quan trong, quan ngoài hơn 30 người. Vua chấm 3 người là bọn Chấn, nên sai triệu về.

Lấy Cai bạ Phú Yên là Hoàng Văn Quyền làm Cai bạ Bình Định, Thiêm sự Lễ bộ là Đoàn Đức Khánh làm Ký lục Phiên An, Tham luận Tượng quân là Trần Văn Tam làm Tham hiệp Hà Tiên. Khánh chưa kịp đến chỗ làm việc thì chết.

Trấn thủ Yên Quảng là Vũ Văn Kế vì có bệnh xin về nghỉ. Vua y cho.

Sai Đào Văn Lương coi chở 200.000 đồng tiền ở kho Kinh đến thành Gia Định. Lương trước làm Thống chế Thuỷ quân bị tội phải bãi, dâng biểu xin về, vua yên ủi dụ rằng : “Trẫm biết khanh là người đốc hậu, thành thực, chất phác, tuy vì lầm lỗi bị bãi, nhưng hãy nên ở lại, trẫm còn có chỗ dùng khanh”. Đến nay nhân có việc vận chở bèn sai đi.

Lấy Vệ uý vệ Tuyển phong tả Tả dinh quân Thần sách là Đặng Văn Lung làm Chưởng cơ, vẫn coi việc vệ.

Lấy Thuộc nội vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung là Hoàng Đức Tùng làm Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Loan nghi quân Thị nội là Nguyễn Văn Tự làm Phó vệ uý Hậu vệ dinh Thần cơ.

Dụ rằng : “Từ nay về sau, những quan chức ở Thị trung Thị nội có đeo chữ thuộc nội thì bớt đi, để khỏi trùng điệp”.

Sai Tôn Thất Bính xét hỏi trong tôn thất ai là người trung hậu thành thực có thể dùng được, đem tên tâu lên.

Đổi thuyền Toàn súng ở Chính dinh làm đội Tuần bạc.

Đắp trường súng (ở mặt sau trong Kinh thành). Sai quân lính tập bắn. Làm nhà vuông làm chỗ vua ngự xem.

Sai Vệ uý vệ Oai võ quân Thần sách là Lê Mậu Cúc coi quân ba vệ Dương võ, Toàn võ và Oai võ, án thủ bảo Hà Trung, kiêm hành việc quản thủ Hà Hoa. Bảo đặt ở địa hạt Hà Hoa, cho nên bớt chức quản thủ mà lấy chức án thủ kiêm làm, như lệ bảo Tiên Lý (bảo Tiên Lý ở hạt phủ Diễn Châu, án thủ kiêm hành việc quản phủ).

Thành Gia Định theo đường biển vận chở gỗ đến Kinh. Thưởng cho những người quản lĩnh áo quần và tiền thưởng theo thứ bậc.

Chuẩn định các dinh vệ cơ đội kinh binh đều cử đến mồng 1 tháng 7 thì thay phiên để nghỉ.

ở hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường bệnh dịch phát to. Dụ cho sở tại làm lễ cầu đảo. Người bị bệnh không kể quan, quân hay dân đều cho thuốc men. Người chết, quân lính thì theo lệ cấp tiền tuất và cấp thêm một tấm vải ; dân thì đàn ông đàn bà, người già người trẻ, mỗi người cấp 3 quan tiền. Người nào hài cốt bộc lộ thì nhà nước liệm táng cho. Lại sai trung sứ tuyên dụ cho quan địa phương phải thân đi cấp tiền tuất, hỏi thăm dịch khí nhẹ hay dữ, và số quân dân bị ốm chết, cứ ngày một lần tâu.

Vua lại nghe biền binh các vệ Thị nội đi thú ở Thanh Hoa, Nghệ An. Thanh Bình, Bắc Thành nhiều người vì không quen thuỷ thổ nên bị ốm. Dụ cho sở tại gia tâm hỏi han, chữa thuốc, để cho đều được lành mạnh.

Định ngạch thuộc lại cho các hạt Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận và Biên Hoà.

Vua thấy số hộ khẩu ở các hạt ấy so với hạt khác rất ít (Quảng Bình hơn 13.400 người, Quảng Trị hơn 17.000 người, Quảng Ngãi hơn 15.400 người, Phú Yên hơn 5.000 người, Bình Hoà hơn 5.100 người, Bình Thuận hơn 9.600 người, Biên Hoà hơn 11.000 người), chuẩn y lời đình thần bàn, chiếu theo lệ sáu trấn ven biên giới ở Bắc Thành, mỗi hạt tả thừa ty, hữu thừa ty, câu kê, cai hợp đều 1 người, thủ hợp 3 người, tư lại 25 người, còn dư thì thải đi, bắt đầu thi hành từ năm sau.

Cấm người quản quân lấn xén của quân lính.

Vua bảo thị thần rằng : “Triều đình nuôi quân lính không có tiếc phí, khi có việc xây dựng thì thưởng cho thêm. Người quản quân có người không thể tất đức ý của bề trên, làm nhiều cách bóc lột, khiến người ta không được nhờ ơn thực, trẫm chán ghét quá. Vậy hạ lệnh cho bộ Binh truyền dụ cho trong ngoài phàm lương hằng tháng cấp cho lính và của được ân tứ, ai dám bớt xén và tạ sự dùng dằng, đều xử tội nặng”.

Lấy Vệ uý vệ Thị tượng nhất là Phạm Văn Điển, Phó vệ uý là Nguyễn Văn Thị làm Chánh phó vệ uý vệ Thị tượng nhất quân Thị nội, Vệ uý vệ Thị tượng nhị là Nguyễn Đình Đề và Phó vệ uý Đặng Tài Cù làm Chánh phó vệ uý vệ Thị tượng nhị quân Thị nội, Vệ uý vệ Thị tượng tam là Nguyễn Văn Toán và Phó vệ uý Nguyễn Văn Trì làm Chánh phó vệ uý vệ Thị tượng tam quân Thị nội, Cai cơ Thị tượng là Lê Văn Hoan làm Vệ uý Thị nội, Quản ba cơ Tiền tượng, Tả tượng, Hữu tượng, Chánh quản cơ Nguyễn Văn Ngũ làm Vệ uý Tượng quân, Quản hai cơ Định tượng, Kiên tượng, Quản chi Trung tượng là Lê Công Thiệu làm Vệ uý Tượng quân quản cơ Thị tượng.

Trấn Sơn Tây bắt được những quân giặc trốn là Nguyễn Hữu Danh và Đỗ Trọng Ngũ, đem giết. Thưởng cho biền binh đi bắt hơn 50 lạng bạc. Cai đội Nguyễn Văn Thư đánh nhau với giặc bị chết, đình thần bàn cấp tiền tuất 30 quan. Vua nói : “Thư là một tỳ tướng nhỏ, hăng hái không tiếc thân, cái nghĩa làm tôi căm giặc phải nên như thế”. Cấp thêm cho 10 lạng bạc.

Lấy Cần Chính điện học sĩ là Nguyễn Xuân Tình kiêm Thái thường Tự khanh tham bồi việc Lễ bộ, Ký lục Phiên An là Lê Chấn thự Tả tham tri Hình bộ. Hơn một tháng Chấn chết.

Chuẩn định phàm các quan vào hầu ở Tiện điện, ban văn ở bên hữu, ban võ ở bên tả, đều theo ban thứ đứng hầu. Văn từ Tham tri, võ từ Đô thống chế trở lên thì khiến được ngồi, cho uống nước chè. Hằng ngày lấy thế làm lệ thường.

Đặt đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ.Thái trưởng công chúa Ngọc Tú thường nói xin làm trai tiếu((1) Trai tiếu : trai là đàn chay lớn, tiếu là đàn chay nhỏ.1) để truy tiến tiên đế .

Vua đem việc ấy bảo các đại thần rằng : “Trẫm đọc sách thánh hiền, cũng biết lễ trai tiếu của nhà Phật là không đủ tin. Duy nghĩ Hoàng khảo ta lúc trước để tang Hiếu khang hoàng hậu cũng đã từng làm. Con thờ cha mẹ, thà sai về quá hậu, các khanh nghĩ thế nào” ?

Nguyễn Văn Nhân tâu rằng : “Tiên đế làm chay là theo ý nguyện và lòng thích của Hiếu khang hoàng hậu, không phải là theo thuyết hoạ phước báo ứng. Bệ hạ nối đức nên lấy lễ nghĩa mà xử định, để cho trên triều đình không thất chính, ở dưới không có nghị luận riêng, há việc gì cũng phải theo cũ mới là hiếu sao ? Thái trưởng công chúa đã xin làm thì chỉ cấp kinh phí cho tự làm là phải”.

Vua lại hỏi Thượng thư Lễ bộ Phạm Đăng Hưng, Hưng đáp rằng : “Nối chí noi việc là hiếu, việc bệ hạ làm là việc tiên đế đã từng làm, có gì là không thể làm được !”.

Vua cho là phải. Sai Tôn Thất Dịch cùng Vệ uý Trần Đăng Long đến trước chùa Thiên Mụ, dựng nhà tranh, sắm đồ vật. Đến nay bèn dựng đàn chay tam thất ((1) Tam thất : 3 lần 7 tức là 21 ngày.1). Thái trưởng công chúa làm chủ đàn chay. Các tước công lần lượt đến dâng hương. Vua thường đến xem.

Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An và Thanh Hoa lâu không mưa. Dụ cho sở tại cầu đảo.

Vua bảo bầy tôi rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến giờ, nau náu nơm nớp, chỉ sợ chưa hợp ý trời, nay đại hạn và ôn dịch làm tai vạ, có lẽ là trời răn ta bất đức chăng ?”

Nguyễn Hữu Thận nói rằng : “Thiên tai lưu hành, từ xưa vẫn có. Đấng vương giả gặp tai vạ biết sợ, sửa thêm đức chính, thì tai vạ lại chuyển làm lành”.

Vua quay bảo Phạm Đăng Hưng rằng : “Làm vua thì một lời nói một việc làm trời đất thần kỳ cũng soi xét cả. Nay chiếu phong tặng bách thần đã 5,6 tháng rồi mà còn chưa làm. Lời nói với dân còn không thể thất tín huống là đối với quỷ thần. Ngươi nên cùng các đại thần bàn ngay đi”.

Xã An Tiêm (thuộc huyện Hải Lăng) dinh Quảng Trị có ruộng đất công phủ cũ hơn 10 mẫu, dân xã ấy thuê để cày cấy, xin theo lệ ruộng đất công mà nộp thuế. Vua sai bộ Hộ bàn, cứ theo lệ tiền thuê tha cho một nửa mà thu.

Sai Hữu ty làm ấn quan phòng bằng bạc cấp cho Tả hữu thống chế quân Thị trung, cho Thống chế các vệ Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hỗ oai quân Thị nội và cho năm dinh Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu quân Thần sách và ấn quan phòng bằng ngà cho phó năm dinh quân Thần sách.

Đổi vệ Long võ ở Trung dinh quân Thần sách làm vệ Ban trực trung, vệ Nghiêm oai ở Tả dinh làm vệ Nghiêm võ, vệ Hổ oai ở Hữu dinh làm vệ Nghĩa võ, vệ Kiên oai ở Tiền dinh làm vệ Trang võ, vệ Cường oai ở Hậu dinh làm vệ Cường võ.

Thành Gia Định mộ lính lập 3 đội Võ chấn, Tả bính, Hữu bính, tâu xin biên vào ngạch. Vua y cho.

Ban quần áo và tiền cho các viên biền và thợ thuyền các sở công tác ở Kinh theo thứ bậc khác nhau. Vua thấy gần đây công dịch có nhiều, sai bộ Hộ kê khai danh sách các viên biền, quan lại trở xuống đến thợ thuyền để cấp cho. (Từ chưởng quân đến thứ đội trưởng hơn 490 người, thợ hơn 1.080 người). Lại sắc từ nay về sau có công việc xây dựng thì ngày khởi công phải kính cáo với thần tư công, sai quan làm lễ.

Sai Vệ uý vệ Quảng võ là Hồ Bôi án thủ bảo Thổ Sơn, Vệ uý vệ Tráng võ là Trương Văn Trâm án thủ bảo Tiên Lý.

Sai bọn Thiêm sự Lại bộ là Phan Quang Anh, Thiêm sự Binh bộ là Vũ Quang Gia kiểm tra văn thư phòng. Phàm những sách công không thành bộ thì chia cấp cho các nha từ thiêm sự trở lên. Văn thư và ấn tín nguỵ thì tiêu huỷ hết.

Bổ biền trấn Nghệ An là Nguyễn Quang Thư bắt được tên giặc trốn là Lê Hùng Hổ (đảng của nguỵ Kiền Thái). Sai giết đi. Thưởng cho Quang Thư 50 lạng bạc.

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển iV

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ 1 [1820], mùa thu, tháng 7 ngày mồng 1, tế thu hưởng. Sai Kiến An công là Đài tế thay.

Sai Khâm sai chưởng cơ thuỷ quân là Nguyễn Văn Hạnh lấy bản chức mà quản bốn cơ Tiền dực, Tả dực, Hữu dực, Hậu dực đóng thú ở Bắc Thành.

      Dựng miếu công thần khai quốc và công thần trung tiết. Trước là Nguyễn Văn Nhân xin lập miếu thờ các bề tôi khai quốc. Vua nói : “Khanh nói chính hợp ý trẫm, bề tôi trung tiết cũng nên có chỗ thờ”. Mới xuống chiếu rằng : “Tôn đức báo công là điển lễ lớn của nhà nước. Hoàng khảo ta là Thế tổ Cao hoàng đế ta làm sáng lại nghiệp cũ chiếm giữ toàn nước Việt, đầu tiên dựng Giao Miếu, rất để ý về thờ tự. Rồi lập miếu công thần trung hưng, để nêu công lớn, nhớ lại công lao, gây dựng giúp đỡ, và thương mến người khí tiết khảng khái lúc loạn lạc, bàn dựng miếu công thần khai quốc và miếu công thần trung tiết mà chưa kịp làm được, hằng năm mùa xuân mùa thu sắc cho Hữu ty lập đàn để tế. Nay trẫm vâng nối nghiệp lớn, cùng dân yên nghỉ, phàm cung điện nhà cửa không có làm lại gì cả. Duy điển lễ thờ tự những tôi trung có công thì không thể hoãn được. Vậy sai bộ Công họp thợ để làm”. (Miếu Khai quốc công thần ở bên tả miếu Trung hưng công thần. Miếu Trung tiết công thần ở bên tả sau miếu Khai quốc công thần. Hàng năm xuân mùa thu tế vào ngày Giáp). Khi miếu đã xong, cấp cho 10 người dân xã Vân Dương cùng với miếu phu miếu Trung hưng công thần mà trông giữ.

      Vua từng bảo bầy tôi rằng : “Khi trẫm mới lên ngôi, từng nằm nệm rơm tại điện Quang Minh, nằm mơ thấy các quan đội mũ mặc áo, đứng la liệt ở dưới thềm. Trẫm nghĩ rằng nhà Lương am ((1) Chỗ vua ở trong khi có tang.1) không phải là chỗ triều hội, sai hỏi, và đòi áo mũ để ra, thì thấy các quan giữ việc ở trước đều không phải là người quen mặt. Phải chăng là các công thần ngày trước âm thầm phù hộ ru”.

      Sai Văn thư phòng từ nay về sau dùng bảo ấn “Văn lý mật sát” thì đều dùng quả lớn thôi. Trước kia bảo ấn “Văn lý mật sát” có hai quả, quả lớn thì theo với ấn “Ngự tiền chi bảo” dùng đóng vào dụ chỉ và chương sớ, quả nhỏ dùng đóng vào sổ sách của Nội vụ phủ. Vua cho rằng hai quả đều dùng cả thì chưa được hoạch nhất, sai cất quả nhỏ đi, phàm các việc nhất thiết lấy quả lớn mà dùng”.

      Sai dinh thần Quảng Đức từ nay trở đi phàm tình hình nắng mưa và giá gạo cứ hằng tháng một lần tâu lên.

      Từ Bình Thuận trở ra đến Quảng Bình có tin báo bệnh dịch. Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. Sắc cho các địa phương mỗi nơi đặt một đàn tế lễ. Người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền vải, theo như lời dụ trước. Nhà vua rất lo về dịch lệ, từng ở trong cung trai giới và cầu đảo ngầm. Bảo bầy tôi rằng : “Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay. Trẫm làm chủ của dân, duy có ngày đêm kính sợ, xét mình sửa đức để hồi lại ý trời. Đến như vì dân mà cầu đảo thì không cái gì là không làm, ngõ hầu khí độc có giảm ít đi chăng ?”. Bèn sai Nguyễn Văn Nhân cầu đảo ở đàn Thái tuế Nguyệt tướng (đàn đặt ở bên tả đàn Nam Giao, bậc thứ ba), Trần Văn Năng đảo ở miếu Đô thành hoàng, Nguyễn Văn Hưng đảo ở Miếu hội đồng. Lại sai bố thí cho các chùa, làm đàn trai tiếu khiến cầu đảo cho dân. Vừa gặp trấn thần Phú Yên là Nguyễn Văn Quế đem tình hình bệnh dịch trong trấn dâng biểu xin chịu tội. Vua bảo rằng : “Trẫm không có đức, trên can phạm hoà khí của trời, bốn phương có dịch đều là lỗi trẫm”. Nhân sai Phạm Đăng Hưng theo ý ấy mà soạn dụ. Đăng Hưng tâu rằng : Gặp tai vạ biết lo sợ, vốn là thịnh đức của đấng nhân quân. Nhưng thần nghe bệnh dịch từ Tây dương sang, bệ hạ hà tất lấy làm tội của mình”.

      Vua nói : “Nếu trẫm không thiếu đức thì tai vạ ở nước ngoài vào làm sao được. Nguyễn Văn Quế chỉ là một mục thú còn tự nhận là lỗi mình, huống trẫm là vua thiên hạ, có thể chối lỗi được sao ?”.

      Lấy thuốc viên chữa dịch mới chế chia cho bầy tôi.

      Xuống chiếu cầu lời nói thẳng.

      Chiếu rằng : “Trẫm nghe đường ngôn luận mở rộng thì nước mới trị. Cho nên cờ tiến thiện, cây gièm chê là cốt biết tình dân để thông đạo trị mà đem lời khuyên can((1) Ngu Thuấn cho dựng cây gỗ ở trong triều, ai thấy chính trị có điều gì thiếu sót đáng chê thì đến biên vào cây gỗ ấy.1). Trẫm thấy thân nhỏ bé, nối nghiệp lớn lao thường nơm nớp sợ gánh nặng được phó thác, vẫn cùng các đại thần huân cựu, dậy sớm, ăn muộn, sửa sang chính trị. Nay bỗng gặp khí trời không hoà, nhân dân khó sống, có lẽ là chính sự có điều gì thiếu sót chăng, ẩn tình của dân có chỗ chưa suốt đến chăng ? Người muốn thấy hình của mình, tất nhờ ở gương sáng ; vua muốn nghe lỗi của mình, tất phải đợi ở tôi ngay. Vậy cho các văn võ ở Kinh từ Tứ phẩm trở lên, các quan thành dinh trấn ở ngoài đều lo cố gắng, đua nhau đối đáp rõ rệt, hoặc lỗi chính ở trẫm, về kính đức nối sáng có thiếu, về nhân ân yêu giữ chưa tròn. Vậy lấy chư thần làm bầy tôi pháp độ, làm kẻ sĩ giúp vầy, như đá để trị ngọc, như đá để mài vàng, chớ như lời nói của mình quý như vàng ngọc mà giấu, cần phải chỉ ngay vào điều lỗi không kiêng kỵ gì. Lại phàm nghe thấy chính sự có thiếu sót, dân tình có khổ sở, đều cho dùng phong bì mà tâu thực lên. Trẫm sẽ thân xem, chọn để đem làm. Tôi quan ở trong ở ngoài, nên thể tất ý thiết tha lo tìm của trẫm để vua tôi sửa chữa lẫn nhau, may ra trên báo đáp được lòng trời, dưới chữa sống được bệnh dân, để cùng hưởng phước thái bình”.

      Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân dâng sớ nói : “Hiện nay quân dân đương có bệnh dịch, xin nghỉ công tác 1, 2 tháng để dưỡng sức cho người và sai các quân ở Kinh và ở ngoài thao diễn để cho khí hăng hái lên. Dương thịnh thì âm suy, người mạnh thì tật yếu, cũng là một thuật để ngăn tai vạ”.Vua khen là phải.

      Tuân lại dâng sáu điều : 1) Đặt viện Ngự sử. Xin chọn văn võ trọng thần kiêm lãnh chức Đài hiến sứ, ở trong thì đàn hặc sửa chữa trăm quan để khiến gắng sức siêng năng, ngoài thì củ sát các châu huyện để răn sự gian tham nhũng lạm. 2) Đặt Thái phỏng sứ. Xin chọn quan Kinh, người nào thanh liêm, trung thực, đứng đắn, trong sạch, thì sai đi khắp các châu quận, xét chính tích, xem tình dân, để nghiệm xem các thủ thần giỏi hay không, và để thấu suốt lợi bệnh của tiểu dân. 3) Bớt những viên chức thừa đi. Nói rằng triều đình cẩn thận chọn bề tôi nho học làm Tri huyện, mà chỉ giao làm một việc giấy tờ kiện tụng, còn việc tiền thóc binh lương vẫn uỷ thác tất cả cho cai huyện, ký huyện. Vả trong một huyện quan lại và tạo lệ không ít, mà lại đặt riêng bọn cai huyện, ký huyện hơn 10 người, thì muốn không xâm phạm của dân khó lắm. Xin bớt đi. Phàm việc giấy tờ kiện tụng, lương tiền, binh lính, dao dịch cầu cống, đường sá là giao cả cho Tri huyện. Nếu một người không làm nổi thì đặt hai người, để cho họ được phát triển điều sở học, rồi mới trách được việc phục vụ cho dân. 4) Đặt nhà học ở dinh trấn châu huyện. Xin chọn những bậc lão sư túc nho làm Trợ giáo. Phàm học trò trước hết phải đến châu huyện học tập, Trợ giáo phải xét tài năng khí độ mà dạy. Khi đã hơi thông kinh sách và biết làm văn, thì cho đến dinh trấn để Đốc học dạy. Thường khảo xét người nào trúng cách thì cử lên Thái học cho giám đốc học khảo duyệt bài lại mà tâu lên. Vua bèn sai văn thần hội với giám đốc học khảo hạch lại. Người nào kinh thuật rộng khắp, học hạnh thuần đủ, cho làm sinh viên, cấp cho lương ăn mà học tập, để đợi lục dụng. 5) Mở khoa ân thí. Nói rằng hiện nay đương cử hành ân chính, thiên hạ đều được nhờ ơn, học trò bốn phương, không ai là không nghển cổ để trông đức tốt. Xin sang năm mở ân khoa như điều lệ nước Đại Thanh. 6) Cử hành ân tự. Trước kia Thế tổ Cao hoàng đế đắp thành vàng, mở đường sá, những phần mộ hoang phế, đều để ý thương xót, chiếu cho hữu ty cấp cho áo quan và vải để liệm táng, hằng năm một lần hội tế, rồi sau mấy năm lễ tế ấy không đặt nữa. Nay nhà vua là chủ bách thần, thần kỳ lớn nhỏ đều được nhờ ơn, duy những cô hồn không người thờ cúng thì chưa kịp thương đến. Đời xưa có nói rằng : “Ma quỷ không có chỗ nương tựa thì làm dịch lệ. Xin định làm lệ tế, để cho có chỗ nương tựa”.

      Sớ tâu vào, vua sai đình thần bàn để lần lượt thi hành.

      Định rõ thêm điều cấm thuốc phiện. Vua dụ bầy tôi rằng : “Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn lêu lổng lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường thường nghiện mà không thể bỏ được. Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật. Tổn thương cơ thể sinh mệnh. Nên bàn để nghiêm cấm đi”.

      Bấy giờ đình thần bàn tâu : Không kể quan hay dân, ai dám hút thuốc phiện, và cất giấu mà nấu nướng buôn bán thì xử tội đồ. Ai bắt được mà tố cáo thì thưởng bạc 20 lạng. Cha anh không hay răn cấm con em, xóm giềng biết mà không tố giác, đều bị xử trượng.

      Lời nghị tâu lên, nhà vua chỉ sửa là quan chức có phạm thì phải cách, còn các điều khác thì theo lời bàn mà thi hành.

      Dinh thần Quảng Đức tâu nói : “Ruộng đất ở năm xã An Ninh, An Cựu, Thanh Lương, Lang Xá và Phú Xuân, hoặc bán cho nhà nước, hoặc lấy nung gạch ngói thành ra vũng sâu, xin tính mẫu mà tha thuế”. Vua theo lời tâu.

      Trong kinh kỳ nắng. Vua mật đảo ở trong cung. Ngày hôm sau mưa to.

      Sai biền binh các đội Tuần thành và Lâm công vệ Kỳ võ lên núi lấy gỗ, thưởng tiền 200 quan.

      Sai bộ Lễ gửi thêm chữ huý các liệt thánh cho các địa phương. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Những chữ tôn huý gần đây của quốc triều, năm trước đã tuyên bảo rằng cấm (lúc đọc thì đọc tránh âm đi, lúc làm việc thì đổi dùng việc khác, cộng có 8 chữ, một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ viên [Noãn       ] khi làm văn đổi dùng chữ úc [       ] ; một chữ bên tả là chữ nhật ; bên hữu là chữ ương [ánh      ] đổi dùng chữ chiếu [      ] ; một chữ bên tả là chữ hoà, bên hữu là chữ trọng [Chủng       ] đổi dùng chữ thực [      ] ; một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ luân [Luận       ] đổi dùng là chữ diệu [      ] ; một chữ bên tả là chữ ngọc, bên hữu là chữ hoàn [Hoàn      ], đổi dùng chữ viên [       ] ; một chữ trên thảo đầu, dưới chữ môn bọc lấy chữ giản [Lan        ], đổi dùng chữ hương [       ] ; một chữ bên tả là chữ nhật, bên hữu là chữ giao [Hiệu     ], đổi dùng là chữ hiệu [       ] ; một chữ bên tả là chữ nhục, bên hữu là chữ nhiêm [Đởm       ], đổi dùng chữ phủ [       ]. Có ba chữ Khang, Khoát, Thuần, khi đọc thì đọc tránh đi, khi làm văn thì thêm bộ xuyên lên đầu

[                      ]. Ngoài ra những chữ đồng âm, lúc làm văn đều không cấm. Duy tên các thánh triều trước, năm tháng xa lâu, gián hoặc có kẻ lầm lấy đặt tên gọi, rất là không kính, thì chuẩn cho phàm quan dân, từ trước như có lầm dùng chữ huý đặt tên, tức thì nên đổi, từ nay về sau không được tái phạm. Đến như làm văn thì những chữ đồng âm không ở lệ cấm. Một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ kim

[Kim       ], một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ hoàng  [Hoàng       ], một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ nguyên [Nguyên       ], một chữ bên tả là chữ thuỷ bên hữu là chữ lan [Lan        ],một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ tần [Tần       ], một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ thái [Thái      ],((1) Các sách khác đều chép là Trăn (       )1) một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ chu [Chu      ] ; một chữ bên tả là chữ thuỷ, bên hữu là chữ thụ [Thụ       ].

      Đổi huyện Gia Định ở trấn Kinh Bắc làm huyện Gia Bình, huyện Yên Việt làm huyện Việt Yên.

      Sửa miếu công thần trung hưng, định thêm các lễ Trừ tịch, Chính đán, Đoan dương, ngày sóc, ngày vọng.

      Sai bọn biện lý Nội vụ phủ là Hồ Hữu Thẩm đến Quảng Nam và Quảng Ngãi hội với dinh thần trấn thần đặt mua đường cát. Khi Hữu Thẩm về, đem việc dân vui lòng nộp cho nhà nước, tâu lên. Vua hài lòng nói rằng : “Đường cát dân không thể ăn cho khỏi đói, mặc cho khỏi rét được mà người Tây thì ưa lắm. Từ nay về sau nên mua nhiều để đổi lấy hàng hoá của Tây. Đến như thóc gạo tơ bông, vải lụa, dân ta phải nhờ đấy mà sống, thì không thể đổi được”.

      Lấy Vệ úy vệ Tuyên võ là Lê Quốc Thái quản các đội Tam ngự Bảo biên ở thành Nam Vang.

Dinh Quảng Bình dựng miếu Hội đồng. Đào đất có nhiều xương khô, quan giám thành đem việc tâu lên. Vua thấy làm thương xót, sai cấp tiền để đem táng nơi khác, và tìm đất khác để làm miếu.

      Trấn thần Quảng Ngãi tâu nói : "Những sách Man phụ vào hai nguồn Bà Địa, Ba Tơ xiêu tán, không có người lĩnh trưng, xin tha thuế hai nguồn ấy". Vua y cho.

Triệu Ký lục Quảng Trị là Lê Đồng Lý về kinh. Vua thấy bộ Lại nhiều việc, quan thuộc còn thiếu, dụ cho Trịnh Hoài Đức đem Lý tiến lên. Bèn triệu về, rồi thăng làm thự Tham tri Lại bộ tham biện việc bộ.

      Lấy Cai bạ Bình Định là Vũ Xuân Cẩn làm Ký lục Quảng Trị. Vua dụ rằng : “Ngươi ở Bình Định 8 năm, chính sự mau chóng, trẫm vẫn để ý chọn. Mới rồi triệu về muốn bổ cho ở kinh. Nhưng dinh Quảng Trị đã điêu hao lắm, phiền ngươi vì trẫm vỗ về”.

      Xuân Cẩn tâu rằng : “Quảng Trị hộ khẩu tuy ít, mà việc cũng giống như dinh trấn khác, một mình thần sợ không làm xiết”. Vua bảo rằng : “Ngươi cứ đi đi, nếu có việc khó giải quyết thì làm sớ chạy trạm tâu lên”.

      Lấy Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Tường Vân thự Thượng thư Binh bộ, Hữu tham tri Binh bộ là Nguyễn Tăng Địch thự Thượng thư Công bộ. Rồi Địch chết, tặng Thượng thư Công bộ, cho 200 quan tiền và 2 cây gấm Tống.

Đặt đàn ân tự để tế những người chết về việc nhà nước.Vua bảo bộ Lễ rằng : “Nay các công thần khai quốc và trung hưng đều đã đặt nơi tế tự rồi. Duy nghĩ rằng nhà nước từ lúc khai sáng đến giờ, bề tôi và quân lính chết vì việc nước không phải ít mà họ tên vùi mất không được thăm viếng tế tự, rất đáng đau thương”. Bèn chuẩn định hằng năm lấy hai kỳ xuân thu, sau khi tế miếu công thần rồi, thì tế riêng những người chết về việc nước gọi là đàn Ân tự.

      Nhà sư ở nước Chân Lạp tên là Kế làm loạn. Kế lấy bùa chú làm mê hoặc dân phiên, người theo càng ngày càng đông, bèn họp đảng mưu loạn, tự xưng là Chiêu vương, lấn cướp các đạo thủ Quang Hoá, Quản Phong, Thuận Thành (thuộc trấn Phiên An). Dân Hán (Việt) sợ chạy tan cả. Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý nghe tin báo, tức thì sai Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý đem quân đi đánh. Lại báo cho vua Phiên phái uỷ An phủ (tên quan nước Chân Lạp) phủ Ba Cầu Nam (tên phủ nước Chân Lạp) là Tham Vi Đô Chân góp sức đánh bắt, Quang Lý không đánh được, Tham Vi Đô Chân lại bị giặc bắt, giặc càng hung hăng, giữ núi Ba Cầu Nam để hoành hành cướp bóc.

      Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã đến Gia Định, sai Hoàng Công Lý tiến đánh dẹp, gửi hịch cho nước Chân Lạp thêm quân để làm thế đánh hai mặt. Công Lý đánh nhau với giặc, giặc thua chạy, bèn dẫn quân về.

      Lấy Cai đội Nguyễn Tiến Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Cung võ, thự việc vệ uý.

      Vua dụ bầy tôi rằng : “Chính lệnh của nhà nước tất do sáu bộ, mà chức việc sáu bộ cũng nên nhất thể thông nhau thì trăm việc mới làm được. Từ nay về sau, những ngày ra chầu nghe chính, chính sự trong ngoài đã qua trẫm xét định rồi, các quan sáu bộ ai được vào hầu đều nên ghi lấy, thì chính thể biết đủ cũng có ích thêm. Đó là khuôn phép giữ chức làm việc vậy”.

      Định ngạch tượng binh cho ba vệ Thị tượng (voi ngự một con thì 20 người lính, ngoài ra thì voi đực 10 người, voi cái 5 người, có thiếu ngạch thì mộ dân sung vào).

      Bộ Hình tâu dâng án thu thẩm. Vua thân tự xét xử phần nhiều giảm nhẹ và hành hình.

      Ngày Bính tý dựng cung Từ Thọ (cung ở phía tây cấm thành). Sai thự Tiền quân là Trần Văn Năng trông công việc. Dụ rằng : “Nay bệnh dịch lưu hành, đáng nên để cho quân dân nghỉ ngơi, đình bãi các công tác. Duy việc dựng cung Từ Thọ là việc không thể hoãn được. Ngươi nên hiểu dụ cho quân nhân biết ý bất đắc dĩ của trẫm”.

      Trấn thần Nghệ An tâu nói : “Dân trong hạt xiêu tán cộng 63 xã thôn. Gần đây đã dần dần có người trở về 10 phần được 1, 2 phần. Nay nếu bắt riết điền thế lính trốn thì sợ dân lại tản đi, xin hãy đình hoãn”. Vua y cho.

      Gọi lính hai cơ Thanh thuận, An thuận cho đi thú ở Gia Định.

      Năm trước Lê Văn Duyệt đi kinh lược miền Thanh, Nghệ, những phạm trốn ra thú có hơn 900 người biên bổ làm lính, người quân ở Thanh Hoa thì gọi là cơ Thanh thuận, người quán ở Nghệ An thì gọi là cơ An thuận, đều cho theo trấn thần sai phái. Đến khi nghe tin đi thú, nhiều người bỏ trốn, chỉ còn hơn 500 người mà thôi.

      Bổ 20 người ở Nội hàn ty làm thư tả ở Văn thư phòng chia làm ba phiên ứng trực, cấp cho lương tháng để theo làm việc công ở ba viện Thị thư, Thị hàn và Hàn lâm.

      Vua dụ bộ Lại rằng : “Văn thư phòng là nơi khu mật của nhà nước, không phải người dự việc, cấm không được vào”.

      Vua Thanh băng ở Loan Dương, Thái tử là Miên Ninh lên ngôi, lấy năm sau là năm Đạo Quang thứ 1 [1821].

      Vua bàn sắp đi tuần miền Bắc. Dụ cho từ Quảng Đức trở ra đến Bắc Thành, 35 sở dịch trạm thì sáu sở (Thượng Xá, Trấn Ninh, Dũng Quyết, Đa Giá, Lam Cầu, Hoàng Mai) gần lỵ sở dinh trấn thì nghỉ lại ở hành cung, ngoài ra đều y theo thức của bộ Công gửi cho, sang xuân phải dựng 16 sở nghỉ trưa (Thượng An, An Lạc, Thượng Lập, Thạch Giá, Bồ Khê, Thần Đầu, Hữu Lạc, Đan Chế, Kim Khê, Tây Luỹ, Khoa Trường, Thái Lai, Trịnh Sơn, Cổ Du, An Phú, An Khoái), đều cấp tiền 180 quan, và 13 sở nghỉ đêm (Mỹ Xuyên, Cao Xá, Đặng Lộc, Đông Cao, An Lộc, Lỗi Sa, Thạch Khê, Độ Liêu, Hương ái, Quỳnh Hoa, Liên Xá, Cao Lũng, Hà Hồi), đều cấp tiền 200 quan. Dụ rằng : “Đặt hành cung để phòng lúc dừng chân, nên làm bằng gỗ tạp và cỏ tranh, cần tiết kiệm, không chuộng mỹ quan, đến như cầu cống đường sá có chỗ nào vỡ lở hư nát thì sửa lại, cũng bất tất phải làm cao rộng”.

      Dựng các điện đường hành cung ở Bắc Thành, và sứ quán ở Kinh Bắc, Lạng Sơn (hành cung Bắc Thành, trước điện Kính Thiên dựng điện Thị triều, điện Cần Chính, đều lợp ngói cả. Ngoài năm cửa làm liền một dãy hành lang dài, trước mặt là cửa Chu Tước. ở bờ nam sông Nhị Hà đặt nhà tiếp sứ lợp ngói ; bờ bắc sông Nhị Hà, các trạm từ sứ quán Gia Quất đến Lạng Sơn, cộng 7 sở, ở chính giữa đều dựng một nhà ngói, còn các toà nhà ở trước sau tả hữu đều dùng gỗ tạp lợp cỏ tranh). Sai thành thần chia cắt các trấn làm. Cấp tiền vật liệu làm hành cung và nhà tiếp sứ, ở bến sông là 15.200 quan.

      Tháng 8, định rõ thêm lệ thứ tự lương điền khẩu phần cho các dinh vệ đội Thị trung và Thị nội. (Thị trung, 10 đội túc trực, dinh Thần cơ, dinh Tiền phong, dinh Long võ, dinh Hổ oai quân Thị nội các đội Tiểu sai, các đội Thị trà, đội Tả vệ, đội Hữu vệ, đội Hoàng kiếm, đội Ngân súng, đội Thị nghi, đội Bả cái, vệ Phấn dực Nội thuỷ, các vệ Thị tượng, các đội Dực vũ, đội Nội mã, đội Tả mã, đội Hữu mã các đội Tiểu hầu, đội Bả lệnh, vệ Kỳ võ, vệ Thành võ, vệ Trinh võ, đội Thượng thiện các đội Tư thiện, đội Trung cần, đội Tân nhất. Những người các dinh vệ đội kể trên đều dược 9 phần khẩu phần và một mẫu lương điền. Về ngôi thứ đều lấy đầu quân trước sau làm thứ tự. Nếu vệ đội nào có đội trưởng, suất thập quyền sai hiện có sổ ngạch, thì không kể là Thị trung Thị nội hay các quân dinh, ngôi thứ đều ở trên binh đinh).

      Bầy tôi dâng biểu xin tôn Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu. Biểu nói : “Lời dạy của thánh nhân, lòng yêu bắt đầu từ người thân. Từ xưa đế vương nối nhau, ai cũng suy tôn người sinh ra mình, để nêu đạo hiếu cho dân, mà lấy giáo hoá dóng giả thiên hạ. Hoàng thượng ta nhận cơ nghiệp lớn nắm cả quyền cương, giữ ngay cỗi gốc muôn loài, để làm tiêu chuẩn cho bốn phương, lễ nên kính dâng tôn hiệu Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu, để xứng lòng hiếu của cửu trùng, thoả lòng vui vẻ của thiên hạ”.

      Vua đem biểu dâng lên. Từ cung dụ rằng : “Ta xem biểu văn đã biết lòng thành của Hoàng đế và các quan rồi. Nhưng ta nghĩ, Tiên đế ninh lăng chưa được bao lâu, ta còn thấy ăn ngủ chưa ngon. Lại nay trời làm dịch lệ quan dân phần nhiều ốm đau, ta thấy Hoàng đế lo lắng siêng nắng sớm trưa không yên như thế, lòng ta thương xót không biết chừng nào. Tuy tai lệ ấy, vị tất là bởi nhà vua kém đức mà nên nỗi thế, nhưng người có thiên hạ phải chịu trách nhiệm về thiên hạ mới phải. Vậy thì ta được thiên hạ phụng dưỡng, ta lo về sự lo của thiên hạ cũng là phải. Ta xin các lão tiên sinh cùng một đức, dốc một lòng giúp đỡ Hoàng đế những điều không biết tới để hồi lại ý trời, để cho dân vui sống thì ta vui mừng lắm. Còn tờ biểu xin tôn sùng bất tất cử hành”.

      Vua đem ra để dụ bầy tôi rằng : “Thánh từ đã dụ cặn kẽ như thế, trẫm cũng không dám trái ý mà xin cho nhàm. Việc xin đó từ từ mới được”.

      Cho Chưởng Tiền quân Nguyễn Hoàng Đức, Chưởng dinh Hồ Văn Lân, Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm, Phó tướng Vũ Văn Lượng, Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc được liệt thờ ở miếu Trung hưng công thần. Bọn Nguyễn Hoàng Đức giúp đỡ việc trung hưng, đều có công lao rõ rệt, đình thần tâu xin liệt thờ ở miếu. Cho nên có mệnh này.

      Bộ Hộ hạch tâu rằng các trấn ở Bắc Thành năm ngoái thanh tra tiền lương, các quan lại tổng lý để thiếu đáng phải truất phạt hơn 200 người. Vua cho là việc ấy ở trước khi ân xá nên miễn cho.

      Sư Kế nước Chân Lạp cướp phủ Thời Thu. Quan Phiên là Vị Bôn Lịch bị thua chết. Tham Đích Tây, Kế Luyện, Na Côn đều làm phản theo giặc. Quân giặc tiến sát đến thành Nam Vang. Có thư của vua Phiên cáo cấp. Lê Văn Duyệt sai Đô thống chế Nguyễn Văn Trí và Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thuỵ đem hơn 1.000 quân đến cứu viện. Lại sai Chưởng cơ Phan Công Nghĩa, Vệ uý Lê Kim Nhượng, Cai cơ Trần Văn Hạnh, Nguyễn Văn Tuyết đem thêm quân đến để tiếp ứng.

      Đặt nhà binh xá cho các đội Trung hầu, Nội hầu, Tôn thất, Tả hầu, Hữu hầu, Trung hầu nhất cùng các đội Thị nội ở bên tả bên hữu hoàng thành.

      Định lệ phê chuẩn sổ tâu và đơn tâu của bộ Binh. (Phàm ngạch tâu ở chỗ viết niên hiệu thì phê điền ngày, dùng ấn “Binh ty khu mật” như lệ cũ, duy dưới chữ “nhật” thì viết chữ “đề” cùng những chữ “mỗ nguyệt nhật, thần mỗ, phụng chỉ chuẩn vi bằng khâm thử”(1(1) Ngày tháng nào, thần là Mỗ phụng chỉ chuẩn làm bằng. Phải kính theo đấy.). Bộ Binh hội sửa sách tâu, rồi đưa đóng ấn kim bảo. Phàm đơn tâu thì dưới chữ “nhật” đề bộ nào phụng chỉ chuẩn y lời tâu. Bộ Binh biết rồi, có đóng ấn “Ngự tiền kim bảo” và dấu kiềm, thì bộ Binh giữ bản có chữ đỏ, rồi sức sao lục. Sau đơn viết những chữ “Binh bộ đường đằng lục khâm dụng bộ ấn chấp chiếu((2) Bộ Binh chép lại, kính dùng ấn của bộ và giữ để xét làm bằng.2).

      Đặt Điển tịch (trật Tòng thất phẩm) và Phó điển tịch (trật Chánh bát phẩm) hiệu Lễ sinh ở Văn Miếu, mỗi chức một người.

      Bãi công tác dựng kho ở Quảng Trị. Trước là vua sai Vệ uý Tống Văn Sở trông coi công việc, dụ rằng : “Dựng kho tàng bất đắc dĩ phải dùng sức dân, nên khéo sai khiến, chớ có thúc giục hà khắc mà gây oán thù”. Hơn một tháng gặp bệnh dịch phát, bèn thôi.

Hoãn bắt lính thiếu ở trong kinh và ở ngoài.

      Vua dụ bầy tôi rằng : “Gần đây lệ khí lan tràn từ Gia Định trở ra đến Quảng Bình nhiều người ốm chết, trẫm nghe thấy rất lấy làm thương. Phàm lính là để giữ nước, vẫn không thể thiếu được, mà đạo nuôi dân cũng nên rộng rãi. Vậy thông dụ cho ở Kinh và các thành dinh trấn phàm việc sung điền binh đinh trốn và chết đều hoãn lại, đợi sau khi lệ khí yên rồi sẽ bắt cũng chưa muộn”.

      Hữu Tham tri Lễ bộ là Nguyễn Du chết. Du là người Nghệ An rộng học giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì. Vua từng dụ rằng : “Nhà nước dùng người, duy có tài là dùng, vốn không có coi nam bắc khác nhau. Khanh cùng Ngô Vị đã được tri ngộ làm quan đến chức á khanh, nên điều gì biết thì nói ra hết, dâng điều hay sửa điều dở, để hết chức mình. Sao cứ rụt rè sợ hãi, chỉ việc vâng dạ !”. Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa đi thì chết. Vua thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền.

Nước Xiêm La sai sứ là bọn Phi Nhã Tiệp Cô Sỹ đến dâng lễ tiến hương và lễ khánh hạ.

      Sứ đến trấn Hà Tiên, trấn thần là Mạc Công Du đòi xem bản thảo quốc thư. Sứ giả không cho xem. Công văn lại nhiều chỗ không hợp lễ (công văn xưng Phật vương là trưởng giả, vật tặng biếu là đồ đạc sức vàng, hộp trầu vàng, ống nhổ vàng, ống điếu vàng, đều là những vật nước Xiêm thưởng cho bề tôi. Lại sai sứ giả mang 10 cân bạc đến để bố thí, đều không phải lệ sứ trước từng có). Công Du hỏi vặn sứ giả, không thể khuất phục được, đem việc ấy báo thành Gia Định, Lê Văn Duyệt dâng sớ nói : “Người Xiêm muốn trịch thượng, nhận lấy thì mất thể diện, khước đi thì mất tình hoà hảo”.

Vua đem hỏi bầy tôi. Nguyễn Đức Xuyên nói rằng : “Mọi rợ vô lễ, không gì bằng khước đi, nếu không hoà thì chỉ có đánh thôi, không nên để cho người ta khinh”. Nguyễn Văn Nhân, Lê Chất cũng cho Đức Xuyên nói là phải. Lê Bá Phẩm nói rằng : “Nó thực có ý khinh ta, thì khước đi là phải, nếu lại xuất ư vô tâm thì chẳng tổn thương hoà khí sao ?”.

Vua nói rằng : “Lê Bá Phẩm đáng gọi là biết lo xa. Nhưng ta với nước Xiêm là nước ngang hàng, há nên để cho họ khinh ! Trẫm tưởng Lê Văn Duyệt là người lão thành, tất có cách để xử lý việc này”. Bèn sai trung sứ dụ Duyệt cứ lấy tiện nghi mà xử trí, đừng để mất quốc thể.

      Rồi sứ giả đến Gia Định, đưa quốc thư ra, không khác gì lệ thường. Hỏi trước vì cớ gì lại không cho xem bản sao lục. Sứ giả nói là chưa am hiểu thể lệ, không phải dám cố chấp đâu. Duyệt nhân hỏi về việc công văn không hợp lệ. Sứ giả nói : Gọi Phật vương là trưởng giả là bởi Phật Lăng gọi như thế. Đồ đạc sức vàng đều là những đồ Phật vương quý chuộng nên đem tặng. Đến như việc đem bạc để làm phước là theo tục nước như thế.

Duyệt bảo rằng : “Đưa bạc để làm phước, không phải là để điếu tang, sứ giả nên cất vào tư trang. Tặng vật cũng không xứng đáng, để đợi trả lại”. Rồi gửi thư cho Phật Lăng, trách là trái lễ. Sứ giả nhất nhất nghe theo, không dám trái điều gì. Duyệt làm sớ đem việc tâu lên. Vua cười bảo bầy tôi rằng : “Sứ Xiêm trước như là xấc láo kiêu ngạo, nay lại khuất phục chừng nào. Sách truyện Luận ngữ có nói : “Đi sứ bốn phương, đừng để nhục mệnh của vua”. Chỉ những người hiền nhân quân tử trung thần liệt sĩ mới hay như thế, chứ không thể nói về người bậc giữa trở xuống được. Xem như sứ thần nước ta, trước kia trẫm thấy Bùi Đức Mân ngày thường là người cứng cáp quả quyết, không chịu khuất, vả xưa từng đi sứ nước Xiêm ; lại từng làm Tham tri Lễ bộ thì về lễ giao lân đã quen biết lắm, ý hẳn đi sứ là xứng đáng. Vậy mà khi đi sứ nước Xiêm, chẳng nghe thấy có ứng đối được câu gì. Đến như vua Xiêm muốn đem bạc đến nước ta bố thí để cho dân tranh cướp nhau mà gọi là làm phước, thì bằng cứ ở lễ nào, mà cũng cúi đầu nghe theo. Vả lại dâng biểu nói là vua Xiêm hậu đãi, xét việc ấy thì chẳng qua ngày nay một bữa yến, ngày mai một bữa yến mà thôi. Thế thì gọi là hậu há chẳng phải là lời tô điểm chăng ? Trẫm ngờ Đức Mân ngày ở Xiêm bị khuất phục nhiều lắm. Nay sứ Xiêm đến, lại hay kính thuận, nếu không thế thì Bùi Đức Mân há chẳng là gây mối ác sao !” Bèn sai truyền dụ cho Lê Văn Duyệt sai người đưa sứ giả đến Kinh. Khi sứ giả đến, vua cho ngồi, yên ủi hỏi han, muốn may cho áo trở. Sứ giả nói ở nước đã có may sẵn (áo đơn ngắn vải trắng, trên hai cánh tay đều có một chỗ phụ thêm sắc vàng nhạt, xiêm dùng sắc lốm đốm), bèn thôi không may nữa. Lễ tiến hương xong, cho rất hậu rồi bảo về. (Tặng Phật vương 50 lạng vàng tốt, 600 lạng bạc ; cho sứ thần 500 lạng bạc).

Sai Thượng thư Binh bộ Nguyễn Tường Vân trông coi việc duyệt tuyển ở Bắc Thành. Tường Vân đến thành, vì có dịch lệ xin hoãn. Vua y cho.

Chưởng cơ thự phó đô thống chế Hậu dinh là Nguyễn Văn Mẫn chết. Vua cho hai cây gấm Tống, 10 tấm vải, 20 cân sáp ong, 300 cân dầu.

Ngày ất mùi, dựng bia thánh đức thần công ở lăng Thiên Thụ. Văn bia rằng : “Năm Giáp tuất, Gia Long thứ 13 (1814) sắc dựng sơn lăng Thiên Thụ. Bên hữu là chỗ để Hoàng tỷ Cao hoàng hậu ta, bên tả là thọ lăng, khác huyệt mà cùng uynh, là lấy nghĩa càn khôn hợp đức. Kịp đến năm Kỷ mão thứ 18 [1819], tháng 12, ngày Đinh mùi, ngài băng, thánh thọ 58 tuổi, di chiếu cho thần nối ngôi Hoàng đế. Thần ở nhà Lương am ở bên. Mình giữ tang lễ thường, những lễ khâm liệm, nhất nhất tuân theo trị mệnh((1) Trị mệnh : mệnh lệnh truyền ra khi còn khoẻ mạnh gọi là trị mệnh, lúc ốm đau tinh thần rối loạn, thì gọi là loạn mệnh.1), xa cái đẹp gấm vóc, bỏ trang sức châu ngọc. Đến như sửa sang việc lớn((2) Việc lớn : việc tống táng.2), dẫu dùng hết của giàu trong bốn biển cũng chưa dám cho là nhiều. Năm nay là năm Canh thìn, tháng 4, ngày Tân sửu, làm lễ sơn lăng xong, nhìn cây tùng cây sam rườm rà, xem núi sông quanh quất, nghĩ đến công đức thần thánh, rõ rệt mở mang, cùng cực cao dày, sánh với trời đất, mà Hoàng đế, Chuyên Húc không phải chất bền như vàng đá, Ngu Thuấn, Đường Nghiêu kém tuổi thọ như Kiều Tùng((1) Một nghĩa là cây tùng cao dày dạn sương tuyết mà sống mãi. Một nghĩa là sống lâu như hai vị tiên là Vương tử Kiều và Xích Tùng tử.1). Phơ phất xa chơi, vin gào không kịp. Duy có thuật lại đức tốt, phô bày ánh sáng, dạy bảo đời sau mà để mãi không cùng, ngõ hầu tả được nỗi thương vô cùng, thư được lòng hiếu đầy đủ. Kính nhớ Thái tổ hoàng đế ta, gây nên vương nghiệp, các thánh nối dõi, trong hai trăm năm, ví như làm nhà mới đắp tường mà chưa lợp, như làm đồ gỗ còn mộc mà chưa sơn. Cho nên trời xanh soi người có đức, mà sinh được Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, Ngài vốn tư chất thông minh, làm nên chí khí anh hùng. Đương khi tuổi trẻ, gặp sự đau thương, mưu sự còn, ở chỗ mất. Thề ba mũi tên((2) Ngũ đại sử nói : Tấn vương lúc sắp chết, lấy ba cái tên nỏ, giao cho Trang tôn, bảo rằng : nước Lương là kẻ thù của ta, nước Yên thì ta dựng lên, và Khiết đan cũng là kẻ thù của ta, lấy ba cái nỏ này báo thù cho ta.2) để đuổi quân thù ; mặc một nhung y mà dẹp được loạn. Đương lúc cờ thuý ba tuần thú miền Nam, đường hoàng lộ có chỗ nguy hiểm. Tuy thuận và nghịch có khác nhau, nhưng ít với nhiều không thể địch. Chật vật trăm trận đánh, vụt ăn, vụt thua ; trằn trọc một góc trời, chợt được, chợt mất. Bèn gửi con tin cho nước Lãng Sa, nương tựa ở thành Vọng Các. Báo đen ẩn ở chỗ mây mù ; rồng thần nấp ở nơi vực thẳm. Tôi tớ cầm cương ngựa đi theo, vẫn nhớ nước Tấn ; phụ lão thấy uy nghi như cũ, ngày mong Hán quan. Lại nhóm họp những người trung lương, gióng xe đem quân về nước ; hoà rượu chia cùng binh sĩ, đội đá trước chịu nhọc nhằn. Mặc áo hồ cừu tuy rách nát, ba quân cùng được ơn ; ăn bữa cơm chiêm lúc vội vàng, trăm thua cũng không nhụt. Vì đức nhân đủ khắp muôn vật, lòng hiếu đủ cảm quỷ thần. Văn đủ khiến nhiều người theo ; võ đủ cho kẻ bạo sợ. Mưu người đã tốt, đạo trời giúp theo. Sông Tân Bình nước trong đủ một tuần ; bể Cần Giờ có nước ngọt buổi sáng. Dấu thần hiển ứng, nên nhiều việc hay. Tam linh((3) Tam linh : trời, đất, người.3) cùng giúp, lục khảm((4) Lục khảm : sáu chỗ hiểm.4) đều bằng. Cho nên hay bay qua mây đặc, vượt qua sông sâu, xăm xăm có thế mạnh không ai chống được. Thanh thế đến đâu, như sét vang gió lướt, lật đổ tổ chim diều, bắt hết bầy chim nhỏ. Giết kẻ thù không đội trời chung ; gây nghiệp lớn ở trong rối loạn. Đã làm rạng tỏ nước cũ khôi phục toàn cõi Việt này. Công thành trị định, sáng hơn đời xưa. Từ năm Giáp ngọ đến năm Nhâm tuất, trải qua 29 năm, bắc đến Lạng Sơn, nam đến Hà Tiên, đất mở 27 xứ. Đến khi điểm tô nghiệp lớn, chính mình gây dựng thái bình. Lễ nhạc hành chính đặt ra ; pháp độ điển chương đủ cả. Cung trường thọ vâng theo vui vẻ, bởi tình thân dạy đạo yêu người ; đức khôn nguyên mở giáo hoá ra, từ trong nhà kịp đến cả nước. Thông lễ sinh cả Tây lẫn Bắc, tình lân bang hữu hảo vững bền ; thương con cháu chúa Trịnh vua Lê, việc thờ tự triều trước không mất. Lâu ngày đánh dẹp, thu hiệu lớn lao, giữ nghiệp đã nên, hết tốt hết đẹp không sách vở nào thuật lại đủ được. Than ôi ! thịnh thay. Công đức của Hoàng khảo ta, nêu lên ở tai mắt người, như mặt trời mặt trăng không thể che được. Thần là con nhỏ, xin góp đại lược, khắc làm bia thánh đức thần công, để cho con cháu sau này đời đời chiêm ngưỡng, đều biết công gây dựng không dễ dàng và nhớ công gánh vác thực khó nhọc, để mà nương nhờ gìn giữ, ngõ hầu đáp được lời dạy của Hoàng khảo, mà kéo dài được cơ nghiệp tông xã ức muôn năm không cùng. Nay là năm Minh Mệnh thứ 1, tháng 7, ngày Bính thìn, kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài minh rằng :

      Duy trời xa thẳm, bày giúp hạ dân. Duy thánh là to, cứu vớt tai nạn. Sắc tía nhạc ca((1) Sắc tía, nhạc oa thanh : sắc tía không phải là sắc chính, oa thanh không phải là nhạc chính. Nói khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, cũng như là sắc có màu tía là gián sắc, nhạc có oa thanh là nhạc dâm, không phải là chính thống. ý nói Tây Sơn cũng như sắc tía, nhạc oa, không phải là chính.1) không phải chính mệnh. Trời bảo thánh nhân, làm hết nỗi giận. Quân vua đến đâu, như sấm như sét. Tội nhân bị bắt, vũ công làm nên. Khoảng mười tám năm, trị dân định nước. Công đức thịnh lớn, trước sau tốt đều. Thánh nhân qua đời, phép tắc còn để. Canh tường((2) Canh tường : đã chú thích ở trên.2) mơ thấy, quân thạch((3) Quân Thạch : sách Lễ ký nói về tháng trọng thu, phải sửa lại sự cân nhắc đo lường.3) cảm thương. Đoái trông núi Cảnh ((4), (5) Núi Cảnh : Kinh Thi có câu : “Trắc bỉ Cảnh sơn, tùng bách hoàn toàn”, nghĩa là : trèo lên núi Cảnh ấy, cây tùng cây bách thẳng tuột. Sông Phong : Kinh Thi có câu : “Phong thuỷ hữu dĩ, Vũ vương khởi bất sĩ, di quyết tôn mưu, dĩ yến dực tử”, nghĩa là : Sông Phong có cỏ dĩ, vua Vũ há không làm việc gì ? để mưu cho cháu, để giúp các con.4) tưởng nhớ sông Phong(5). Công đức khắc vào, dòng dõi nhớ mãi. Hưởng cho giữ cho, rỡ ràng đức sáng. Yên định Hoàng Việt, như trời không cùng”.

Nghệ An có bão.

Lấy cựu Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Trương Công Vĩ làm Ký lục Phiên An.

Đặt hai vệ Hộ lăng và ty Cung phụng sơn lăng (Vệ hộ lăng, Tiền vệ lấy lính các đội Phiên như, Tả nghi, Tân nhị ở cung Trường Thọ cũ sung bổ vào. Trung vệ thì lấy giản binh thuộc 11 xã thôn phường là Trúc Lâm, Long Hồ, An Ninh, Định Môn, Tứ Chính, An Bằng, Khê Xước, Kim Ngọc, Hải Cát, Cư Chính, Dương Xuân ở phụ cận sơn lăng sung bổ vào. Mỗi vệ một Vệ uý, một phó vệ uý. Ty Cung phụng, Lang trung Lễ bộ một người, quản lãnh nhân viên các tào để cung phụng, trật Chánh tứ phẩm. Thượng trà giám một người, giữ chè rượu, trầu cau, trật Chánh lục phẩm. Thượng thiện giám một người, giữ cỗ thờ và các thứ đồ ăn, trật Tòng lục phẩm, Tư vụ Lễ bộ 4 người, giữ các việc tán xướng, đọc chúc, xem xét lễ phẩm bài trí, đều cùng với Tư vụ và Tư khố của Nội vụ phủ giữ đồ thờ tự, trật Chánh bát phẩm, thư lại Lại bộ 2 người, giữ nhật ký, văn thư, trật Tòng cửu phẩm, Tư khố một người, cùng với Tư vụ Nội vụ phủ giữ đồ thờ tự và giữ chìa khoá, trật Tòng thất phẩm, Tư vụ Công bộ 2 người, giữ công việc sửa chữa, trông nom các sở trong ngoài, có chỗ nào nên tu bổ thì công việc nhỏ báo cho bộ bắt thợ tu bổ, công việc lớn thì báo cho bộ tâu lên để đợi chỉ, Tư vụ Nội vụ phủ 2 người, giữ đồ thờ tự, màn trướng, chiếu đệm, dầu nến, hương đèn, Tư vụ Vũ Khố 2 người, giữ đồ lỗ bộ, nghi trượng, giường phản, ghế bàn, rèm mành. Các tào cộng 15 người, đều cho mỗi người một bộ lễ phục).

Lấy Hàn lâm viện Nguyễn Doãn Kỷ làm Lang trung Lễ bộ, cung phụng các việc ở Sơn lăng.

Dinh thần Quảng Nam lấy cớ rằng trong cõi nhiều người bị bệnh dịch chết, tâu xin từ 9 tuổi trở xuống thì bớt lệ tiền tuất. Vua quở trách rằng : “Hết thảy trên đất nước đều là dân ta, khắp trong bốn biển đều là của ta, trẫm thấy trăm họ bị bệnh dịch, lo thương không xiết, há lấy cớ phải cấp nhiều tiền mà lại bàn giảm bớt đi ?”

Lại cho dịch trạm các dinh trấn lương 3 tháng. (Từ Quảng Đức trở vào nam đến Biên Hoà, ra bắc đến Sơn Nam thượng cộng 96 trạm, gạo 5.220 phương). Chánh thứ đội trưởng cấp lương tháng mỗi người 1 quan tiền 1 phương gạo, bắt đầu từ mồng 1 tháng này.

Lấy Chưởng cơ Trần Văn Thái thự coi ấn vụ Phó đô thống chế Hậu dinh.

Hiệp trấn Yên Quảng là Lê Văn Quyền chết.

Lấy Chưởng cơ Nguyễn Văn Thanh lĩnh Trấn thủ Yên Quảng, Thiêm sự Binh bộ là Lê Đạt Đức làm Hiệp trấn, Thiêm sự Công bộ Trần Văn Thông làm Hiệp trấn Cao Bằng. Khi bệ từ, vua dụ Nguyễn Văn Thanh rằng : “Công lao tài năng của ngươi vốn đã rõ rệt, được Hoàng khảo ta chọn dùng, nay uỷ cho ngươi trông coi phương diện, ngươi nên giữ mình trong sạch cẩn thận, chớ tự chuốc tội lỗi mà bỏ cả công việc mấy mươi năm trước. Pháp luật ba thước là của chung thiên hạ, nếu ngươi phạm pháp mà lấy tình tha thứ thì đối với phép còn ra sao ? Lấy phép mà trị thì đối với người huân cựu còn ra sao ? Nhưng tình là riêng, phép là công, trẫm sao dám lấy tình riêng mà bỏ phép công. Ngươi tuổi chưa đến tám mươi, phải cố gắng đấy”. Lại dụ Lê Đạt Đức và Trần Văn Thông rằng : “Bề tôi làm việc, nhầm lẫn thì có thể tha, tham nhũng thì không khoan thứ được. Bọn các ngươi phải gắng giữ mình trong sạch, chớ để mất danh dự”. Rồi Thanh chết, cho tiền tuất 200 quan.

Sai Phạm Đăng Hưng và Nguyễn Hữu Thận xét hạch các ty Tả hữu lệnh sử, người nào văn học, chữ viết, tính toán vào hạng ưu, thì bổ làm thư lại ở sáu bộ, vào hạng thứ thì sung làm văn hàn ở phủ hoàng tử ; người nào không đến hạch thì thải đi.

      Lấy Phó vệ uý vệ Cường võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Biện làm Vệ uý, Cai đội Trần Đức Cung làm Phó vệ uý, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả là Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ uý, Cai cơ Đỗ Văn Thịnh làm Phó vệ uý, Phó vệ uý vệ Oai võ là Nguyễn Cửu Lợi làm thự Vệ uý vệ Dương võ.

Kinh sư mưa lụt to.

Lấy Tri bạ Hồ Hữu Thẩm và Nguyễn Công Khiêm làm Thiêm sự Hộ bộ, vẫn biện lý công việc Nội vụ phủ, Trần Đăng Nghi làm Thiêm sự Công bộ, tham biện công việc Vũ Khố.

Sai nguyên thủ các nguồn Đồng Hương, Đồng Nãi, Nha Trang ở Bình Hoà mộ lính đặt hai đội Giao Lâm và Bình Lâm để phòng giữ người Man núi.

Sai Vệ uý Nguyễn Văn Quyền kiêm quân mười đội Túc trực, Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản hai đội Trường trực và Thường trực.

Lấy Vệ uý vệ Hậu nhất quân Thị trung là Tôn Thất Trinh làm Quản phủ Hà Trung. Trinh lấy cớ ít tuổi từ chối. Vua dụ rằng : “Về việc quân dân thì đã có Tri phủ ; ngươi chỉ chuyên việc ngăn giữ trộm cướp và trông coi người công tính mà thôi, hà tất từ chối”. Trinh đến Hà Trung, vài tháng rồi chết, cấp tuất 100 lạng bạc.

Cấm từ nay về sau, kinh binh và hạng biệt tính không được mộ dân tứ trực((1) Tứ trực : Nam trực là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bắc trực là Quảng Trị, Quảng Bình.1) sung bổ. Vua thấy dân nhiều người tránh chỗ nọ đến chỗ kia ít đăng vào sổ đinh, cho nên cấm. Những người nguyên mộ từ tháng giêng năm nay về sau, gián hoặc có người trốn tránh thì chuẩn cho trong 1 năm phải hồi ngạch. Lại dụ bộ Binh rằng : “Quân lính có phép thay phiên để chia đều khó nhọc và nhàn rỗi. Gần đây nghe những quản quân phần nhiều sai quân nhân làm việc riêng, người hết phiên được về mà còn giữ lại 5, 3 ngày, người tới phiên thì bắt đến sớm 2, 3 ngày, hoặc mượn cớ bù số mà giữ lại không cho về. Đấy đều là những luật lệ cấm cả, nên nghiêm chặn đi”.

Lấy Trương Văn Kế làm Vệ uý Tiền vệ dinh Thần cơ quân Thị nội, Cai đội Lê Văn Trương làm Phó vệ uý Trung vệ dinh Long võ. Đều cho triều phục. Bọn Kế vào tạ. Vua quay bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Xưa kia Hiếu Võ hoàng đế((2) Hiếu Võ hoàng đế là Nguyễn Phước Khoát.2), chế áo mũ, trên chỗ điện đình trang nghiêm rầm rập, rất hợp lễ đời xưa. Gần đây muốn cho tiện đi lại, khi ra mắt thường không dùng triều phục, trẫm đương muốn lại theo chế độ đời xưa mà chưa làm được”. Lại nói : “Trước trẫm hầu Tiên đế, bỏ giày lên thềm, đi chân không, đứng lâu, hoặc có khi hai chân đến tê dại. Trẫm tuổi trẻ còn thế, huống các đại thần đều già yếu”. Hoài Đức nhân tâu nói : “Tiên đế trước cho bầy tôi đều được đi giày vào chầu, đến ngoài cửa cung thì thôi. Nhưng mưa lâu thì từ cửa Đoan Môn vào trong không thể đi giày được, bước đi hơi khó thôi”.

      Vua bèn sai các quân xây tường gạch từ cửa Đoan Môn đến cửa Túc Môn.

      Hoãn việc làm cầu Lý Hoà ở Quảng Bình. Cầu ở đường cái quan, lâu năm gỗ hư, vua sai dinh thần sửa sang để phòng khi tuần du. Vừa gặp mưa lụt và dịch lệ nên hoãn lại.

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển V

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

       Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa thu, tháng 9. Định lệ triều tham. Vua từng ra chầu sớm, bầy tôi nhiều người chưa đến, bèn xuống dụ rằng : “Trẫm mới nối ngôi làm việc, muốn cùng các quan lớn nhỏ, sớm hôm đều siêng năng để mong thịnh trị. Các quan nên thể tất ý ấy cùng khuyến khích nhau. Từ nay trở đi, buổi sớm, giọt đồng hồ đến ba điểm thì Văn từ Thiêm sự cùng Nội vụ phủ và Vũ Khố từ ngũ phẩm trở lên, Võ từ Thị vệ, Phó vệ uý và Vệ uý Tượng quân, Thuỷ quân trở lên, đều họp ở Tả vu chực để chầu hầu. Chiều thì đến giọt đồng hồ tám điểm. Cùng ngày công đồng hội nghị thì mỗi nha đều 1 người chực hầu. Làm trái có tội”.

Lại bảo bầy tôi rằng : “Xưa kia Hoàng khảo ta lấy tư chất thông minh, sáng suốt đặc biệt, còn phải dậy sớm ăn muộn, chính sự lớn nhỏ còn phải thân hành xét định. Nay trẫm mới nhận gánh công việc khó khăn to lớn, sớm hôm lo lắng siêng năng, chỉ sợ không làm kịp, có dám say mê vui chơi đâu. Gần đây có người dâng lời, khuyên trẫm mọi việc giao cho bầy tôi, rủ áo chắp tay, ngồi không làm gì để bắt chước lối trị nước đời xưa. Trẫm đã nghĩ mà có điều chưa hiểu, có lẽ nào mà việc gì cũng bỏ đấy, chỉ rủ áo chắp tay mà cầu lấy cái tiếng vô vi sao !”.

Trịnh Hoài Đức tâu rằng : “Đời xưa gọi là vô vi, nghĩa là không thấy dấu vết làm việc thôi, chứ theo lẽ của thiên hạ thì không khó nhọc sao có rỗi được. Cho nên muốn được vô vi (không làm), thì phải hữu vi (có làm), trước đã. Người dâng thư kia chỉ dẫn câu thành ngữ của sách xưa mà nói thôi”.

Lấy Cai cơ Phạm Văn Toản làm Phó vệ uý vệ Trang võ Tiền dinh quân Thần sách.

Vua thấy đất Nghệ An là nơi núi và biển giăng liền, thường có nhiều cướp, sai trấn thần xem đất đặt bảo để phòng bị cho nghiêm. Trấn thần mới xin đặt ba bảo ở Điệp Phụ (Cồn điệp), núi Trúc Viên và núi Hiếu Nghĩa, mỗi bảo chọn giao cho một Vệ uý và 100 biền binh đóng giữ. Lại cấp thêm lính cho ba bảo Tam Lễ, Hoàng Mai và Yêu ủng mỗi bảo đủ 50 người. Vua theo lời xin.

Thuyền vận tải của Sơn Nam hạ bị gió lật chìm. Vua nghe tin nói rằng : “Việc ấy không phải sức người chống được, vậy đồ vật và lương tiền của nhà nước đã mất đều miễn cả”.

Sai sứ sang nước Thanh. Lấy Hữu Tham tri Lại bộ là Ngô Vị sung Chánh sứ, Thiêm sự Hình bộ Trần Bá Kiên, Hàn lâm Thị độc học sĩ Hoàng Văn Thịnh sung giáp ất Phó sứ ; sai thự Tham tri Binh bộ là Trịnh Hiến làm Chánh hậu mệnh, Ký lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán làm Phó hậu mệnh, đến cửa ải Lạng Sơn thù ứng việc đi sứ. Vị đến cửa ải, dâng biểu nói : “Việc nước đã đạt, sứ kỳ đã gần, xin đem công văn và vật thổ sản đưa tặng đốc phủ Lưỡng Quảng”.

Vua bảo rằng : “Làm bề tôi không có phép được giao thiệp với nước ngoài, Hội điển nói rất rõ ràng. Đốc phủ Lưỡng Quảng phỏng có hậu với ta, nhưng sao lại giao thiệp riêng để phạm phép ?”. Cuối cùng không cho.

Định lệ quan viên được thăng điệu vào yết kiến. Vua dụ bộ Lại rằng : “Gần đây những người ở ngoài được cất nhắc chỉ bằng cứ ở sách tâu và xét lý lịch. Trẫm muốn nhất nhất được thấy để ngụ ý biệt đãi và khuyến khích. Vậy từ nay trở đi, các thành dinh trấn, văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp, võ từ Thống quản thập cơ đến Phó vệ uý, có ai được thăng điệu, đều cho đến Kinh, do bộ Lại, bộ Binh dẫn vào yết kiến. Nếu số người nhiều không thể nhất tề đến Kinh được thì chia ra hai ba đợt, cốt trong năm ấy dẫn vào yết kiến là được”.

Bàn lễ ngày kỵ các miếu.

Vua bảo bộ Lễ rằng : “Cổ lễ nói rằng có tang thì không tế. Lại nói người quân tử có cái tang suốt đời, tức là nói ngày kỵ. Thế thì biết kỵ không phải là cát tế. Vậy từ nay về sau, gặp ngày kỵ các miếu thì nên thế nào ?” Bọn Phạm Đăng Hưng xin vua mặc lễ phục mà thân hành tế. Vua nghe theo.

Tặng cha Lê Văn Duyệt là Chưởng cơ Lê Văn Toại làm Thống chế. Trước đây Toại ốm chết, Duyệt nghĩ rằng đương có tang, không dám chế tang phục, xin mệnh ở triều. Bộ Lễ tâu : “Sách Lễ ký nói : Mình có mặc tang phục để tang vua thì không dám mặc tang phục riêng. Lại nói : Đám tang vua đã bắt đầu mà bề tôi có tang cha mẹ thì về khóc xong rồi trở lại đi đưa tang vua. Thế đủ biết là bề tôi có tang vua mà sau gặp tang cha mẹ thì vẫn mặc tang phục để tang vua”.

Vua cho rằng lễ là theo tình người, đặc cách cho Duyệt may áo sổ gấu để tang cha, táng tế xong, trở lại phục tang vua. Cho thêm Toại 9 cây gấm đoạn, 150 lạng bạc, 2.000 quan tiền. Sai quan dụ tế. Lại ra lệnh cho Tham tri Hộ tào Nguyễn Xuân Thục đem 300 lính hộ việc tang.

Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu. Trước kia vua Chân Lạp là Chăn dâng biểu xin đến cửa quyết chầu hầu. Vua cho 150 người quan phiên đi theo. Chăn đến Gia Định thì xưng có bệnh. Vua biết tình ý, xuống chiếu khiến cho về nước. Chăn bèn tâu sai bọn ốc Nha Chiết Luyện, Phì Mục, Mân Tri Mạt đến Kinh dâng lễ tiến hương và lễ khánh hạ. Vua y cho. (Lễ tiến hương : Sáp ong 500 cân, vải trắng 300 tấm. Lễ khánh hạ : Bạch đậu khấu, cánh kiến, sáp ong, mỗi thứ 55 cân, ngà voi 2 đôi, sừng tê 2 cỗ, (sơn 10 vò). Khi đến, vua cho vào yết kiến, yên ủi hỏi han. Sai chế khăn áo vải trắng cấp cho. Nhân lễ điện lớn, làm lễ tiến hương, lễ xong, cho rất hậu rồi bảo về. (Lệ thưởng vua Chân Lạp gấm Tống 10 cây, trừu nam, sa nam, lụa bắc mỗi thứ 20 tấm, vải đen, vải trắng mỗi thứ 40 tấm. Thưởng thêm 2 cây thiểm kim (vàng nhấp nhánh) và 2 cây gián kim (lẫn vàng), 2 tấm đoạn lông mầu đỏ, 4 tấm đoạn lông màu lam. Lệ thưởng sứ Chân Lạp, hai người ốc Nha, mỗi người 30 lạng bạc và 10 quan tiền, thông ngôn 10 lạng bạc và 5 quan tiền, quân đi theo mỗi người 2 lạng bạc và 2 quan tiền. Thưởng thêm cho Chánh sứ 1 bộ đồ chè bịt vàng, 3 tấm trừu hoa, 1 tấm lụa, cho Phó sứ 1 bộ đồ chè bịt bạc, 2 tấm trừu nam hoa, 1 tấm lụa ; cho thông ngôn trừu nam hoa, lĩnh nam đen, mỗi thứ 1 tấm. Lại ân tứ cho hai người sứ thần hai cái áo chiến hai lớp bằng trừu màu lam, hai cái áo ngắn hẹp tay bằng trừu lam lót lụa, hai bức chăn trừu lam lót lụa, hai cái áo tràng vạt bằng vải trắng, hai bức khăn vải trắng ; cho thông ngôn một cái áo chiến bằng sa xanh lót vải, một cái áo ngắn hẹp tay bằng sa tanh lót lụa ; cho 7 người đi theo mỗi người một cái áo chiến bằng vải xanh lót vải trắng).

Lại gửi cho Phiên vương tờ sắc thư rằng : “Quốc vương Chân Lạp Chăn, nhà ngươi đời làm thần thuộc, kính giữ chức cống, sợ mệnh trời thờ nước lớn, một niềm kính thuận, cho nên khi trẫm mới lên ngôi, vương sai sứ đến lạy chầu ngay. Xét lòng thành thực ấy, thật là đáng khen, và gia thưởng các vật gấm đoạn. Vương được nhờ vinh quang ấy, phải kính sợ thêm, vỗ yên quan dân của ngươi, để cho vững mạnh phên giậu của ta mà giữ tiếng hay, chớ bỏ mệnh lệnh của trẫm”.

Vua bảo bọn Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Hữu Thận rằng : “Năm nay dịch lệ phát ra từ Hà Tiên, lan tới Bắc Hà, trước kia chưa có thế. May nhờ dân Nam Hà đã được thấm nhuần ơn nhân nghĩa của các thánh trước, cho nên phong tục thuần tốt, gặp tai nạn mà biến loạn không nổi. Dân Bắc Hà thấm nhuần đức hoá còn cạn, nay gặp tai vạ ấy, chưa biết tình trạng dân ngu xuẩn ra thế nào. Trẫm sớm đêm lo lắng, không thể thôi được, nên ngày gần đây xuống chiếu cầu lời nói thẳng, mà các khanh tuyệt không có một lời nào là tại làm sao ?”. Bọn Hoài Đức không thể đáp được. Nhân dụ từ Nghệ An ra Bắc chỉnh bị đồn trát cho nghiêm và thao diễn quân lính, để phòng xảy ra sự không ngờ.

Nguyễn Văn Trí và Nguyễn Văn Thuỵ đánh phá được sư Kế ở Nam Vang. Đầu là Kế đem hơn 30 chiếc binh thuyền tiến bức thành Nam Vang. Phiên vương muốn bỏ thành chạy. Vừa bọn Trí đến Châu Đốc, kịp chọn thuyền nhẹ mà tiến. Khi đến thành thì quân giặc đã qua đò sang Cổ Nha Chăn (tên đất) cách thành chỉ hơn 10 dặm. Trí tiến trước, Thuỵ tiếp ứng sau. Quan phiên là Chiêu Chuỳ Đồng Phù đem quân đi theo. Gặp giặc ở ỷ Hôn (tên đất), đánh phá được, chém giết rất nhiều. Bắt được 2 vị bôn (tên quan Chân Lạp) hàng theo giặc. Kế và bọn Tham Đích Tây đều chạy trốn. Quan quân đuổi theo, bắt chém hơn 400 người.

Quân của bọn Phan Công Nghĩa đóng ở Liêu Hiêu nghe giặc ở Bà Nam chiếm giữ chỗ hiểm, sai Quản đạo Tân Châu là Vũ Văn Sáng dẫn quân tiến lên, Sáng đánh thua, bị giặc giết chết. Nghĩa cùng bọnh Lê Kim Nhượng, Nguyễn Văn Tuyết kế đến, giặc bèn lui chạy. Đuổi theo tới Khu Trung, đánh phá được, lấy được đồ quân nhu khí giới. Đảng giặc nhiều người hàng. (Liêu Hiêu, Bà Nam, Khu Trung đều là tên đất).

ở Biên Hoà mưa lụt. Ruộng nương nhà cửa của dân đều ngập mất. Lê Văn Duyệt theo tiện nghi phát gạo kho 1.000 phương để chẩn cấp cho người đói. Vua nghe việc ấy, ra lệnh phát thêm 200 quan tiền và muối gạo, chia ra để chẩn cấp.

Vua nghe rằng những lại dịch từ Quảng Trị trở ra ngoài phần nhiều bớt xén tiền tuất, dụ rằng : “Gần đây lệ khí tràn lan, dân mắc hoạn nạn. Trẫm thương xót, nghĩ cách giữ yên cứu giúp, mới ra lệnh cho Hữu ty cấp cho thuốc thang tiền vải, đó là muốn cho dân ta người sống người chết đều được nhờ ơn. Các ngươi là quan lớn ở địa phương, được ký thác chăn dân, nên coi dân bị tai nạn như con, để lòng vỗ về cứu giúp, chớ để tư lại, tổng lý bám víu vào để làm gian, như thế mới vừa ý trẫm”.

Lấy Chưởng cơ Trần Văn Thái thự Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách, lĩnh Trấn thủ Sơn Tây. Vua dụ rằng : “Việc quân việc dân, khanh đã từng trải ; nay vào lúc tuổi già, coi giữ địa phương, nên lo vì nước hết trung, để đền đáp ơn hậu đãi”. Thái cúi đầu tạ, nhân xin lấy bộ khúc 14 người đi theo. Vua y cho.

Lấy Vệ uý Hậu nhất quân Thị trung là Văn Nguyên làm Vệ uý Thành võ quân Thị nội, Cai đội Phạm Văn Sỹ làm Phó vệ uý Hùng cự nhất thuộc Tượng quân, Hoàng Văn Trường làm Phó vệ uý vệ Hùng cự nhị.

Cho thêm hoàng tử, hoàng nữ tiền gạo hằng năm theo thứ bậc.

Cho người Thanh là bọn Lê Thắng Lợi về nước. Trước đây Thắng Lợi nhân đi việc công bị gió dạt đến cửa biển Nhật Lệ, vua thương, ra lệnh cho dinh Quảng Bình gia cấp tiền tuất mỗi người 10 quan. Đến nay cho về.

Phú Yên bị lụt, giá gạo cao. Sai bán thóc ra. Trấn thần tâu nói dân nghèo khổ lắm, xin cho vay. Vua y cho.

Ngày Bính tý, dựng điện Phước Thọ.

Định lệ quan văn quan võ chuyên cử người. Dụ rằng : “Tiến người hiền thì được thưởng, tiến người không hiền thì phải phạt, đó là phép thường của nước. Nay cả đình thần cùng cử một người đều ký tên tâu xin, nếu người ấy không xứng chức, thì lỗi quy cho ai ? Phàm người ta cho nhau là vì cùng loài, tài hạnh của văn thần thì võ thần khó biết, trí năng của võ thần thì văn thần cũng không dễ biết. Nếu người xướng cử mà tư vị, hoặc là không biết rõ mà cứ theo người ta đề cử thì há chẳng vì thế mà sai lầm sao ? Từ nay về sau, việc đình cử, văn giai thì do văn thần cử, võ giai thì do võ thần cử. Người chuyên cử chua tên rồi sau mới hội sớ tâu lên, không được hùa theo, để ngăn cái tệ cầu may và quá lạm”.

Lại sai bàn định phép chọn cất, một là làm việc lâu năm hạn bổng đã mãn, hai là tài nghệ có thể lấy được. Văn mà tham tang, võ mà sợ giặc, thì người cử phải tội.

Lấy Ký lục Quảng Đức là Nguyễn Văn Hưng làm thự Tham tri Hộ bộ, Thiêm sự Hộ bộ là Ngô Bá Nhân làm Ký lục Quảng Đức. Rồi Hưng lấy cớ sửa sang phần mộ, dâng biểu xin về. Vua quở trách rằng : “Nghĩa làm tôi, làm việc công phải quên việc riêng, làm việc nước phải quên việc nhà. Nay ngươi mới được cất nhắc, vội vã xin về, vậy không lo việc công sao ?”. Không cho về.

Triệu Phó quản cơ cơ Trung oai thuộc Hậu quân là Đỗ Văn Niệm về Kinh. Niệm giỏi võ nghệ, vua nghe tiếng, cho nên triệu về sai dạy cấm binh.

Phó tổng trấn Gia Định là Hoàng Công Lý tham lam trái phép, bị quân nhân tố cáo hơn mười việc. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua bảo Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng : “Không ngờ Công Lý quá đến thế, công trạng nó có gì bằng các khanh, duy nhờ Tiên đế cất nhắc, ngôi đến Phó tổng trấn, lộc nước ơn vua, thực không phải bạc, thế mà lại bóc lột tiểu dân, làm con mọt nước. Nay tuy dùng phép buộc tội, nhưng dân đã khốn khổ rồi”.

Sai đình thần hội bàn. Đều nói : “Công Lý bị người kiện, nếu triệu về Kinh để xét, tất phải đòi nhân chứng đến, không bằng để ở thành mà tra xét là tiện hơn”. Vua cho là phải, bèn hạ Công Lý xuống ngục, sai Thiêm sự Hình bộ Nguyễn Đình Thịnh đến hội với tào thần ở thành mà xét hỏi.

Lấy Tri bạ Nguyễn Công Liêu làm Thiêm sự Công bộ.

Hạ lệnh cho Vũ Viết Bảo, phàm các Nội hầu, Tiểu sai, Thị trà, nếu có sai khiến việc gì thì làm danh sách liệt tên dâng lên để đợi kén chọn. Dụ rằng : “Gần đây bọn ấy vâng lệnh sai đi, phần nhiều là lấy yêu ghét mà khen chê, hỏi tới tình trạng quan lại và nhân dân, đều không biết gì cả, vậy thì việc đi hỏi han giao cho bọn ấy sao được ! Từ nay về sau nên cẩn thận chọn người mà sai đi mới được”.

Sai từ Nghệ An trở ra dùng kẽm đúc tiền. Lại định lệnh cấm đúc trộm tiền. Đầu là vua sắc hỏi Lê Văn Phong rằng : “Tiền kẽm mới đúc dùng ở Bắc Thành thế nào ?” Phong tâu nói : “Dùng thì tiện, chỉ sợ có tệ đúc trộm thôi”. Vua cho là phải, dụ rằng : “Đúc tiền là để lợi cho việc dùng của dân. Nhà nước mới đúc tiền kẽm, từ Quảng Bình vào Nam, đều đã tiêu dùng. Duy từ Nghệ An ra Bắc vẫn dùng tiền đồng cũ, từ trước đến nay, ngày càng hao bớt, dân dùng không đủ. Vậy đặc chuẩn từ nay về sau, kho tàng xuất thu, dân gian mua bán, đều dùng kẽm tiền “Gia Long thông bảo” và “Minh Mệnh thông bảo” để cho cái lợi tiền tệ đến khắp mọi nơi”.

Lại chuẩn định điều cấm. Phàm ở dân thu nộp, ở chợ phố mua bán đổi chác, tiền mới tiền cũ đều dùng cả, không được chọn bỏ. Ai dám đúc trộm thì phải tội giảo giam hậu, tịch thu gia sản. Người tố cáo được thưởng bạc 50 lạng. Người chở trộm và mua bán trộm kẽm thì xử 60 trượng, đồ 1 năm, thuyền và hàng hoá, một thu vào nhà nước, lại lấy 3 phần 10 tang vật thưởng cho người tố cáo. Các quan phủ huyện và đồn thủ không kiểm soát được thì xử tội thất sát. Biết tình mà cố ý dung túng thì đồng tội với người phạm. Những người ở trường đúc cục Bảo tuyền và Đồ gia Bắc Thành, có ai mang khối kẽm đúc tiền ra ngoài thì theo luật lấy trộm tiền lương ở kho, tính tang vật xử tội.

Miễn lệ Bắc Thành dâng tiến cam đường. (Lệ trước khi cam đường chín, cứ 15 ngày do trạm tiến một lần, đến nay bãi đi. Duy lễ hưởng ở các miếu thì lấy dâng như lệ cũ).

Thái thường Tự khanh là Nguyễn Xuân Tình chết. Tình trước từ Hàn lâm thiên dần lên Thiêm sự Lại bộ, Ký lục Quảng Nam, đi sứ Trung Quốc về, cất làm Tự khanh, tham biện việc Lễ bộ, làm quan trước sau tự giữ tiết trong sạch, đến nay chết, vua tiếc lắm, cho tiền tuất theo lệ Tham tri. Than rằng : “Những người trẫm mới cất lên, theo nhau mà chết, vậy còn cùng với ai mà trị nước ?”.

Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng. Sai Kiến An công là Đài, ứng Hoà công là Đán, Thái Bình công là Kính tế thay.

Lấy Phó vệ uý vệ Trung nhất quân Thị trung là Lê Văn Quý làm Vệ uý vệ Hậu nhất, Vệ uý vệ Tả bảo nhị thuộc Tả quân là Lê Văn Từ làm Vệ uý Trung vệ dinh Tiền phong quân Thị nội, Khâm sai cai cơ vệ Túc oai quân Thần sách là Trương Công Tồn làm Phó vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội, Cai đội Thị trung Trần Văn Trí làm Phó vệ uý vệ Hữu nhất quân Thị trung, Phó quản cơ cơ Trung oai thuộc Hậu quân là Đỗ Văn Niệm làm Phó vệ uý Tả vệ dinh Long võ quân Thị nội, Phó vệ uý vệ Thị tượng tam quân Thị nội là Nguyễn Văn Trì làm Vệ uý vệ Hùng cự nhất thuộc Tượng quân, Quản cơ cơ Thị tượng ở Thanh Hoa là Hồ Văn Đa làm Phó vệ uý vệ Thị tượng tam, Cai đội Lê Văn Phước làm Phó vệ uý Hữu vệ dinh Long võ quân Thị nội.

Lấy Cai án Thị nội là Phan Văn Nguyên làm Thiêm sự Công bộ, tham biện công việc Vũ Khố.

Bọn ác man ở Quảng Ngãi lẻn xuống bảo Khu Linh giết cướp dân Hán (Việt). Trấn thủ Nguyễn Văn Hưng đem quân đuổi theo không kịp. Vua sai lấy Vệ uý vệ Nghiêm uy là Lê Viết Quý đem lính Kinh hội đánh. Khi đến thì bọn ác man đã trả lại những dân bị bắt, lính kinh không đánh mà trở về.

Cho các đội Tư thiện, Trung cần tiền gạo lương hằng tháng (Hai đội Tư thiện nhất, nhị mỗi đội mỗi tháng tiền 10 quan, gạo 25 phương ; đội Tư thiện tam mỗi tháng tiền 10 quan, gạo 30 phương ; các đội Trung cần nhất, nhị, mỗi đội mỗi tháng gạo 50 phương).

Lấy Tri bạ cơ Kiên thuận là Nguyễn Ngọc Châu làm Tri bạ phủ Tôn nhân, theo Tôn Thất Dịch coi giữ sổ sách phủ Tôn nhân.

Diễn trận voi. Thưởng cho ba vệ Thị tượng 100 quan tiền.

Cung Từ Thọ làm xong.

Ngày Tân mão, rước Hoàng mẫu về ở cung mới. (Trước một ngày vua kính cáo ở điện Hoàng Nhân ; đến ngày rước loan giá Hoàng mẫu từ cửa Hưng Khánh đi ra. Cung tần trong đại nội và các mệnh phụ theo hầu từ cửa Tiên Thọ đi vào. Vua đem bầy tôi xin làm lễ mừng. Hoàng mẫu dụ cho miễn). Tiến tiền kẽm mới đúc 30.000 quan.

Cho bọn Trần Hưng Chính 8 người họ Trần ăn lương theo thứ bậc.

Lấy Cai đội tuần thành là Đặng Đức Ân làm Quản thủ ba nguồn An Đại, An Náu, Cẩm Lý (ba nguồn thuộc tỉnh Quảng Bình).

Nguyễn Văn Trí đánh phá được sư Kế ở Ba Tầm Lai (tên đất, ở phủ Thời Thu). Trước kia, trong trận ỷ Hôn, Kế cùng bọn Tham Đích Tây chạy đến Lạng Khoan (tên đất) chẹn chỗ hiểm để giữ. Quan phiên là Bông Sa Sô Phì đánh không được. Quan quân đến Xuy Sóc (tên đất), vì có khe lớn ngăn trước mặt, không thể tiến được. Trí giả cách rút quân về Long Sô (tên đất). Giặc nghe thấy, lại dẫn quân ra. Trí ra lệnh cho quân sĩ đương đêm ngậm tăm theo bốn đường đều tiến đến Ba Tầm Lai, phía trước phía sau cùng đánh hăng, phá vỡ được, chém được sư Kế. Đầu hàng vài trăm người. Bọn Tham Đích Tây đều trốn cả.

Tin thắng trận tâu lên, vua mừng bảo bầy tôi rằng : “Giặc tăng kia gây loạn, dần dà gần tới Nam Vang, may Lê Văn Duyệt vừa đến, sai tướng dẹp tắt. Nếu không thì Nam Vang thất thủ, hỏng nát phên giậu của ta, sẽ không lợi cho thành Gia Định”.

Lê Chất tâu rằng : “Tên giặc tăng ấy cũng là địch mạnh, trước đây Lê Văn Duyệt sợ phiền bệ hạ lo nghĩ nên không dám giương to lên đấy thôi”.

Vua nói rằng : “Năm trước sơn man ở Quảng Ngãi lấn cướp, Duyệt đem quân đi đánh, vài tháng mà dẹp yên. Nay việc giặc tăng lại khó hơn việc sơn man ở Quảng Ngãi”. Bèn xuống chiếu khen ngợi. Sai lấy tiền 10.000 quan thưởng cho tướng sĩ.

Quốc vương Chân Lạp là Chăn lấy cớ có những quan phiên giao thông với sư Kế làm loạn, mà không hay ngăn được, chịu đến Gia Định xin chịu tội. Vua sai sứ mang chiếu đến yên ủi, dụ rằng : “Nước phiên mới dẹp yên, người ta còn mang lòng ngóng trông thì làm thế nào được. Trẫm đã xét biết tình hình ấy, nên không bắt tội. Quan phiên, trừ Tham Đích Tây và Kế Luyện Na Công pháp luật không thể tha được, còn những người khác đền là tôi tớ thuộc quốc của triều đình, đáng bao dung hết, bất tất phải mang lòng ngờ vực sợ hãi làm gì. Phải nên càng kính thuận thêm, nhóm họp nhân dân nước ngươi, sửa lễ chức cống của ngươi, để xứng ý yêu thương gây dựng của trẫm”.

Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông xét đệ án về tội cùng đánh giết người. án ấy sai về xuất nhập tội người. Vua dụ bộ Hình rằng : “Cùng mưu cùng đánh, luật có điều mục rõ ràng. Nếu đánh loạn không biết ai trước sau nặng nhẹ thì lấy kẻ mưu trước làm thủ phạm, còn người khác làm tòng phạm. Nay án ấy chứng cớ không phù, cưỡng kéo cho hợp, khiến kẻ mưu trước được lọt lưới mà người khác lại mắc tội nặng, xét hỏi việc hình nên như thế nào ? Nhưng vì ta mới lên ngôi, nên hãy rộng tha tội cho. Từ nay về sau, nếu quan xét xử chiếu luật không tường, khép tội không đúng, thì trị theo luật”.

Tha tù tội tử ở Gia Định. Lê Văn Duyệt dâng sớ nói : “Trong thành hạt có hơn trăm tù tội tử đáng được ở lệ ân chiếu khoan giảm. Vả gần đây lại có kẻ quan lại không tốt, hút máu mủ dân, hoặc có kẻ ngặt vì đói rét, nên sa vào tội lỗi, trong số ấy có kẻ tạp phạm theo trộm cướp, tình trạng có chỗ đáng thương, xin rộng tha cho, để rộng đức hiếu sinh”. Vua lấy làm phải, sai đánh trượng rồi tha cho hơn 90 người. Duy kẻ cướp giết người vẫn đợi đến kỳ xét án mùa thu.

Triệu Quản đạo Thanh Bình là Phan Văn Thuý về Kinh ; lấy Vệ uý vệ Tuyển phong hữu Hữu dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Tạo thay.

Thự Thượng thư Binh bộ là Nguyễn Tường Vân chết.

Tường Vân ở Bắc Thành bệnh nặng có di biểu rằng : “Thần, học kém tài hèn, tính lại thô lỗ, duy theo làm việc lâu ngày, nên Tiên đế xét thấy ngu đần chất phác, tha tội lỗi cho, mới có ngày nay. Trước đây vâng chiếu đi duyệt tuyển ở Bắc Thành, bỗng bị ốm, vì cớ còn có mẹ già dựa cửa, cho nên cố gượng cơm ăn thuốc uống, mong làm xong công việc để kịp sớm về thăm. Thế mà bệnh ngày tăng lên, hạn chết không kéo lại được, đấy là tội thần nhiều vậy. Nhưng lòng thành nhỏ mọn, không thể tự thôi được. Xin bệ hạ thường giữ đức tốt, sau trước như nhau, khiến cho tốt đẹp sánh với Thành Chu ngày trươc. Đến như việc nước Xiêm La, nếu có lỗi nhỏ cũng bỏ qua mà cùng nhau làm đạo lớn((1) Cùng làm đạo lớn : Kinh Lễ có câu rằng : “Đại đạo chi hành, thiên hạ vi công”.1), thì không những là báo nghĩa Tiên đế dừng chân ở đấy mấy năm, mà cũng khỏi được mối lo trăm đời của năm kẻ bầy tôi lớn ở ngoài biên”.

Vua xem biểu than tiếc, truy tặng Binh bộ Thượng thư, cho 200 lạng bạc cấp cho 2 người mộ phu. Lại bảo bầy tôi rằng : “Tường Vân có đủ tài chính trị, văn học, lo việc nước, làm việc công, gặp việc thì lo cố gắng, ít người kịp được. Tiếc rằng chí chưa chọn mà thần đã chết. Vả lòng trung ái hiện ra ở tờ di biểu, trẫm xem mà chảy nước mắt ra”.

Trịnh Hoài Đức tâu rằng : “Di biểu của Tường Vân nói đến mẹ già, ý muốn trông nhờ Hoàng thượng, nhưng không dám nói rõ đó thôi”.

Vua nói rằng : “Bề tôi trung còn có mẹ, trẫm nên hậu đãi”. Sai cho 20 lạng bạc, 2 tấm đoạn, sắc cho địa phương thời thường để ý thăm hỏi. Đến khi chết, cho 100 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 10 tấm.

Sai Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm kiêm quản việc Trường đà, Vệ uý Thị trung Trần Đăng Long quản lý Vũ Khố.

Đình thần dâng sớ cử Thiêm sự Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Ký lục Quảng Trị, Hàn lâm viện Nguyễn Văn Đống làm Hiệp trấn Sơn Nam hạ.

Vua nói : “Nguyễn Đăng Tuân kiêm giữ việc Văn thư phòng và việc Thượng bảo tự, then chốt quan hệ ở đấy, chưa có người thay. Nguyễn Văn Đống thì trật Chánh ngũ phẩm, đổi ra ngoài chỉ đáng bổ Tri phủ, bổ Tham hiệp thì chẳng quá lạm sao ?” Không cho.

Sai Đông các học sĩ Đinh Phiên và Hàn lâm Thị độc Cao Huy Diệu soạn định thể thức cáo văn, sắc văn cho văn giai và võ giai.

Định lệ cấp phu trạm cho quan ngoài đi nhận chức. (Lưu thủ, Trấn thủ, 2 phu cáng, 2 phu gánh đồ ; Cai bạ, Ký lục, Hiệp trấn, Tham hiệp, 2 phu cáng, 1 phu gánh đồ ; Quản phủ, Đốc học, Tri phủ, Tri huyện, 2 phu cáng).

Triệu Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Nguyễn Huy Trinh về Kinh ; lấy Tả Tham tri Lễ bộ là Bùi Đức Mân hành chức Hiệp trấn. Đức Mân trước đi sứ nước Xiêm, vì ứng đối không hợp, vua tuy không bắt tội, nhưng ý đã sơ, đến nay đổi ra ngoài.

Chuẩn định từ nay chánh đội trưởng và đội trưởng ở các vệ đội bốn dinh quân Thị nội được thực thụ suất đội đều chiếu phẩm mà chi bổng.

Lấy Phó quản thập cơ thuộc Hữu quân là Nguyễn Hữu Viễn làm Trấn thủ Yên Quảng, Thiêm sự Lại bộ là Phạm Quang Anh làm Tham hiệp Sơn Nam hạ.

Bốn trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, Biên Hoà, Phiên An, bão to, nước lớn, nhân dân nhiều người chết đuối. Lê Văn Duyệt trước hạ lệnh cho các trấn chiếu theo lệ bị nạn bãi mà chẩn cấp, rồi làm sớ tâu lên. Vua khen là phải.

Biếm Ký lục thự Tham tri Lại bộ là Lê Đồng Lý làm Thái thường Tự khanh, tham lý công việc Lễ bộ. Trước đây thự Đô thống chế Hậu dinh Bùi Văn Thái ra làm quan ở trấn, vua sắc cho Lý rằng chiếu văn chớ viết thự hàm. Rồi khi Thái đến trấn lỵ vẫn mang ấn Hậu dinh. Vua nghe thấy làm lạ bảo rằng : “Thái còn tạm giữ ấn dinh, có lẽ chiếu văn chưa bớt thự hàm chăng ?”. Hỏi ra thì quả như vậy.

Vua cả giận. Triệu Lý vào trách về tội trái chỉ, bắt cùm lại. Thượng thư Trịnh Hoài Đức và bọn Hoàng Quýnh, Lê Vạn Công ở Văn thư phòng đều bị quở. Bèn đổi Lý làm chức này, lại giáng một cấp. Nhân dụ bầy tôi rằng : “Trẫm lấy khoan nhân mà trị, chứ có muốn lấy pháp luật mà buộc kẻ dưới đâu, chỉ sợ có lỗi nhỏ không răn đi, thì đến lúc có lỗi lớn khó tha được mà thành ra không phải là ý xây dựng”.

Vua dụ bộ Lại rằng : “Quan văn võ trong ngoài chức giữ việc quan trọng thì lệ có cấp ấn quan phòng là để tỏ sự tin, phòng gian dối và trọng danh vị. Từ nay về sau có ai được cất bổ, đáng cấp ấn quan phòng, thì đề thỉnh trước để đúc ấn, đến ngày ban chiếu sắc thì cấp cả một thể. Nếu viên nào được chọn bổ chức khác, cùng với chức cũ không có liên quan, thì nộp ấn ấy ở bộ, đưa sang Văn thư phòng thu giữ”.

Lấy thự Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Văn Hưng đổi thự Tham tri Lại bộ, Hưng lấy cớ ít học xin từ. Vua không nghe.

Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Trần Chính Đức làm Thiêm sự Lại bộ.

Đổi bảo Bình Hoà làm đạo Bình An, trạm Kỳ Vĩ làm thủ sở Bình Nguyên (đều thuộc trấn Bình Hoà).

Bắt đầu đặt chức Tri huyện Tân Định trấn Bình Hoà, kiêm lý việc huyện Quảng Phước. Hai huyện trước chưa đặt quan, duy có quản đạo đạo Bình An hợp với thủ quản coi các việc giấy tờ kiện tụng trong đạo. Đến nay mới đặt huyện nha chuyên làm việc giấy tờ kiện tụng. Có xảy ra trộm cướp thì báo cho đạo nã bắt.

Kinh thành mưa lụt to, thành lở hơn 300 trượng.

Vua bảo bầy tôi rằng : “Trước Tiên đế có bảo trẫm : “Việc xây đắp Kinh thành không khỏi nhọc dân phí của, làm cho kẻ dưới ta oán. Ta cố đương lấy sự khó nhọc để rỗi cho mày, nếu có chỗ nào chưa xong, thì nhân đấy mà làm xong đi”, Tiên đế băng, chỉ một việc ấy là kinh dinh chưa xong, nay lại lở sụt, đấy là trách nhiệm nối chí noi việc của trẫm”. Tức thì ra lệnh cho người giám tu sửa đắp lại mà tha tội cho. Dụ rằng : “Từ nay về sau, phàm các công việc lớn về sửa đắp thành trì, nếu không hay chỉ vạch đúng phép, để đến nỗi không bền vững, thì đều theo nhẹ nặng mà trị tội”.

     

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển VI

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Canh thìn, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), mùa đông, tháng 11, định lệ quân cấm vệ chia đi tuần hoàng thành và cấm thành : Ba đội Túc trực, Trường trực, Thường trực đi tuần ngoài cấm thành ; mười vệ Thị trung đi tuần trong hoàng thành ; các vệ Thị nội đi tuần ngoài hoàng thành ; đều chia ra tả hữu dực, định nơi khởi hành và nơi trở lại. Lại sắc từ nay về sau, đêm đông chí thì ở sân ba điện Cần Chính, Thái Hoà, Càn Nguyên và ở cửa Tử cấm của hoàng thành đều thắp đèn mãn đường hồng [đèn nến] suốt đêm mới thôi.

Cho con cháu tập ấm của công thần Vọng Các và công thần trung hưng được chi toàn bổng theo phẩm trật ; ấm chức mà không cầm quân thì theo lệ cấp nửa bổng. Vua truy niệm các công thần có công lao ngày trước, cho nên đặc cách cho như thế.

Sai Giám thành phó sứ Đỗ Phước Thịnh, Phó đội Nguyễn Văn Học, Đội trưởng Nguyễn Văn Tuân và Trương Viết Suý, chia nhau đến các đầu nguồn ở Quảng Đức vẽ bản đồ núi sông rừng rú, đường đất xa gần, chỗ hiểm chỗ dễ, để dâng.

Vua mở xem sách Dư địa chí, muốn biết rõ hình thế kỳ ((1) (2) Kỳ , điện : nơi phụ cận với Kinh thành là kỳ, ngoài kỳ gọi là điện.1)điện(2), chép vào bản đồ sách vở để lại đời sau, bèn sai bọn Thịnh đi. Thưởng cho áo, bạc, tiền, gạo, theo thứ bậc khác nhau. (Trung lộ từ Sơn Bồ qua Tả Trạch, Hữu Trạch, cho đến nguồn Hưng Bình. Tả lộ từ Hưng Bình qua Phù Âu, Vân Quan, cho đến nguồn Lỗ Đông thuộc Quảng Nam. Hữu lộ từ Ô Lâu, Tho Lay đến nguồn Sơn Bồ. Cả ba lộ đều phía trên giáp địa giới sơn man).

Trấn thủ Phiên An là Đào Quang Lý có tội bị hạ ngục. Khi Quang Lý ở trấn,

có người tố cáo làm trái phép, thành thần Gia Định tra xét tâu lên. Vua nói : “Quang Lý và công thần Vọng Các cũ, không biết tự yêu thân danh để mắc vào pháp luật, rất đáng thương tiếc”. Khi án dâng lên, Lý bị khép vào tội lấn xén tiền công tiền tư hơn 9 vạn quan. Vua nghĩ đến công lao, miễn cho tội chết, bắt giam kín, đòi lại tang vật.

Lấy Vệ uý vệ Định võ là Nguyễn Đình Phổ quyền thự việc trấn Phiên An.

Triệu Tham hiệp Lạng Sơn là Phan Huy Thực về Kinh ; lấy Hàn lâm Thị độc học sĩ Nguyễn Hựu Bình làm Tham hiệp Lạng Sơn.

Sai Thiêm sự Lễ bộ là Lưu Thuyên kiểm tra Vũ Khố.

Hiệp trấn Kinh Bắc là Phùng Huy Giảng vì ốm phải miễn chức. Lấy Thiêm sự Hộ bộ là Lê Quang Thực làm Hiệp trấn Kinh Bắc.

Triệu bọn Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành Vũ Đức Thông, Ký lục Quảng Nam Hồ Công Thuận, Cai bạ Bình Định Hoàng Văn Quyền, Ký lục Bình Hoà Bùi Đức Minh, Ký lục Bình Thuận Trần Thiên Tải, Ký lục Định Tường Trần Lợi Trinh, Trấn thủ Phú Yên Nguyễn Văn Quế về Kinh.

Sứ bộ sang Thanh là bọn Ngô Vị, Trần Bá Kiên, Hoàng Văn Thịnh qua Nam Quan. Trước kia, người Thanh đã ước hẹn ngày 19 tháng 10 mở cửa quan. Vừa được mật tín báo tang vua Thanh, bọn Ngô Vị, Trịnh Hiến bàn rằng biểu văn trước dùng ấn son, nay nên đổi ấn chàm. Liền làm công văn tư qua phủ Thái Bình xin hoãn hạn mở cửa ải và chạy biểu tâu lên. Vua nói : “Việc mở cửa quan đã hẹn trước, quốc tang báo sau, người Thanh không ngại gì ấn dấu son, tại sao sứ thần lại sinh chuyện mà chần chờ như thế ?”. Lập tức dụ sai báo ở cửa quan là dùng biểu dấu son.

Kinh thành nhiều lần có nạn trộm. Sắc rằng quân dân bắt được thì hậu thưởng. Vừa gặp có người bắt được kẻ cắp ngày. Vua bảo bầy tôi rằng : “ăn cắp tuy là tội nhẹ, nhưng giữa ban ngày mà ăn cắp ở chốn đại đô là rất khinh miệt pháp luật. Bọn vô lại khinh phạm hiến chương như thế, tha thì rốt cục cũng không chừa nào, tha cũng vô ích”. Bèn sai chém để răn dân chúng. Lại hạ lệnh cho Quảng Đức từ nay về sau ở đâu có trộm xảy ra, lân bàng (bên cạnh) phải kíp đến cứu ứng, bắt giải lên quan. Làm trái thì có tội.

Định viên ngạch cho Thái y viện (Chánh ngũ phẩm Ngự y chánh 1 người, Tòng ngũ phẩm Ngự y phó 2 người, Chánh thất phẩm Y chính 2 người, Tòng thất phẩm Y chánh 2 người, Chánh bát phẩm Y chính 10 người, Tòng bát phẩm Y phó 10 người, Chánh cửu phẩm Y sinh 12 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 30 người ; ngoại khoa Chánh bát phẩm Y chánh 2 người, Tòng bát phẩm Y phó 2 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 16 người. Tất cả gồm 89 người đều cho thực thụ. Chánh bát phẩm Y chánh trở lên 19 người, cấp bổng theo phẩm trật).

Đổi chức Cai án Thị nội làm Tri bạ.

Quảng Nam gạo đắt. Dinh thần tâu xin lại phát thóc kho bán cho dân. Vua y cho, sai Thiêm sự Hộ bộ Vũ Văn Vượng và Hàn lâm viện Biên tu Lê Bá Tú đến hội bán.

Trấn thủ Lạng Sơn là Nguyễn Văn Kiên bị tội tham tang phải bãi chức ; lấy Trấn thủ Phú Yên là Nguyễn Văn Quế thay, Quản phủ Kinh Môn là Nguyễn Văn Tài làm Trấn thủ Phú Yên.

Sai Thiêm sự Công bộ Nguyễn Công Liêu và Tham tụng Trương Văn Minh làm việc cục Bảo tuyền ở Bắc Thành.

Lấy Vệ uý Hậu vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Văn Huyên làm Vệ uý Tiền vệ, Vệ uý Tiền vệ Nguyễn Văn Nghi làm Vệ uý Hậu vệ, Phó vệ uý vệ Tuyển phong hữu là Nguyễn Khắc Tiệp làm Vệ uý, Cai cơ Trần Văn Tính làm Phó vệ uý, Cai đội Lê Văn Giai làm Phó vệ uý vệ Ban trực tả.

Lấy Quản đạo Thanh Bình là Phan Văn Thuý làm Chưởng cơ, thự lý ấn vụ Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách. Sau lại sai lấy bản chức lĩnh chức Phó đốc trấn Thanh Hoa. Dụ rằng : “Khanh tuổi dần suy yếu, đáng lý lưu lại chầu hầu bên cạnh, nhưng nghĩ việc toạ trấn Thanh Hoa khó có người, nên nhờ khanh giúp một vài năm rồi sẽ triệu về”.

Triệu bọn Tri phủ Bùi Phổ, Trương Văn Đoán, Vũ Du,Vũ Hữu Tín, Hoàng Nghĩa Thao, Lương Vân, Đặng Đình Dương, Phạm Thọ Vực, và Thư ký Bình Định Phạm Phước Thiệu, Cai án Hải Dương Nguyễn Công Duy, tất cả 10 người về bộ để dẫn vào yết kiến.

Đổi định lệ thuế cảng và lễ cho các thuyền buôn nước ngoài. Lệ cũ, thuyền buôn Mã Cao và các nước phương Tây đến buôn bán, cũng đánh thuế như lệ thuyền buôn Quảng Đông, cứ lấy thước tấc bề rộng các thuyền mà thu khác nhau. Vua muốn tỏ lòng yêu mến người phương xa, sai đình thần bàn định phân biệt, theo ngạch cũ mà khoan giảm. (Như đến buôn bán ở Gia Định, thuyền phủ Quảng Châu, phủ Thiều Châu, châu Nam Hùng, phủ Huệ Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh Phước Kiến, tỉnh Chiết Giang, Mã Cao và các nước phương Tây, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước tiền thuế 140 quan (lệ trước 160 quan) ; 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 90 quan ; 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 70 quan ; 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 35 quan (lệ trước từ 13 đến 7 thước, mỗi thước 100 quan). Thuyền phủ Triều Châu, rộng 25 thước đến 14 thước, mỗi thước 110 quan, 13 thước đến 11 thước, mỗi thước 70 quan ; 10 thước đến 9 thước, mỗi thước 50 quan, 8 thước đến 7 thước, mỗi thước 30 quan. Thuyền phủ Quỳnh Châu, phủ Lôi Châu, phủ Liêm Châu, phủ Cao Châu và các nước Ma Lục Giáp, Chà Và, rộng 20 thước đến 14 thước, mỗi thước 105 quan ; 13 thước đến 10 thước, mỗi thước 55 quan ; 9 thước đến 7 thước, mỗi thước 20 quan. Đến buôn bán ở Kinh cùng Quảng Bình, Quảng Trị, so với Gia Định, đều giảm cho 4 phần 10. Đến buôn ở Quảng Ngãi, Thanh Hoa, Nghệ An, đều giảm cho 3 phần 10. Đến buôn ở Bình Thuận, Bình Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam, Bắc Thành, đều giảm cho 2 phần 10). Phàm các thuyền buôn nhập cảng, đều căn cứ nơi lĩnh thuyền bài để theo lệ mà đánh thuế. Nếu dám lừa dối, giả mạo lĩnh bài nơi khác để mưu giảm thuế, việc phát thì lấy số thuế giảm làm tang vật [luận tội], từ 20 lạng trở xuống xử 60 trượng, cứ mỗi chục lạng lại gia một bậc ; lại chiếu số tang mà thu gấp đôi. Nếu tang đến 250 lạng trở lên, cũng chỉ xử 100 trượng và đồ 3 năm (hết mức tội). Thuyền và của trong thuyền thì sung công. Lấy 3 phần 10 thưởng cho người cáo giác.

Vua lại thấy ba lễ thượng tiến và lễ quan cai tàu, trước đến nay đều tuỳ theo xứ sở thuyền buôn mà tính nhiều ít không đều, chưa được hoạch nhất, bèn chuẩn định rằng phàm tiền bạc đánh vào thuyền hộ gọi chung là thuế cảng và lễ, cứ khi mãn kỳ thì quan sở tại gộp kê tổng số tiền chia ra thuế cảng và các lễ (Lấy tổng số chia làm 100 phần, 78 phần làm thuế cảng, 22 phần làm lễ, tiến dâng vua 5 phần, cung Từ Thọ 4 phần, điện Thanh Hoà 3 phần, quan cai tàu 10 phần).

Lấy Nguyễn Văn Mưu làm Hàn lâm viện Biên tu sung chức Hành tẩu Văn thư phòng, Lê Công Tường làm Kiểm thảo, Vũ Doãn Triều, Đặng Như Tâm làm Điển bạ, Trần Tử Tuấn, Trần Đình Đạt làm Đãi chiếu. Bọn Mưu khởi thân là thường dân, Hứa Đức Đệ khen là viết tốt, vua sai Nguyễn Hữu Thận cho thi phép viết, rồi chia định thứ bậc mà dùng.

Vua vời hỏi Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới năm nay án xử tử còn lưu lại bao nhiêu. Giới đáp : “Mỗi năm đến cuối mùa đông, các án hình phần nhiều chưa xử quyết hết. Gần đây có chỉ nói rằng ngày đông chí không được giết tù, cho nên trước ngày đông chí đều xử quyết hết, chỉ còn hoãn quyết 60 án mà thôi”. Vua nói : “Trẫm tuổi trẻ nối nghiệp, gắng giỏi tinh thần để mưu trị nước, phàm việc gì cũng không muốn để bê trễ. Nhưng thường tình người ta hay hăng hái lúc đầu, chưa biết ngày sau có được như thế này hay không ?”. Nhân dụ bộ Hình rằng từ nay về sau các địa phương xét xử án tử hình phải tâu ngay để xử định, không được chậm trễ.

Làm ngọc phả. Sai Tôn Thất Dịch và Phạm Đăng Hưng sung chức Giám tu. Vua dụ rằng : “Từ xưa sự hoà mục trong gia tộc có ảnh hưởng đến sự thịnh trị của nước. Thái tổ ta khi mới gây dựng, tỏ đức dày đối với thân thuộc, xưng quốc tính là Nguyễn Phước. Hoàng khảo ta lập pháp luật, định chế độ, bắt đầu dựng phủ Tôn nhân, giữ việc phả hệ để lại muôn đời. Trẫm vâng nối nghiệp lớn, rất lưu tâm đến việc kế thuật. Các khanh làm ngọc phả nên xét kỹ, thế thứ trong sách vở cũ, liệt kê đầy đủ dâng trình, đợi chỉ xử định”. Lại dụ cho quan dân trong ngoài, nếu không phải tôn thất thì không được mạo dùng chữ Nguyễn Phước, làm trái thì có tội.

Bàn đặt Sử cục. Trước đây sai bộ Lại tâu rõ từng điều về quan chức Sử cục, đã lâu chưa dâng lên, vua dụ rằng : “Chức chưởng của Sử quán nên có điển cũ mà xét. Sang năm làm sử, việc đặt sử quan không thể hoãn được.” Phạm Đăng Hưng xin sai đình thần bàn kỹ. Vua nghe theo.

Hạ lệnh cho thổ ty Tuyên Quang là Tuyên uý đồng tri Nguyễn Thế Nga tạm sai Chánh thuộc hiệu Ma Doãn Thước cai quản thổ binh hiệu Hùng nhất đóng giữ bảo Tụ Long thu thuế đồng nhất thiết theo lệ trước.

Triệu Hiệp trấn Lạng Sơn là Nguyễn Thận Ngôn về Kinh ; lấy Hiệp trấn Sơn Tây là Ngô Huy Viên làm Hiệp trấn Lạng Sơn.

Lấy Hàn lâm viện Trực giảng là Lê Đường Canh làm Thiêm sự Binh bộ.

Chuẩn định rằng lính mộ ở ba vệ Trung, Tiền, Hậu, dinh Tiền phong quân Thị nội có thiếu thì cho lấy khinh phu và mộ người lậu sổ ở các dinh trấn sung vào, lính giản hai vệ Tả, Hữu có thiếu (binh hai vệ này quân ở Bình Định) mà dân sở tại xiêu tán, thì cho lấy các đội Tân sai quán ở các dinh trấn mà sung vào, cốt sao cho đủ số mỗi vệ 500 người.

Tháng 12, mồng 1, ban lịch Hiệp kỷ sang năm. Trước đây bộ Lễ tâu nói : “Ban bảo chính sóc là việc chính trị lớn của vương giả kính trời chăm dân. Xin lấy ngày mồng một tháng này đặt đại triều ở điện Thái Hoà để truyền chỉ ban lịch, theo như phép cũ”. Vua y theo.

Làm sách Khâm định vạn niên thư.

Thổ phỉ ở Sơn Tây là Trần Lê Quyền nguỵ xưng hoàng thúc nhà Lê, tụ đảng ở Lâm Thao mưu khởi loạn. Thành thần mật sai Quản cơ Tả quân là Lê Công Chiếu đem quân tìm bắt được Lê Quyền và bè đảng mười mấy người. Việc tâu lên. Thưởng cho quân sĩ 200 quan tiền.

Bộ Binh dâng sớ tâu : “Khoảng mùa hạ mùa thu, khí trời không được điều hoà. Hoàng thượng ta xét thấu ẩn tình dân, hoãn việc bắt lính thiếu. Nay lệ khí đã yên, xin lệ đòi điền cho đủ ngạch binh”.

Vua dụ rằng : “Dân đau ốm mới khỏi, người đi lánh nạn chưa trở về hết, nếu vội vã bắt lính, há chẳng nhiễu dân sao”. Không cho.

Bình Thuận gió bão.

Vua bảo Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân rằng : “Kinh sư là nơi thanh danh văn vật, phong hoá bắt đầu từ đây. Trước kia từ loạn Tây Sơn, quân dân tập nhiễm thói xấu, không biết nhún nhường. Nay phải lấy lễ phép mà dạy bảo. Khi có xe kiệu nhà vua đi thì phải nghiêm lặng tránh xa, không được xông xáo ; hoặc thấy xe lọng các quan trưởng, thì đương ngồi phải đứng dậy, đương đi phải tránh lối, để tỏ giáo hoá tôn vua kính trên mà làm gương cho thiên hạ”.

Xuống chiếu mở khoa thi Hương và thi Hội. Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ thánh nhân ban ân trạch, không việc gì lớn bằng sự gây dựng nhân tài, vương giả suy ơn, tất phải trọng việc tuyển sĩ tử, cho nên không câu nệ ở lệ thường, chỉ quý chọn được chân tài. Lớn thay nhà nước ta, chính trị giáo hoá tốt đẹp, phong khí học nho chấn hưng. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mở khoa thi kén sĩ tử, ấn định các năm mão dậu thì thi Hương, gần đây đã đủ lệ thường. Trẫm noi theo nghiệp lớn, mở mang trăm việc, quan dân trong ngoài, ai cũng thấm nhuần ơn trạch. Nay muốn rộng ban ân điển cho khắp làng nho, mong được nhiều sĩ tử kéo đến, vang lừng như sấm như gió, quả mùa thu hoa mùa xuân đều hái được, vàng tốt phương nam, tên thẳng phương đông đều thu được, để làm rộng sáng sự nghiệp chuộng văn của Hoàng khảo ta, nên có dịp may tuyển nhân tài ngày nay. Vậy đặc biệt cho mở ân khoa, mùa thu năm Tân tỵ thi Hương, mùa xuân năm Nhâm ngọ thi Hội. Sĩ tử các ngươi đều phải trong sạch mà thừa hưởng phước tốt này, chăm chỉ học hành, trông hoa hoè mà rảo đến trường thi, nhìn sóng đào mà tranh tiến lên trước, để đáp lại cái ý muốn cất nhắc nhân tài của trẫm”.

Chuẩn định rằng các địa phương từ nay có được ban phát chiếu thư, tiếp lĩnh yết thị, đều phải theo nghi chú do bộ Lễ gửi cho làm phép thường mãi. (Phàm tiếp trung sứ mang chiếu thư đến, quan địa phương trước phải bái vọng ở lỵ sở mình. Rồi xem trong tờ chiếu, có việc quan trọng cần tuyên bố cho mọi người nghe biết, thì lập tức đem văn võ thuộc quyền đều mặc phẩm phục, và sai binh lính sắp sẵn nghi trượng, long đình, tàn lọng, để sớm hôm sau đều họp đón rước chiếu thư ở hành cung, làm lễ bái tạ. Lễ xong, phụng mệnh dán treo lên và tuỳ việc sao gửi đi).

Sai Thị thư Lê Vạn Công cưỡi ngựa trạm đi các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, xét hỏi tình hình đau khổ của dân gian.

Ngày Quý tỵ, yết lăng Thiên Thụ, thưởng cho từ cung tần tiên triều trở xuống đến nô lệ phục dịch ở điện Minh Thành 100 quan tiền. Từ sau lấy làm thường lệ.

Bọn Trần Thiên Tải, Bùi Đức Minh vào yết kiến.

Vua hỏi về giá gạo, nhân bảo thị thần rằng : “Trẫm từ khi lên nối ngôi đến nay, vẫn để ý đến cùng dân, giảm tha thuế má, phát chẩn cho vay đã nhiều, không biết ơn ấy có đến nơi không ?”

Phạm Đăng Hưng tâu rằng : “Ơn rộng đã thấm khắp, dân được dần dần tỉnh lại và sinh thêm”.

Vua nói : “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc((1) Quan : goá vợ ; quả : goá chồng ; cô : mồ côi ; độc : người sống một mình không có vợ con để nhờ cậy.1) lại không được thấm nhuần ơn thực. Gần đây Hoàng Công Lý làm Phó tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên 3 vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”.

Bàn lễ tiến tôn((1) Lễ tôn phong Từ cung làm Hoàng thái hậu.1). Bầy tôi lại dâng biểu nói : “Trước khi dâng biểu tiến tôn, kính vâng tuyên bảo lời từ dụ, ngửa trông được thấy đức khiêm tốn rất lớn. Trộm nghĩ bậc đại hiếu tôn cha mẹ là phép thường xưa nay. Cung mới đã làm xong, xa giá đức Từ cung đã yên ở đó, bọn thần, tấm lòng nhỏ mọn, nghĩ không thôi được, nên dám lại xin”. Vua lấy biểu tâu lên cung Từ Thọ, được từ chỉ y theo. Bèn dụ cho bầy tôi bàn sang năm làm lễ tiến tôn. Sắc cho Khâm thiên giám chọn ngày lành đúc sách vàng, ấn vàng, và chế lỗ bộ Từ giá (1 tán cán cong bằng đoạn vàng thêu chín phượng, 4 cờ long phượng, 10 cái ngô trượng, 4 cái lập trảo, 4 cái ngoạ trảo, 4 tán cán thẳng bằng đoạn vàng thêu hoa bảo tướng, 2 tán cán thẳng bằng đoạn hồng thêu thuỵ thảo, 2 tán vuông mầu đỏ, 2 tán long phượng bằng đoạn vàng, 4 quạt long phượng bằng đoạn hồng, 4 quạt nan bằng đoạn màu vàng lẫn kim tuyến, 4 quạt loan phượng bằng đoạn hồng, 4 quạt hoa cung bằng đoạn xanh, 2 phất trần, 2 lò hương bằng vàng, 2 hộp hương bằng vàng, 1 kiệu phượng dư, 1 kiệu đại nghi, 1 kiệu phượng liễn, 4 phướn dẫn đường màu đỏ nhạt, 4 phướn truyền giáo, 4 phướn chữ tín, 20 thanh nghi đao, 40 cái hàm trượng, 2 cờ thanh đạo).

Ngày Đinh dậu, tế Chạp. Sai Định Viễn công Bính, Diên Khánh công Tấn, Điện Bàn công Phổ tế thay.

Gọi bọn Tiến sĩ triều Lê là Nguyễn Đăng Sở và Đỗ Lệnh Thiện, Sinh đồ ở Bắc Thành là Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú, sĩ nhân là Ngô Du, Đoàn Nguyên, Đỗ Huy Ngạc, Nguyễn Minh Khiêm, do bộ dẫn vào yết kiến. Lệnh Thiện và Đình Hổ vì ốm từ không đến. Đăng Sở đến Kinh, được bổ Hàn lâm viện Tu soạn. Bọn Huy Chú được bổ các chức Biên tu, Kiểm thảo, theo bậc khác nhau.

Phó hầu mệnh Hoàng Kim Hoán từ cửa quan trở về.

Vua lấy việc sứ kỳ chậm trễ mà quở mắng, không cho phục mệnh. Chánh hầu mệnh là Trịnh Hiến đi đường bị ốm đến sau. Vua lại quở rằng : “Trước kia ngươi theo vua Lê, trọng nghĩa không khuất, giữ tiết tháo sao mà bền bỉ thế ? Nay đến cửa quan lại dùng dằng kéo dài, sao lại trái nghịch như thế ?”. Hiến sợ hãi tạ tội. Vua tha cho. Kim Hoán cũng được miễn tội.

Phục chức cho Nguyễn Đức Hội làm Tri bạ thành Gia Định. (Đức Hội trước làm Hiệp trấn Hà Tiên, mắc tội, bị cách chức).

Phục chức cho Phan Tiến Hoàng làm Vệ uý quân Thần sách. Hoàng trước kia lấy chức Phó tướng đi trấn Quảng Ngãi, mắc tội giam ở ngục. Năm ấy gặp ân xá được miễn. Vua thương Hoàng có công lao cũ mới đặc ân cho bổng mỗi tháng 10 quan tiền và 10 phương gạo. Lê Văn Duyệt vào trấn Gia Định, sai đi theo, đến nay mới phục chức ấy.

Đảng giặc Chân Lạp đã dẹp hết. Sai rút binh Gia Định về. Đầu là bọn Vệ uý Lê Kim Nhượng và Trần Văn Quế đuổi đánh dư đảng của sư Kế ở Lang Sóc (tên đất), phá luôn được, giặc tan tác hết. Bọn Tham Đích Tây, Kế Luyện Na Côn lần lượt về hàng. Lê Văn Duyệt tâu xin rút binh, nhưng để Nguyễn Văn Thuỵ với 700 quân sĩ lưu lại bảo hộ nước Chân Lạp, đợi khi nào nước ấy tạm yên sẽ trở về Châu Đốc, kiêm giữ Hà Tiên để bớt số thú binh. Vua y cho.

Vua nước Chân Lạp thấy quan phiên là Chiêu Chùy Tôn La Ca Đồng Phù ngang nghịch vô đạo, gửi mật thư cho Gia Định. Chợt Đồng Phù có việc đến thành, Lê Văn Duyệt bắt lấy, đem việc tâu lên.

Vua nói : “Hắn là quan phiên, nên để vua phiên xử trị”. Bèn sai đóng gông đưa giao Đồng Phù và bọn quan phản nghịch Tham Đích Tây. Dụ vua phiên rằng : “Pháp luật là chung của thiên hạ. Bọn Tham Đích Tây phản quốc theo giặc, Đồng Phù khi quân ngược dân, theo pháp luật đều phải giết. Vương nên cương quyết, xử theo nghĩa lớn, không nên nhu nhơ”. Vua phiên vâng mệnh giết hết, rồi xin sắm sửa sản vật địa phương sai sứ sang tạ. Vua nghĩ nước ấy mới yên nên miễn cho, chỉ khiến biểu tạ thì do sứ cống đệ luôn.

Lê Văn Duyệt dâng sớ nói : “Gần đây nghe tin nước Xiêm La sửa soạn binh giáp và xin quân ở nước Hồng Mao, chưa hiểu cớ gì. Thần đã thao diễn các quân để dự phòng sự bất ngờ, và sai người đi đến Ô Đỗ của Hồng Mao để dò xét động tĩnh”. Vua khen phải, bảo từ nay dò được tình trạng gì thì làm biểu tâu lên ngay.

Sai Bắc Thành, Thanh Hoa, Nghệ An và Thanh Bình chế cấp quần áo cho lính thú.

Chuẩn định từ nay phàm lính mộ thiện tiện đào ngũ thì xoá tên ở binh tịch mà ghi vào hộ tịch, để không được lánh đến nơi khác và đầu quân vào vệ đội các nha.

Sai bộ Lễ bàn lễ tiểu tường.

Vua hỏi Phạm Đăng Hưng ngày hôm trước lễ tiểu tường có làm lễ cáo không. Hưng đáp : “Ngày giỗ thì có lễ cáo, ngày tiểu tường thì không. Trước kia Tiên đế cư tang Hiếu Khang hoàng hậu cũng vậy”.

Vua nói : “Tiên đế chế lễ, trẫm không dám trái. Nhưng không cáo mà tế thì chưa được yên tâm. Vậy đến kỳ lễ trẫm đem con em cáo trước, miễn cho các quan theo lạy là được”. Lại bảo thị thần rằng : “Trẫm xem việc cũ chép lại, thì Hiếu Nghĩa hoàng đế triều ta kính thờ Nễ miếu, mỗi lần cúng tế có đủ các thứ chim muông quý báu, lòng hiếu thờ thân rất mực. Trẫm nay tìm tòi các thứ ấy ở bốn phương, sức cũng có thể làm được, nhưng nghĩ lại làm nhọc sức người, không phải ý định của Tiên đế ta, cho nên ta không nỡ làm. Vả lại Tiên đế từng nói : Lễ tang tế của trẫm, nên tiết kiệm không nên xa xỉ, nên thương xót không nên bày vẽ. Lời nói đức ấy như ở bên tai, trẫm sao dám trái vượt ?”.

Ngày Tân sửu, vua đến điện Hoàng Nhân làm lễ tiểu tường. Vua mặc tang phục tiểu tường, các hoàng tử, hoàng thân, cho đến các quan văn võ chịu tang ba năm đều mặc tang phục tiểu tường ; ai tang một năm thì trừ phục.

Lấy Ký lục Bình Thuận là Trần Thiên Tải làm Hiệp trấn Sơn Tây, Thiên Tải bệ từ. Vua dụ rằng : “Trên thể tất đức ý của vua, dưới làm cho dân khỏi đau khổ, ấy là chức trách thú mục. Nếu đem việc quan khinh suất, uỷ thác cho nha lại, để họ thẳng tay làm gian bậy thì hại dân không thể nói xiết”.

Ban bạc cho bọn con cháu nhà Lê là Lê Duy Cáo và con cháu nhà Trịnh là Trịnh Hiệu, theo thứ bậc khác nhau. Lại cho Duy Cáo triều phục Chánh tam phẩm, rồi đều cho về.

Định lệ lễ ở điện Minh Thành. Hằng năm gặp ngày sinh ngày kỵ cùng các tiết Trừ tịch, Nguyên đán, Đoan dương, đều tiến dâng cỗ bàn, lễ phẩm, sai viên Tôn thất hộ lăng làm lễ

Định rõ lại điều cấm về bưu chính. Vua dụ bộ Binh rằng : “Đặt ra bưu chính là để truyền đệ việc công. Điều cấm đã định, nhưng gần đây, các nha hoặc lạm sai lại dịch, uỷ riêng thân quyến ; người coi trạm thì hoặc có việc riêng đi vắng, đến khi có việc vội thì thúc giục chạy mau, hoặc việc không khẩn cấp mà bắt phu trạm chạy, còn thêm đánh đập ; lại có người giả mạo danh hiệu chức sắc, chẳng có bằng trát gì mà doạ nạt ; cùng cai trạm thứ trạm là đặt riêng hai ba chức dịch, bắt thu trạm phải lệ thuộc, miễn trừ con em mình không phải làm phu trạm ; phàm các việc như thế, không thể không định rõ điều cấm để ngăn tệ đi. Vậy ra lệnh truyền dụ nghiêm cấm”.

Chánh sứ sang nhà Thanh là Ngô Vị chết ở phủ Nam Ninh (vua Thanh hậu ban bạc lụa, đợi khi Phó sứ Trần Bá Kiên trở về sẽ cho quân hộ tống).

Vua nghe tin nói : “Vị chết vì việc nhà vua, trước dẫu có lỗi, nhưng cũng là để làm việc công, cũng nên thương xót”. Sai cấp cho gia đình 30 lạng bạc. Đến khi đưa tang về, sai quan dụ tế, lại cho thêm 100 lạng bạc.

Đặt thêm chức Miếu lang (trật Tòng ngũ phẩm), Miếu thừa (trật Tòng thất phẩm). Vua bảo bộ Lễ rằng : “Vương giả kính thờ Tôn Miếu, chức quan coi việc thờ cúng không thể không đặt đủ. Vậy đặt thêm 2 miếu lang và 4 miếu thừa, lấy người tôn thất để bổ”.

Sai Tôn Thất Dịch chọn con em trong tôn thất từ ba đời trở xuống, người nào thông minh cho vào nhà Thái học.

Định lệ thuế nạp trầm hương (mỗi người hằng năm nộp 1 cân trầm hương) cho thôn Chi Quan (thuộc huyện Kỳ Hoa) và hai đội Phan Long, Quần Cát (thuộc huyện Thạch Hà) trấn Nghệ An.

Đắp ba đoạn đê mới ở Sơn Nam hạ thuộc Bắc Thành, (một đoạn tại hai xã Kim Lũ và Tiên Liệt huyện Mỹ Lộc, một đoạn tại hai xã Trà Lý và Lương Phú huyện Chân Định, một đoạn tại xã Sơ Lâm và Hàn Lâm huyện Thượng Nguyên).

Gọi binh hai vệ Thần uy, Chấn uy ở các dinh trấn Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, đều đến mùa xuân sang năm họp tất đội ngũ ở Kinh.

Nạn dịch ở Bắc Thành đã lui, thành thần tâu lên. Vua mừng phê rằng : “Hạt ngươi bị nạn dịch ở sau các cõi trong nước, nay dịch lui, thế là toàn hảo”.

Năm nay bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên, sau rốt đến Bắc Thành. Số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, khôngkể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp tổng kê hơn 73 vạn quan tiền.

Sai Thống chế Nguyễn Viết Bảo, Thượng thư Trịnh Hoài Đức, thự Tham tri Nguyễn Văn Hưng, Thừa chỉ Trần Công Tuân sung làm công việc đóng hòm ấn cuối năm.

Cho dòng dõi công thần quốc sơ là Nguyễn Phước Kiều làm họ Nguyễn Cửu.

Hiệp trấn Thái Nguyên là Nguyễn Kim Phương chết.

Bàn lễ Nguyên đán. Bầy tôi dâng sớ nói : “Từ Càn Học nhà Thanh dẫn lời Trình tử((1) Trình tử : tức Trình Y Xuyên, danh nho đời Tống ở Trung Quốc.1) nói rằng : “Cổ nhân để tang, trăm việc đều theo đúng lễ, dù bỏ tế cũng có thể được ; nhưng người đời nay trăm việc như thường thì sao lại chỉ bỏ tế ?”.

 Lời nói ấy phải làm sao ! Nhưng theo phong tục mà trái với cổ nhân thì lòng người cũng không yên. Trương tử((2) Trương tử : tức Trương Hoành Cừ, danh nho đời Tống.2) có nói : “Tang ba năm thì một năm có thể tế được ; tang một năm thì khi đã táng rồi có thể tế được ; tang ba tháng, năm tháng hay chín tháng, thì qua một tháng có thể tế được”. Đó là chiếu theo tình mà so với lễ, thế mới vừa phải. Cúi thấy Hoàng thượng cư tang nay đã lễ tiểu tường rồi thì có thể tế được. Trộm nghĩ Nguyên đán là một trong ba tết lớn, theo điển lễ quốc triều ngày tết ấy có lễ chầu các miếu, thật là hết ý tôn kính tổ tông, các đời giữ phép sẵn ấy đến 300 năm. Bọn thần trộm nghĩ ngày Chính đán sang năm, rước Hoàng thượng thân yết Thái miếu, các quan bồi tế như nghi. Lễ xong, Hoàng thượng ngự điện Cần Chính, đổi mặc áo thường, các quan vẫn mặc triều phục, kính cẩn đợi ở sân điện Thái Hoà. Do quan bộ Lễ tâu xin, vâng chỉ miễn triều phục, gọi vào triều kiến. Sau đó thì ngày thường Hoàng thượng mặc áo trắng ngự ở Tiện điện mà thính chính để trọn số tháng cư tang. Như thế ngõ hầu cổ điển và quốc lễ châm chước nhau được thích nghi, đạo làm con, lòng làm tôi, trên dưới đều được thoả cả”. Vua y theo.

Bộ Hộ tâu dâng sách hội kê đinh điền tiền gạo vàng bạc năm nay : số đinh hơn 620.240 người ; ruộng 3.076.300 mẫu, và hơn 26.750 khoảnh ; tiền hơn 1.925.920 quan ; thóc hơn 2.266.650 hộc ; vàng hơn 580 lạng ; bạc hơn 12.040 lạng.

Bộ Binh tâu dâng nhân số năm nay về binh ngạch, quan lại trong ngoài, các sắc binh tượng cùng các hạng binh tính, biệt nạp, tạp lưu, gồm hơn 204.220 người có lẻ.

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển VII

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

      

Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821] (Thanh Đạo Quang năm thứ 1), mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý sửu mồng 1.Vua mới đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, tế Thái miếu. Miễn lễ triều hạ cho các quan. (Biểu mừng do Văn thư phòng dâng lên. Hai tết Vạn thọ và Đoan dương cũng thế). Rồi đổi áo thường, ngự điện Cần Chính, các quan chiêm bái. Ban cho bạc thay yến theo thứ bậc khác nhau.

Ngày Giáp dần, dâng lễ lớn ở điện Hoàng Nhân.

Làm vườn ngự (ở phía đông trong kinh thành). Có kẻ làm thư nặc danh nói gièm pha. Vua bảo thị thần rằng : “Làm vườn ngự là nhân cũ sửa lại cho mới chứ không phải dựng mới”. Bèn bãi việc cung dịch cho các quân, chỉ lưu lại quân các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực để hoàn thành. Lại dựng hai đền Thành hoàng và Thổ kỳ trong vườn ngự, ban tặng cho. Sắc rằng hằng năm tế vào hai tháng cuối xuân thu.

Định lệ treo đèn và răn cấm trong khi khánh tiết. Hằng năm ngày 15 tháng giêng là tiết Thiên thụ, ngày 27 tháng 11 là tiết Thánh thọ. Những đêm ấy ở kinh thành và ở lỵ sở các thành trấn, nhà các quan và nhân dân đều treo đèn ở trên cổng ngõ. Ngày hôm trước và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ngày 23 tháng 4 là tết Vạn thọ. Trước 3 ngày và ngày chính đều cấm xử hình án và làm thịt thú. Ban đêm đều phải treo đèn.

Gọi hơn 3.300 biền binh ở các hạt Bắc Thành, Thanh, Nghệ và Thanh Bình về Kinh.

Ngày Kỷ mùi, khai ấn. Xuống chiếu dụ quan dân trong ngoài rằng : “Trẫm nghe sách Chu Lễ nói tháng giêng ban bố pháp lệnh ở lúc bắt đầu hoà ấm. Theo quẻ Tốn [Kinh Dịch] thì trước ngày Canh ra mệnh lệnh để làm việc. Vì đạo trời sinh hoá mãi không ngừng, Trinh hết vận rồi trở lại Nguyên. Kẻ làm vua gắng gỏi không quên, cẩn thận lúc cuối cùng, mưu toan từ khởi thuỷ. Cho nên thiên “Đế mô” ((1) Đế mô : thiên trong Kinh Thư, tức là “Đại Vũ mô”.1) thuật ý răn dạy của trời, từ việc chớm phát đến việc đã thành, mà thiên “Cơ phạm”((1) Cơ phạm : tức thiên Hồng phạm của Cơ tử.1) tỏ bày lời nói trị đời, đều là phép thường, đều là giáo huấn. Lớn lao thay đức Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta ! Gây dựng nghiệp lớn, để lại đời sau. Chính lệnh ra là thi hành, lời nói là phép là tắc ; giáo hoá thành lâu từ trước, dân cho là phải mà theo. Trẫm nối cơ nghiệp lớn này, xem hiến chương đã sẵn. Sớm hôm lo lắng, một lòng kính cẩn từ lúc đầu ; giường mối mở mang, trăm việc làm cho đến chốn. Nhìn cảnh tượng hanh thông của trời đất ; chính là lúc nhàn hạ của nhà nước. Vua là chủ, tôi thì làm, gian lao cho mọi việc đều tốt ; dân đồng bào, vật cùng sống, trời đất che chở không sót đâu. Nghĩ sao đến được công hiệu trung hòa vị dục ; giữ đúng được chuẩn đích chính trực thẳng bình. Nối chí theo việc là hiếu, đương thận trọng chọn ngày mưu đồ ; bố đức ban lệnh mùa xuân, nên bày lời để làm giáo huấn. Đại thần thân huân, danh vọng ở bậc di phụ((2) Di phụ : do tiên đế để lại để giúp đỡ vua.2), mong cùng nhau một lòng tu đức để cùng hưởng tôn vinh ; trong ngoài trăm quan, xét công tự có thường quy, nên cố gắng thận trọng chức ty để cùng vui công trạng kinh dinh trăm trận, các quân vốn đã huấn luyện, thuật tất phải tinh ; sức tất phải mạnh, uy thanh vang như sấm sét, rộng như Hán Giang ; nuôi dạy lâu năm, kẻ sĩ đều đã thành công, hạnh tất càng gắng, học tất càng chăm, thực dụng vững như rui xà, chắc như rường cột. Xa gần cùng lối, đạo lý một mà phong tục như nhau, cày ruộng chăn tằm, trồng cây nuôi súc, đều muốn cho được thoả đời, đất không bỏ hoang, dân không du đãng, đều xu về đức hoá vui sống thuận hoà ; phú dữ tính thường, chẳng cần nhủ từng nhà bảo từng hộ, lớn nhỏ trai gái, bạn bè cha con, đều muốn cho được đúng đạo, không trò dâm dật, không thói a dua, đều vui theo phong tục lễ nhượng liêm sỉ. Như thế là để tỏ công bình định hai chục năm, để lên cõi thái hoà thiên vạn thế ... Ôi ! Thể theo trời đất đủ bốn mùa bốn đức, khéo hợp với then máy mở đóng cửa càn khôn ; làm cho thiên hạ thành một nhà một người, mong được thấy đức hoá lan khắp như sấm gió. Các tước công, đại thần cùng quan quân sĩ dân đều lo cố gắng, để đón lấy phước lớn, cùng nhau chung hưởng thanh bình”.

Ngày Canh thân, tế Xuân hưởng. Vua đến Thái miếu hành lễ. Từ đấy lễ miếu hưởng vua đều thân làm.

Tham tri Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông và Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền bệ từ để trở về lỵ sở. Vua vời hỏi Thông rằng : “Việc ở Bắc Thành chỉ có Phó tổng trấn và bọn ngươi xét đoán giải quyết hay là có cả Hiệp trấn và Tham hiệp dự bàn ?” Thông đáp : “Việc nhỏ thì Phó tổng trấn và bọn thần bàn bạc, còn như việc lớn thì võ từ Thống quản thập cơ, văn từ Thiêm sự trở lên, cùng các Hiệp trấn, Tham hiệp mà có việc ở thành đều hội bàn cả”.

Vua nói : “ở Bắc Thành văn án rất nhiều, ngươi nên siêng năng xét xử, đừng để đọng lại”. Lại hỏi Quyền về việc ở trấn. Quyền đáp : “Từ khi thú binh Hổ oai rút về thì hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn giặc cướp lại nổi”.

Vua nói : “Khi Hoàng khảo mới thăng hà, sai binh chia đóng thú các nơi để phòng việc bất ngờ. Nay việc đã định thì thôi, chứ có lệ đóng thú đâu. Ngươi về bảo án trấn Trương Phước Đặng phải huấn luyện quân lính gia tâm giữ yên, chớ để sau thành cướp to mà phải động đến binh Kinh, trẫm tuy không bắt tội, nhưng riêng lòng há không tự biết xấu hổ sao ? Vả lại, trấn mục là chức vụ thân dân, yêu ghét có công bằng, thì khi dân có đau khổ mới dám đến kêu. Trước kia trẫm sai Thị thư Lê Vạn Công đi dò hỏi dân tình, đều nói thường khổ về sự sách nhiễu, nên có cướp mà không dám kêu. Giữ chức chăn dân mà để dân đến thế thì sao gọi là cha mẹ dân được”.

Biên Hoà lụt, dân đói. Sai xuất tiền gạo phát chẩn.

Đúc súng đại bác Uy phước. Trước là quân Thị trung đào được vạn cân đồng đem dâng. Vua sai đúc ba khẩu đại bác, đều đặt tên là “Bảo quốc an dân đại tướng quân”, thân chế bài minh khắc vào súng để ghi. Một khẩu bài minh rằng : Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phước, để bảo đời sau : Phước đến có điềm hay, tiếng oai quét yêu quái, truyền con cháu ta, văn võ đều giỏi”. Khẩu thứ hai bài minh rằng : “Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phước, để bảo đời sau : Phước lan khắp trong nước, uy dậy cả bốn phương, ức muôn năm ấy, phát mãi điềm lành”. Khẩu thứ ba bài minh rằng : “Minh Mệnh năm đầu, được vạn cân đồng, sai đúc súng Uy phước, để bảo đời sau : Uy để chống giặc, phước ứng điềm lành, văn võ đều dùng, thọ khảo mãi mãi”.

Ngày Nhâm tuất, duyệt binh. (Sáng sớm ngày ấy biền binh các dinh thuộc các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách đều họp cả ở trước điện Càn Nguyên. Sai Thị thư viện 5 người và sáu bộ mỗi bộ 3 người, hiệp với bộ Binh xét điểm). Vua mặc nhung phục ngự ở điện Càn Nguyên xem duyệt. Lệ duyệt binh bắt đầu từ đấy.

Lê Công Tồn trước lấy chân Hàn lâm viện ra Tri phủ Hà Trung, giả thác có bệnh xin về hưu, đến nay lại xin vào Hàn lâm. Vua nói : “Hôm trước thác bệnh để tránh tội, nay lại bắt chước Mao Toại tự tiến mình, rất đáng khinh bỉ”. Không cho.

Định thêm số viên dịch ở sáu bộ. Đầu đời Gia Long, mỗi bộ đặt một Thượng thư, 2 Tham tri, 4 Thiêm sự. Đến nay mỗi bộ đều đặt thêm 4 Lang trung, trật Chánh ngũ phẩm, 4 Chủ sự, trật Chánh lục phẩm, 4 Tư vụ, trật Chánh thất phẩm, và thư lại bát cửu phẩm đều 8 người, bộ Lại bộ Binh 70 thư lại vị nhập lưu((1) Vị nhập lưu : chưa được vào ngạch.1), bộ Hộ 100 người, bộ Lễ bộ Công đều 50 người, bộ Hình 60 người. Sai các bộ trưởng cử những người Tri huyện thâm niên cùng các Hành tẩu, Hương cống, và các ty Lệnh sử thuộc bộ, có thể làm được việc thì sung bổ các chức ấy.

Sai thuỷ quân diễn tập chèo thuyền. Thưởng cho 500 quan tiền. Sau theo đó làm lệ.

Sai vệ Tả nhất quân Thị trung hầu ở cung Từ Thọ.

Lấy Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận kiêm quản Nội vụ phủ, Hữu Tham tri Công bộ kiêm quản Vũ Khố là Nguyễn Khoa Minh lại giữ việc bộ, Cần Chính điện học sĩ Lê Đại Nghĩa thự Tham tri Binh bộ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Nguyễn Đăng Tuân thự chức Thượng bảo khanh, Hàn lâm viện Thị giảng Nguyễn Cửu Khánh làm Thượng bảo Thiếu khanh, quản lý công việc các viện thuộc Văn thư phòng.

Sai Hữu Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới nghỉ việc bộ để chuyên việc dạy bảo. Dụ rằng : “Hoàng tử và hoàng đệ tuổi còn thơ ấu, đang mê chơi đùa. Bọn thuộc hạ trong phủ phần nhiều lại đón chiều thói xấu, ngươi phải nghiêm cấm, đừng để cho bọn chúng dỗ dành, ngõ hầu có thể thành tựu được”.

Đến ngày khai giảng vào bái, vua dụ các hoàng tử, hoàng đệ rằng : “Nay đã đặt chức sư bảo, các ngươi đều phải chăm chỉ học tập, ngày tháng tiến tới dần lên, cho thành đức nghiệp, nếu không được thế sẽ phải quở mắng”. Giới nhân tâu nói : “Thần bất tài mà được dự ngôi tây tịch((1) Tây tịch : chỗ ngồi của thầy dạy các hoàng tử ở trong phủ, ngồi phía tây, hướng về phía đông1), xin ban giáo hình((2) Giáo hình : thứ hình cụ của thày dạy học, tức là cái roi.2) cho thần”. Vua bèn trao cho cái roi.

Vua từng bảo bày tôi rằng : “Người ta không phải là thánh hiền thì có thể nào không dạy mà giỏi được. Trẫm muốn chọn mấy người lão thành cùng ở với các hoàng tử để dạy bảo cho từng điều, như ra vào triều yết phải có lễ phép, tiếp kiến đại thần phải có lễ độ, thì sau mới có thể thành đức được. Nhưng chọn được người rất khó”.

Chọn những con em tuổi nhỏ tuấn tú trong tôn thất là bọn Tôn Thất Chào 60 người vào nhà Thái học đọc sách, cấp cho lương tháng và ban cho áo mũ. (Mũ tứ phương bình đính đều một cỗ, áo sa hoa màu bảo lam trong lót vải trắng, kiểu tràng vạt, một chiếc xiêm bằng trừu màu lam một bức, đai đỏ và hia tất đủ bộ).

Dụ rằng : “Đặt ra học hiệu để giáo dục nhân tài. Tuy thường dân mà tuấn tú trẫm còn muốn gây dựng huống chi là bọn ngươi. Bọn ngươi là dòng dõi nhà vua, trẫm đã cấp lương, lại cho áo mũ, ban ân đã hơn người rồi. Đều phải dùi mài cố gắng học cho thành tài để khi dùng đến, chớ phụ ý thiết tha của trẫm đối với họ hàng”. Lại phát bút mực giấy trong kho ra cấp cho.

Định lệ tiến gạo lên cung Từ Thọ, hằng tháng đều 10 phương gạo trắng, 60 phương gạo lương, do hộ vệ dâng lên. Bộ Hộ lại đem lệ dâng tiền tâu xin. Vua hỏi lệ cũ tiền tiến lên cung Từ Thọ một năm bao nhiêu. Bộ Hộ đáp là một vạn quan. Vua nói : “Như thế thì lấy gì để ban thưởng cho đủ ?”. Đáp rằng : “Lại có số tiền thóc về thuế ruộng và trại cũng có thừa”. Vua nói : “Hiếu Khang hoàng hậu trước kia ở Gia Định đã có của để dành, sau khi đại định lại có của tiến dâng, vì thế thừa thãi. Nay phụng sự Từ cung, tự xét không được như thế. Trẫm lấy thiên hạ để phụng dưỡng, kho tàng đâu là chẳng có, để riêng mà làm gì”. Vẫn định lệ mỗi năm tiến một vạn quan.

Giám thành phó sứ là Đỗ Phước Thịnh đem địa đồ núi sông Quảng Đức tiến lên (từ sông Lương Điền đến giữa đèo Hải Vân quan dài 24.000 trượng, thành 170 dặm ; từ cửa biển Thuận An đến đầu núi ở đất mọi Đê 1 vạn trượng, thành hơn 74 dặm

10 trượng).

Vua xem bản đồ, nhân bàn đến địa thế thành trấn Nghệ An, nói rằng : “Khi trước tiên đế từng muốn dựng đô ở đấy”. Nguyễn Văn Nhân tâu rằng : “Đấy không phải là đất đóng đô, nên chọn trọng thần để trấn”.

      Vua nói : “Phải. Phú Xuân là khoảng giữa trong nước, đế vương đóng đô không đâu hơn đấy. Còn các thành trấn chỉ nên làm hành tại để tiện khi đi tuần thăm các địa phương và xem xét phong tục mà thôi”.

Lấy Tôn Thất Phụng, Tôn Thất Hựu làm Miếu lang, Tôn Thất Tiến, Tôn Thất Thọ làm Miếu thừa, phụng giữ việc thờ cúng các miếu.

Diễn tập trận voi. Vua ngự điện Càn Nguyên để xem.

Người thuộc hạ ở phủ Diên Khánh công Tấn tranh nhau thầu thuế cửa quan bến đò với người ta. Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân không cho. [Diên Khánh] công gọi Bá Nhân đến trách mắng. Bá Nhân đem việc tâu lên. Vua nói : “Cửa quan bến đò là thuế của nước, Diên Khánh công sao lại được như vậy ? Mà chức của ngươi là chức Kinh doãn, phải không sợ kẻ quyền quý, sao lại nghe gọi là đến ngay mà chịu nhục”. Bá Nhân cúi đầu tạ tội.

Cấp phẩm phục cho các quan văn võ tứ phẩm trở lên. Sắc từ nay, phàm gặp lễ đại triều mà vô cớ không vào chầu thì xử tội theo luật.

Dựng hành cung ở Thanh Bình. Lính và thợ ứng dịch được cấp tiền gạo hai tháng. Trấn thần xin sai dân các huyện chia nhau đi lấy gỗ. Vua không muốn làm nhọc sức dân, sai quan tăng giá mà mua.

Sơn Tây bắt được giặc trốn là Nguyễn Danh Chí nguỵ xưng Tả Hà đại tướng quân, đem giết.

Nguyên miếu làm xong. Vua muốn truy tôn huy hiệu Trừng quốc công, sai bầy tôi bàn. Bọn Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm cho rằng lễ chưa đời nào đủ bằng nhà Chu. Chu công giúp nên đức của vua Văn, vua Võ, truy phong vương tước cho Thái vương, Vương Quý, và lấy lễ thiên tử thờ cúng Tiên công. Còn từ Tổ Cam trở lên đến Hậu Tắc thì chỉ gọi là Tiên công mà thôi, chưa từng tôn phong. Thế tổ Cao hoàng đế ta thống nhất trời nam, truy phong đế hiệu cho Triệu tổ và Thái tổ((1) Triệu tổ là Nguyễn Kim ; Thái tổ là Nguyễn Hoàng.1), cả đến liệt thánh, bèn nhân nơi nền cũ ở Quý hương dựng lên Nguyên miếu, chính miếu thờ Triệu tổ và Thái tổ, tả miếu thờ Trừng quốc công và phối thờ Lỵ nhân công, chưa từng truy tôn thuỵ hiệu. Đấy cũng là cùng một đường lối như nhà Chu thờ Tiên công. Xin vẫn theo hiệu cũ mà thờ cúng. Vua cho là phải.

Ngày Kỷ mão, vua ra cửa biển Thuận An xem đài Hải Trấn. Ngày hôm sau trở về.

Lại hoãn việc đào sông Vĩnh Tế. Dụ Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt rằng : “Việc sông ấy năm ngoái có chỉ tạm đình để năm nay lại đào tiếp. Duy nghĩ sông tuy chưa đào xong, đường nước cũng đã thông được thuyền bè, huống chi dịch lệ mới yên, chính là lúc phải để cho dân nghỉ ngơi, sao nên vội bắt dân vất vả ? Khanh nên tuyên cáo ý ấy cho dân đều biết”.

Tháng 2 ngày Nhâm ngọ, mồng 1, có nhật thực.

Cai bạ Quảng Nam Nguyễn Kim Trung vào yết kiến. Vua hỏi việc làm ruộng. Trung đáp : “Tháng sau mà không mưa thì sợ hại việc nông”. Vua buồn rầu nói : “Năm ngoái ân xá trong ngoài không đâu là không nhờ ơn. Còn nghĩ Quảng Nam mất mùa, một năm hai lần bán thóc ra, lo lắng cho dân không phải là không chu đáo. Nay đương mùa làm ruộng mà trời lại ít mưa, sao riêng khổ cho dân miền ấy để trẫm ngày đêm lo phiền”. Liền sai trung sứ chia đi các dinh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi để thăm dò lúa ruộng thế nào về tâu.

Sai Chánh giám sơn lăng sứ là Tôn Thất Đạo quản các vệ Hộ lăng, vệ binh thì cấp cho mỗi người một bộ áo quần.

Sai thuỷ quân lên núi lấy gỗ. Sắc cho các thợ rèn xem đồ dùng có sứt hỏng thì chữa lại. Từ đấy các sở công dịch xem đấy làm lệ.

Ngày Tân mão, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao.

Phục chức cho Trần Công Lại làm Vệ uý quân Thần sách, thự Trấn thủ Vĩnh Thanh. Trước Lại làm Đô thống chế trấn Thanh Hoa, có tội, gặp ân xá được miễn, theo Lê Văn Duyệt đi Gia Định. Duyệt xin hộ nên có mệnh này. Khi Lại bị tội, chưa nộp tờ chiếu về chức Đô thống chế, nay mới sai thu hồi. Nhân đấy, sắc cho bộ Hình từ nay quan lại có tội mà đáng xét hỏi thì trước phải cách chức và thu bằng sắc để nghiêm phép nước.

Quan Bắc Thành tâu nói : “Trong hạt thành giá bạc cao, người thu thuế cửa quan và bến đò xin nộp bạc và tiền mỗi thứ một nửa (lệ phải nộp toàn bạc), và lấy tiền kẽm nộp thay”.

Vua nói : “Nếu có thể thiệt trên mà lợi dưới thì tiếc gì”. Rồi sau dân các hạt Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Yên Quảng cũng nhân giá bạc cao, xin nộp thuế bằng toàn tiền (thuế ruộng, theo lệ nộp nửa bạc, nửa tiền). Vua đều y cho.

Miễn thuế năm nay cho các đầm bỏ hoang ở Bình Thuận, Bình Hoà. Ra lệnh cho quan hai trấn ấy gia tâm chiêu tập đấu giá như lệ.

Cho gọi sông An Cựu là sông Lợi Nông. Vua xem bản đồ Kinh thành, bảo thị thần rằng : “Tiên đế khai con sông này là lợi muôn đời cho nông dân”. Bèn đặt tên là sông Lợi Nông. Sai dựng kệ đá ở trên dưới cửa sông để ghi nhớ. Lại gọi con sông ở bốn mặt thành là sông Hộ Thành, và đổi gọi cầu Bạch Yến là cầu Kim Long.

Lấy Ký lục Vĩnh Thanh là Nguyễn Hựu Nghi làm thự Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào thành Gia Định, Hữu Tham tri Lại bộ là Trần Văn Tuân lĩnh hai tào Binh Công, Hữu Tham tri Hộ bộ là Nguyễn Xuân Thục chuyên lĩnh Hộ tào, Thiêm sự Hộ bộ là Vũ Văn Điềm biện lý Hộ tào, Tham luận quân Thần sách là Trịnh Văn Phượng làm Thiêm sự Binh bộ biện lý Binh tào, Tri bạ Gia Định là Nguyễn Đức Hợi làm Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào, Thư ký Bình Định là Phạm Phước Thiệu làm Lang trung Công bộ biện lý Công tào.

Lấy Hiệp trấn Cao Bằng là Lê Đình Khuê làm Hiệp trấn Thái Nguyên.

Tham hiệp Thanh Bình là Trần Văn Phú chết. Lấy Tri phủ Diễn Châu là Lương Vân làm Tham hiệp Thanh Bình.

Sai Hàn lâm Thừa chỉ Trần Công Tuân tham lý công việc các viện thuộc Văn thư phòng.

Bình Hoà bị hạn lâu, trấn thần không báo. Đến khi đảo được mưa đem việc tâu lên.

Vua quở rằng : “Bọn ngươi là chức tuần tuyên, khi gặp hạn dữ thì đáng phải kíp làm sớ tâu ngay và hết lòng thành cầu đảo, ngõ hầu sớm được mưa rào, lúa bị hạn có thể cứu được, sao lại mấy tháng không mưa mà cứ dùng dằng chọn ngày, đảo vũ được mưa rồi mới tâu lên ? Thế là bọn ngươi không gấp lo việc dân, trách nhiệm chăn dân ở đâu ? Nay hãy tha tội cho, sau đừng thế nữa”.

Bỏ tên Nguyễn Xuân Hải trong sổ hương cống. Xuân Hải người xã Đông Ngạc trấn Sơn Tây, khoa Kỷ mão khai mạo vào sổ Quảng Nam, đỗ Hương cống. Bầy tôi bàn bổ Tri huyện Diên Khánh. Hàn lâm Biên tu là Hoàng Quýnh phát giác việc ấy mà tâu hặc. Vua giao xuống cho bộ Hình bàn. Bộ thần bàn xin cho hai người được miễn tội.

Vua nói : “Việc kiện tất có người trái người phải, tha cả hai bên có được không ?” Hạ lệnh cho bầy tôi bàn lại. Đều cho là Hải dối vua là bất trung, quên cha mẹ là bất hiếu, xin bỏ tên không dùng nữa ; còn Quýnh tham hặc đúng thực, xin tha cho tội “nói việc vượt chức”. Vua cho là phải.

Lấy Ký lục Quảng Bình là Hoàng Kim Hoán làm Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ (trật Chánh tam phẩm). Sai bộ Lễ từ nay có chiếu sắc thì giao hết cho Kim Hoán để chia uỷ cho Hàn lâm vâng soạn.

Lấy Ký lục Định Tường là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Quảng Bình, Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân làm Cai bạ Quảng Đức, Tham hiệp Sơn Nam hạ là Nguyễn Hữu Phượng làm Ký lục Quảng Đức, Tri phủ Lạng Giang là Vũ Hữu Tín làm Thiêm sự Lễ bộ.

Tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Văn Y chết ; lấy Tri phủ Đức Quang là Nguyễn Hữu Bảo làm Tham hiệp Nghệ An.

Lấy Tham hiệp Hà Tiên là Lê Đăng Doanh làm Thiêm sự Lại bộ. Trước Đăng Doanh được triệu về Kinh, khi đến Kinh mắc bệnh, không thể yết kiến được. Vua nghĩ Đăng Doanh ngày trước có công phụ đạo((1) Phụ đạo : giúp đỡ việc học của Thái tử.1), cho tiền ưu dưỡng. Đến nay bệnh khỏi, bèn bổ cho chức ấy.

Lấy Đốc học Kinh Bắc là Nguyễn Tuần Lý làm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ, Đốc học Sơn Nam thượng là Nguyễn Mậu Bách làm Hàn lâm viện Thị độc, Trợ giáo Sơn Tây là Nguyễn Tập làm Đốc học Sơn Nam thượng.

Dựng hai miếu Hội đồng và Tam Toà ở Quảng Bình (miếu Hội đồng ở xã Lương Yên, huyện Phong Lộc ; miếu Tam Toà ở ngoài luỹ Nhật Lệ).

Mua đường cát ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, hộ làm đường muốn lĩnh tiền hoặc bạc đều cho cả.

Bắt đầu cho quan viên văn võ gia cấp. Chiếu rằng : “Trước thưởng là để khuyến khích người hiền tài công lao, cấp bậc là để ban ân điển. Hoàng khảo ta mở nền phục nghiệp, công đức đều thịnh, chia chức đặt quan, quy mô rộng rãi, đã định đặt điển lệ gia cấp, nhưng chưa rỗi để bàn. Trẫm buổi đầu nối nghiệp, noi theo chí hướng Tiên đế, đã từng xuống ân chiếu cho văn võ trong Kinh từ tứ phẩm, ở ngoài từ tam phẩm trở lên, đều gia thêm một cấp, nhưng vì Tiên đế mới vắng, công việc bề bộn nên chưa thi hành. Nay tiết vừa mùa xuân, chính nên làm việc vui mừng ân huệ. Vậy hai bộ Lại, Binh phải xét rõ sổ quan lại, kể từ ngày mồng một tháng giêng, năm Minh Mệnh thứ 1, phàm các quan văn võ đều theo chiếu trước mà gia thêm một cấp, lại gia ân chuẩn cho cùng với lệ quân công mà gia cấp, làm chiếu văn cấp cho. Bọn ngươi phải kính trọng chức quan của mình, kính theo mệnh ta, đem hết tài năng giúp vầy mưu lược, nối vui tốt lành vô tận, để hưởng phước thái bình đời đời”.

Ngày Tân sửu, dựng miếu Hưng tổ. Trước đây, năm Gia Long thứ 3, dựng miếu ở phía hữu trong hoàng thành, gọi là miếu Hoàng khảo. Đến nay, bàn dựng Thế miếu ((1) Thế miếu : miếu thờ Gia Long.1), bèn dời miếu ấy dựng ra phía bắc. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hữu tham tri Công bộ Trần Văn Tính trông coi công việc. Bầy tôi bàn dâng miếu hiệu là Hưng tổ, đại lược nói rằng : “Hoàng tổ là con thứ hai dòng đích của Thế tông Hiếu Võ hoàng đế ta, phát phước đã lâu dài, sinh ra Thế tổ Cao hoàng đế ta, ứng mệnh trời thuận lòng người, quét sạch biến loạn, khôi phục nghiệp cũ, mở mang toàn cõi nước Việt, nghiệp đế nổi lên thực gốc ở đây, theo lẽ phải làm rạng tỏ công đức, sao cho xứng đáng. Phàm chữ “Hưng” nghĩa là khởi nghiệp, lại có ý là thịnh vượng, Kinh Thi có câu : “Trời giúp cho người, sao chẳng nổi dậy (Hưng). Vậy xin lấy chữ “Hưng” làm miếu hiệu. Vua khen phải.

Bắc Thành tâu nói : Trong 20 huyện châu ở hạt trấn Hưng Hoá thì 16 châu đều nộp thuế thay bằng tiền, duy có 4 huyện Thanh Xuyên, Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập và huyện Tam Nông ở Sơn Tây nộp theo thì hằng năm số thóc thuế chỉ có hơn 5.000 hộc, lấy để chi cấp lương bổng, thường lo không đủ, sợ không có sẵn dùng những lúc có việc hoãn cấp. Vậy xin trích hai huyện Hạ Hoa và Hoa Khê thuộc Sơn Tây là nơi gần trấn lỵ khiến nộp theo để chứa trữ. Vua y lời tâu.

Lại sai các quan trong ngoài đều cử những người mình biết. Chiếu rằng : “Từ khi đấng minh vương dùng người dựng chính, không phải là mượn nhân tài ở thời đại khác. Ta từ ngày giữ chức đến nay, cầu người hiền sĩ như khát nước, đã từng hạ lệnh cho trong ngoài đề cử người hiền, mà đã lâu không thấy cử ai. Một ấp mười nhà tất cũng có người trung tín. Cả nước rộng rãi thế này mà lại không có nhân sĩ đủ tài đủ đức sao ? Hoặc giả chưa hết lòng tìm hỏi, đến nổi kẻ hiền tài còn bị che lấp mà chưa được trên biết đến, chẳng hoá ra phụ ý trẫm cầu tài rộng khắp hay sao ? Vậy các ngươi phải đề cử những người mình biết, trẫm sẽ tuỳ tài bổ dụng”.

Lấy Vệ uý quân Thần sách là Phan Tiến Hoàng làm thự Trấn thủ Phiên An.

Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt uỷ cho Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh vào yết kiến.

Vua nhân nói : “Người Chân Lạp hẳn đã sợ uy mộ đức chưa” ? Vĩnh đáp : “Sợ uy thì có, còn mộ đức thì chưa dám chắc”.

Vua nói : “Tình dân Man vốn như thế, ta nên sửa thêm đức tốt thôi”. Khi Vĩnh về, vua dụ rằng : “ở Gia Định bệnh dịch lại phát, ngươi về bảo Lê Văn Duyệt hạ lệnh cho nhà dân theo cách bỏ lửa cũ lấy lửa mới, thì bệnh dịch có thể bớt được. Đấy là phương pháp tìm lành tránh dữ ghi trong sách cổ, mà lại là dị ý của người xưa dùi cây đổi lửa vậy”.

Vệ uý Trung vệ dinh Long võ là Mai Văn Thành dâng biểu đề cử Cai án thuộc dinh là Vũ Văn Trinh làm Thư ký Bình Định. Vua nói : “Thuộc hạ mình khuyết, đề cử vượt sang nha khác có nên không ?”. Nhân sắc rằng : “Từ nay quản lĩnh các dinh vệ xét thấy thuộc hạ mình có người tài giỏi mà không có chỗ khuyết để thăng bổ thì làm tờ trình rõ với đại thần, liệt khai lý lịch và sự trạng người ấy, tâu xin lượng tài bổ dụng. Không được đề cử vượt quyền”.

Định rõ lại điều lệ thi Hương. Hai trường Quảng Đức, Nghệ An thì lấy thượng tuần tháng 7, trường Gia Định thì hạ tuần tháng 9, các trường Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam thì thượng tuần tháng 9, vào thi. Phàm học trò ứng thi khoa trước chưa đỗ trường nhất, trường nhì thì do học quan xét hạch nếu là thuộc lại trong quân thì do người cai quản xét hạch, ai trúng thì ứng thí, người du học đều phải về nguyên quán, không được phụ thí. Lại hạ lệnh yến Lệ Minh thi Hương năm nay lấy bạc cấp thay.

Sai Bình Hoà mộ người lập hai đội thuộc lệ, mỗi đội 50 người, chia ra đóng ở thủ Bình Nguyên và các cửa biển Cam Ranh, Hòn Khói.

Bắt đầu dựng Quốc tử giám (ở giữa Giảng đường, đằng trước làm Di luân đường, hai bên tả hữu làm phòng ở cho tôn sinh, giám sinh). Vua khi mới lên ngôi, sai dinh thần Quảng Đức gọi thợ và sắm gỗ, sau vì có bệnh dịch lại thôi. Đến nay mới xây dựng.

ở Hương Sơn trấn Nghệ An có cướp nổi. Viên quan võ bắt cướp là Nguyễn Văn Thiết bị chết. Việc tâu lên. Vua dụ Trấn thủ Nguyễn Văn Xuân rằng : “Cuộc hành quân này quân cướp có 60 người mà quân của Thiết cũng 60 người, không phải là quân ít, giặc nhiều, mà không địch nổi, làm sao lại chịu thua ? ấy bởi tại ngươi ngày thường kỷ luật không nghiêm nên đến nỗi thế. Nay phải dạy khuyên quân lính, liệu phương lùng bắt, khiến cho giặc hết dân yên. Nếu điều độ sai trái, bọn cướp thừa cơ quấy rối thêm thì dù thương ngươi già, nhưng còn phép nước thì sao ? Ngươi phải kính theo lời ta, chớ chểnh mảng”.

Dụ đến, Xuân sợ hãi xin nhận tội, rồi tức khắc thân đem binh voi, chia phái đuổi đánh, bắt được hơn 20 tên cướp. Xuân đem việc tâu, nói là chưa đủ lệ thưởng.

Vua nói : “Thưởng phạt đúng phép là đạo dụng binh. Có công không thưởng thì lấy gì mà khuyến khích”. Rồi sai đem bạc thưởng cho theo thứ bậc.

Vua lại nghe tin trấn thần phái binh đi tuần bắt mà không cấp lương đi đường, bèn dụ rằng : “Thương nuôi quân lính là việc trọng yếu nhất của nhà binh. Nay giao cho trách nhiệm đi bắt cướp mà lại không cho ăn, thì có thể nào đói bụng mà trị được giặc ! Từ nay biền binh có việc công sai, phải tuỳ việc khó dễ, định hạn đi đường mà phát lương tiền cấp cho”.

Vua đến hai xã An Vân, Cổ Vưu xem lúa ruộng, triệu kỳ lão đến hỏi, đều nói rằng lúa năm nay tốt hơn những năm gần đây nhiều. Vua cả mừng, lại đi thăm sông Lợi Nông, triệu kỳ lão xã Thanh Thuỷ hỏi. Đáp rằng hiện nay lúa hơi tốt, nhưng chưa biết thu hoạch sẽ ra sao. Vua nói : “Trẫm vì dân mà lo việc nông, được mùa thì mừng, chứ không phải nhân thể mà đánh thuế nặng thêm, sao không nói thực, há không phải là phụ ý trẫm ư ?”. Đến xã Dã Lê lại hỏi kỳ lão. Đáp rằng : “Bọn thần tuổi quá 70, chưa từng thấy năm nào lúa tốt như ngày nay”. Vua khen là thành thực, ban cho 20 quan tiền. Chưa được bao lâu, bỗng có gió bấc. Vua triệu dinh thần Quảng Đức là Ngô Bá Nhân bảo rằng : “Nay lúa mới làm đòng mà gió bấc lạnh lẽo, trẫm rất lấy làm lo. Ngươi phải xét hỏi dân gian xem lúa ruộng có tổn hại không. Trẫm ngày đêm sốt ruột lo lắng về đó, không phải là mộ lấy tiếng khen, chính vì nghĩ đến nhà nông suốt quanh năm cần khổ, nếu không được mùa thì không khỏi đói rét vậy”.

Ra lệnh cho văn võ đều cử những người thuộc hạ có tài nghệ. Dụ rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay chỉ lo có được nhân tài, đã từng tìm kiếm rộng khắp để tuỳ tài, ghi tên bổ dụng. Nhưng còn nghĩ học trò tài giỏi bị chìm giấu ở hàng quan dưới còn nhiều, nếu không cho tiến dẫn ngoài lệ thì sao đạt đến trên được. Từ nay các viên nhân chuyên quản, văn mà có người kinh sách thông thạo, viết và toán tinh thông, võ mà có người thao lược uẩn súc, tài nghệ thành thạo, nếu biết đích xác thì dẫu chưa dự vào lệ đình thần đề cử cũng được xét cử do hai bộ Lại Binh tâu lên”.

Đổi Nội hàn ty làm Nội hàn viện, sai bọn Nguyễn Đăng Tuân chọn người viện thuộc, ai có văn học cần mẫn, kham nổi việc thì bổ cho các chức Biên tu, Kiểm thảo, Điển bạ theo thứ bậc khác nhau.

Chia Văn thư phòng làm hai tào (Thượng bảo, Biểu bạ, Đồ thư, Ký chú), lấy các thuộc viên chia giữ công việc.

Đặt kho Đốc tín ở bảo Châu Đốc thành Gia Định để thu tô thuế của hai huyện Vĩnh Định, Vĩnh An sung làm lương quân. Rồi sai Thiêm sự Binh tào thuộc thành là Nguyễn Đức Hội biện lý công việc lương tiền ở Châu Đốc.

ở huyện Lễ Dương, Quảng Nam có mưa đá. Thị thư Lê Vạn Công nhân đi xét hỏi về tâu. Vua nói đấy là khí âm ức khí dương nên sinh ra thế. Hơn một tháng trấn thần mới đem việc thiên tai báo lên. Vua quở rằng : “Các dinh trực lệ đều được mùa, duy chỉ hạt ngươi có tai nạn riêng, sao không kịp tâu ngay, có phải là sơ ý của trẫm uỷ giao cho việc chăn dân như thế đâu !”. Bèn sai tha thuế ruộng cho 11 xã bị tai.

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển VIIi

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa xuân, tháng 3, ngày Quý sửu, tôn Hoàng mẫu làm Hoàng thái hậu. Trước một ngày, sai quan kính cáo ở các miếu. Vua thân đến điện Hoàng Nhân cáo việc ấy. Đến ngày, vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ, dâng sách vàng, ấn vàng để làm lễ tiến tôn. Sách văn rằng : “Gốc nguồn là mẹ, công sinh thành tham dự với cha ; đức cả nổi danh, mệnh tốt này thực trời ban xuống. Tô son rực rỡ, sách ngọc huy hoàng. Kính nghĩ : Hoàng mẫu bệ hạ, nhân hậu tự trời, hiền minh dòng dõi. Từ ái đối với con cháu ; phước đức để cho nước nhà. Dạy dỗ thân con, ngày nay mới có. Đã hưởng thiên hạ hiếu dưỡng, đáng được thiên hạ lừng danh. Thành khẩn chuẩn lời đình thần, nghển trông đức từ khiêm tốn. Hiếu lớn biểu dương khuôn phép, nên dùng thức văn quý tôn. Bởi thế đã xin mệnh ở Tôn Miếu, thân đem bầy tôi kính mang sách ấn dâng tôn hiệu Hoàng thái hậu. Kính nghĩ, danh lớn chính đáng, phước tốt dồi dào. Một nhà đều vui vẻ ; phong hoá gốc từ đây. Muôn năm mong sống lâu ; đời đời hưởng phước mãi”.

Ngày hôm sau, vua ngự điện Thái Hoà, ban ân chiếu cho trong ngoài. Chiếu rằng : “Chính danh vị là mối đầu trong việc chính ; tôn cha mẹ là hiếu lớn của người con. Từ xưa đế vương thừa hưởng dư đồ, ai cũng nêu đức để phước, khiến cho khắp nơi chan hoà. Nhà Chu có bài vị Tư Trai((1) Tư Trai : một bài trong Kinh Thi, ca tụng đức hạnh Thái Nhâm là mẹ sinh ra vua Văn vương nhà Chu.1) ghi làm thi ca ; nhà Hán có ca Trường Lạc((2) TrườngLạc : nhà Hán làm cung này ở góc phía đông Tràng An. Sau Hán Huệ đế lấy cung này làm nơi ở của mẫu hậu.2) lưu trong sử sách. Thực là luân thường phép lớn, vẻ đẹp đời bình. Kính nghĩ Hoàng mẫu giúp Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, sáng tỏ đức hiền. Lòng từ ái ban cho con cháu, phước tích luỹ để cho nước nhà. Dạy dỗ cho ta, thừa hưởng nghiệp lớn. Tuy mưu mô trị nước toàn nhờ Hoàng khảo, mà ngôn hành đúng đắn, đều nhờ Từ cung. Trông lên ân lớn đức to, không thể nói xiết. Trước đây các quan xin dâng tôn hiệu, trẫm phụng chỉ Từ cung, người cứ khăng khăng khiêm tốn, hai ba lần mới được chuẩn y. Bèn tham xét điển lễ, hợp với lòng người, lấy ngày mồng 2 tháng này kính cáo Tôn Miếu, ngày mồng 3 kính đem quần thần mang sách ấn dâng tôn hiệu Hoàng thái hậu, để báo đáp đức tốt của người, và tôn trọng việc hiếu. Nay trong ngoài đã đều vui lòng, nên ban ơn rộng cho khắp cõi. Vậy có ân điển 5 điều : 1) Các hoàng tử tước công đều được cho bạc thay yến theo thứ bậc.

2) Thái trưởng công chúa, trưởng công chúa, công chúa và phủ Tôn nhân, đều được ban ơn. 3) Các quan ở Kinh từ tam phẩm, ở ngoài từ nhị phẩm trở lên và các quan dinh trấn đều được cho bạc thay yến theo thứ bậc. 4) Vợ các quan văn võ ai chiếu theo phẩm trật của chồng mà được dự phần bạc thay yến được thì được ân tứ. 5) ở Kinh các cụ già từ 80 tuổi trở lên ban 1 lạng bạc, 90 tuổi trở lên được ban 1 lạng bạc, 1 tấm vải ; 100 tuổi trở lên, được ban 2 lạng bạc, 1 tấm vải. Ôi ! Lấy thiên hạ để nuôi mẹ, mà lòng hiếu vẫn chưa đủ ; hưởng thánh thọ đến vô cùng, mong theo khuôn được lâu dài. Lấy một người làm tiêu chuẩn cho bốn phương ; đem lòng hiếu làm căn bản cho muôn việc. Nay đại lễ đã làm trọn, nên ban lời để dạy khuyên”.

Ngày Giáp dần, dựng miếu Thế tổ. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hữu Tham tri Binh bộ Nguyễn Khoa Minh trông coi công việc. Rồi đúc quả chuông to. Sai Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm bài văn để ghi. Lời văn rằng : “Năm Tân tỵ Minh Mệnh thứ 2, dựng miếu Thế tổ ở bên hữu hoàng thành. Khi sắp xong, sắc cho hữu ty đúc một chuông, tạo một trống, treo ở gác đông gác tây, để hằng năm dùng vào việc cúng tế, khắc minh truyền lại vạn ức năm vô cùng về sau. Bài minh rằng : Nghiệp đế Thái (sơn) bàn (thạch), sênh ca trị đạo. Tiếng đức vang lừng. Đẹp thay Thanh miếu”.

Vua từng cùng bầy tôi bàn việc thờ cúng ở miếu. Bầy tôi tâu nói : “Nhà Minh khoảng năm Hồng Vũ cho rằng việc cúng tế ở Thái miếu chưa đủ tỏ lòng hiếu, bèn dựng riêng điện Phụng Tiên, sớm hôm đốt hương, sóc vọng chiêm bái, hằng năm các lễ Thường tân, ngày sinh, ngày kỵ, đều tế ở đấy. Điển nhà Thanh cũng theo như thế. Tuy lễ cổ chưa có, nhưng lễ do nghĩa mà đặt ra, cũng càng thấy lòng hiếu kính rất mực của đế vương vậy. Thế tổ Cao hoàng đế ta, bắt đầu dựng điện Hoàng Nhân, cũng có ý nghĩa như vậy. Nay đã dựng Thế miếu, thì điện Hoàng Nhân cũng như điện Phụng Tiên nhà Minh nhà Thanh. Vậy xin khi làm lễ thăng miếu xong thì rước an thánh vị về điện Hoàng Nhân. Còn lệ lễ tiến cúng thế nào, sẽ do quan bộ Lễ bàn rõ để tâu”. Vua khen phải.

Khâm sai thuộc nội chưởng cơ vệ Hộ lăng tiền là Đào Văn Cửu vì già ốm về hưu, sai cấp cho bổng hằng năm theo công thần Vọng Các ; đến khi chết, cho 100 quan tiền, 1 cây gấm Tống, cấp 4 người mộ phu.

Phó tướng Tiền quân Mạc Văn Tô có bệnh xin về hưu, cấp cho 30 người quân lệ tòng.

Nước Vạn Tượng sai sứ vào cống. Sứ giả là bọn Phì Chủ Phô vào yết kiến tâu nói : “Tiểu quốc xa nghe tin Tiên đế chầu trời, Hoàng thượng mới lên ngôi báu, nhưng vì núi sông cách trở, chưa dám tin làm đúng, cho nên chỉ theo lệ hằng năm sửa lễ cống, còn lễ viếng và lễ mừng còn thiếu. Cúi xin thánh thượng lượng thương tình xa xôi, thứ cho tội sơ suất là may cho tiểu quốc”.

Vua an ủi, cho hậu và bảo về (Ngoài lệ thưởng, còn thưởng thêm cho Quốc trưởng 5 cây gấm đoạn, luạ các màu, là nam, sa nam, the nam, mỗi thứ 10 tấm, 1 bộ đồ chè bịt vàng, bát bịt vàng bịt bạc mỗi thứ 1 cái, đĩa bịt bạc 10 cái, trống lớn 1 cái ; chánh sứ 1 áo chiến bằng gấm Tống đỏ, phó sứ một áo chiến bằng nhung đoạn lam, mỗi người đều 1 xiêm bằng gấm man, 1 cỗ cáng, 1 cái lọng, 1 bộ đồ chè bịt bạc, 20 lạng bạc ; chánh sứ 2 cây súng tây bằng kim loại, phó sứ 1 cây, mỗi người đều một thanh đao mạ bạc ; tù trưởng 8 lạng bạc, thông ngôn 5 lạng, mỗi người đều được

áo chiến bằng trừu màu bảo lam, 1 bức xiêm man ; dân man mỗi người được 3

lạng bạc).

Chủ Phô lại nói : “Trước đi qua Nghệ An, đường sá nhiều nơi bị ngăn trở”. Vua bèn dụ cho trấn thần theo địa hạt mà cho tuần xét và cho quân hộ vệ họ về.

Trước kia, Phì Chủ Phô khiến thuộc man châu Quy Hợp là Phọc Khâm sách nhiễu động Động Dịch, dân động ấy tố cáo về Nghệ An, trấn thần xét được tình trạng tâu lên. Vua cho là dân man di ở ngoài vòng vương hoá, không muốn bó buộc họ vào pháp luật, hạ lệnh cho trấn thần gửi công văn cho quốc trưởng Vạn Tượng để răn cấm, và bắt Phọc Khâm phải tự hối cải để dân biên giới được yên.

Chuẩn định phàm chức Vệ uý Thị nội trật Chánh tam phẩm, Phó vệ uý trật Tòng tam phẩm nhất thiết đều cho quan chế, trừ khi được đặc ân chuẩn cho cùng phẩm trật với quân Thị nội trung thì không theo lệ này.

Lấy Khâm sai chưởng dinh lĩnh Trung quân phó tướng thự lý ấn vụ là Trương Tiến Bửu lĩnh chức Phó tổng trấn thành Gia Định và khiến hơn 200 người các đội thuộc vệ Tín trực đi theo. Từ khi Hoàng Công Lý bị tội, vua từng hỏi các đại thần rằng : “Chức Phó tổng trấn Gia Định có nên đặt lại không” ? Nguyễn Văn Nhân đáp rằng : “Việc ngoài trấn rất nhiều, Tổng trấn nắm đại cương mà thôi, không có chức phó không được”. Vua cho là phải. Đến nay sai Tiến Bửu đi. Tiến Bửu là người trọng hậu, giản dị và trầm tĩnh, tuổi hơn 70, khi bệ từ, vua dụ rằng : “Người lão thành từng trải thì hẳn không đến nỗi như Công Lý. Nhưng nếu một mực rộng rãi thì tôi tớ làm bậy, tội đến chủ nhà, há nên chẳng tự răn sao ?”.

Lấy Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Kim Trung làm Cai bạ Quảng Ngãi, thự Thượng bảo khanh là Nguyễn Đăng Tuân làm Cai bạ Quảng Nam. Tuân tâu xin một năm lại cho về Kinh. Vua nói : “Người bầy tôi nên hết lòng làm việc, trong triều ngoài quan cũng thế, hà tất phải chọn nơi làm việc mới là trung ?”. Tuân lạy tạ.

Triệu trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Hưng và Ký lục Nguyễn Viết Ky về Kinh ; lấy Phó đô thống chế Trung dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Soạn lĩnh Trấn thủ Quảng Ngãi, Thiêm sự Hộ bộ là Vũ Huy Đạt làm Ký lục Quảng Ngãi, Nguyễn Kim Lộc làm Thiêm sự Hộ bộ. Soạn bệ từ. Vua dụ rằng : “Ngươi chỉ am hiểu việc quân, chưa từng trải việc dân chính, nay đi nên lấy khoan hoà làm lòng, khiến cho dân được yên ổn không xảy việc gì. Các tư lại thuộc quyền, nên xét rõ kẻ hay người dở, tâu lên định thưởng phạt, để khuyên thiện trừng ác. Một dải biên giới tiếp giáp với các man, ngươi phải xét rõ địa thế, chia binh đóng giữ. Đó là trách nhiệm coi giữ bờ cõi, phải nên cẩn thận”.

Trấn thủ Biên Hoà là Tống Văn Khương, Ký lục là Hoàng Công Xuân, Cai bạ là Bùi Phụ Đạo, vì trước thiện tiện cho bắt binh dân làm việc riêng cho Hoàng Công Lý, việc phát giác đều bị bãi. Lấy Vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách là Trần Phước Trung làm Trấn thủ Biên Hoà, Ký lục Bình Hoà là Bùi Đức Minh làm Cai bạ, Thiêm sự Công bộ là Trương Quang Hải làm Ký lục. Phước Trung đến lỵ sở, chưa được bao lâu thì chết.

Lại sai quan đi bảo hộ quốc ấn nước Chân Lạp. Vua phiên Nặc Chăn dâng biểu nói rằng : “Nước ấy nhỏ yếu, trước đã nhờ ơn vun trồng của Thế tổ Cao hoàng đế, sai quan bảo hộ, nước ấy nhờ được yên ổn. Vì Chăn còn trẻ dại, nghe lời gièm pha, đến nỗi quan quân bảo hộ rút về Gia Định, trong nước liền xảy ra các loạn nghịch Kế, nghịch Tây. Nhờ quan quân tiến đánh, dẹp hết được đảng nghịch, Chăn mà giữ được nước nhà đều là nhờ ơn tái tạo của triều đình. Vậy xin đặt quan bảo hộ như trước”.

Vua thương tình, sai Nguyễn Văn Thuỵ đóng giữ bảo Châu Đốc, lại lĩnh chức Bảo hộ quốc ấn nước Chân Lạp, kiêm lý việc biên vụ Hà Tiên. Dụ rằng : “Châu Đốc là đất xung yếu, ngươi nên khéo phủ dụ, mộ dân buôn lập thành làng mạc để hộ khẩu ngày một tăng, đồng ruộng ngày mở mang. Còn việc biên phòng cũng phải cẩn thận. Phàm có biểu văn, công văn của Chân Lạp, phải duyệt trước rồi hãy phát. Công việc nước ấy thì nhất thiết uỷ cho bọn vua phiên, quan phiên theo quốc tục mà làm. Lại nên nghiêm cấm quân sĩ không được mưu việc riêng, để giữ quốc thể”.

Lấy Phó vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ uý vệ Nội hầu, Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả Tả dinh quân Thần sách là Hồ Văn Trương làm Phó vệ uý vệ Chấn uy dinh Thần cơ, Phó vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội là Trương Công Tồn làm Phó vệ uý vệ Thần uy.

Cho thợ các cục ở Kinh hơn 1.200 quan tiền. Bắt đầu đặt các chức Tế tửu, Tư nghiệp Quốc tử giám (Tế tửu trật Chánh tứ phẩm, Tư nghiệp trật Tòng tứ phẩm), sai Ký lục hành đốc học Bình Định là Vũ Xuân Biều lấy hàm Chánh tam phẩm sung chức Tế tửu, Giáp phó đốc học Quốc tử giám là Ngô Trọng Vân đổi bổ làm Tư nghiệp, ất phó đốc học Nguyễn Huy Tá lấy bản chức làm hành Đốc học Bình Định. Vua bảo Xuân Biều rằng : “Nhà Quốc tử là nơi giáo dục nhân tài, ngươi nên một tháng một lần tâu lên ai có tài hạnh thì cấp cho lương tiền để học nghiệp, không thì cách cho về”.

Đại sứ Bảo tuyền cục là Trương Văn Minh xin nghỉ một năm đi Gia Định lấy hài cốt tổ phụ đem về cát táng. Vua y cho. Sai Phó tổng trấn Bắc Thành là Lê Văn Phong quyền giữ công việc Giám đốc cục Bảo tuyền.

Đổi dựng kho ngói An Dụ ở Bình Định. Vua thấy đất ấy liền núi giáp biển, đường thuỷ lưu thông, việc vận chuyển công tư đều tiện, trước đã có kho cũ, thu tiền khoán khố bổ theo điền mẫu của dân mà làm, đến nay sai trấn thần chi hơn 3.000 quan tiền công thuê thợ xây dựng nhà miễn tiền khoán khố. Vừa án trấn Trương Phước Đặng vào chầu, từ biệt về, vua dụ rằng : “Hạt ngươi dân khổ chưa hồi, việc làm kho thực là bất đắc dĩ. Ngươi làm trọng thần của nước, nên răn dạy thuộc viên không được tạ sự bóc lột. Chẳng thấy gương Hoàng Công Lý đấy sao ?”.

Lấy Hàn lâm Tu soạn là Nguyễn Đăng Sở làm Đốc học thành Gia Định, sĩ nhân Nghệ An là Nguyễn Trọng Vũ làm Phó đốc học. Đó là theo sự đề cử của triều đình .

Vua từng bảo Thượng thư Hộ bộ là Nguyễn Hữu Thận rằng : “Người Gia Định vốn tính trung nghĩa nhưng ít học, cho nên phần nhiều tính hay tức khí với nhau. Nếu được bậc đại nho túc học làm thầy dạy bảo cho điều lễ nhượng thì dễ hoá làm thiện mà thành tài cũng nhiều đó”.

Bắc Thành mua kẽm, nhà nước trả toàn bằng tiền. Người buôn thấy giá bạc cao xin lĩnh bạc tiền mỗi thứ một nửa. Thành thần tâu lên. Sai tăng giá lên mà trả (bằng tiền).

Lấy Ký lục Phiên An là Trương Công Vỹ làm Ký lục Định Tường, Thiêm sự Binh bộ là Đoàn Văn Chất làm Ký lục Phiên An.

Đúc ấn “Lưu kinh” bằng bạc (ấn khắc bốn chữ triện “Lưu kinh chi ấn”).

Đúc ấn quan phòng bằng đồng cho hai ty quản lý Thương bạc, Tào chính và các tào Hộ, Binh, Hình, Công của Gia Định, Bắc Thành, cùng ấn đồng cho các dinh trấn đạo phủ châu huyện. (Trước thì ấn triện các dinh trấn đạo đều khắc năm chữ triện “mỗ dinh, mỗ trấn, mỗ đạo chi chương”, các phủ châu huyện đều dùng triện gỗ, đến nay đúc ấn cấp cho các dinh trấn đạo thì đều khắc bốn chữ triện “mỗ dinh ấn”, hoặc “mỗ trấn ấn”, hoặc “mỗ đạo ấn”, ấn của phủ châu huyện cũng đều khắc bốn chữ triện “mỗ phủ ấn”, hoặc “mỗ châu ấn”, hoặc “mỗ huyện ấn”). Sắc từ nay các nha trong ngoài có thay đổi gì hoặc đặt ra, đều do bộ tâu xin chế ấn cấp cho.

Đổi cấp ấn quan phòng bằng đồng cho Quản lĩnh thượng đạo Thanh Hoa giám đốc quế hộ là Hà Công Thái (nguyên cấp ấn đồng).

Vua thăm trường súng, xem các quân diễn bắn. Nhân sai một người trong Văn thư phòng hằng ngày đến trường bắn xem ai bắn trúng thì thưởng. (Bắn trúng đích thưởng 2 lạng bạc, trúng khuyên thưởng 1 quan tiền), ba ngày một lần tâu.

Vua thăm Quốc tử quán, sai đặt ngự toạ ở chính giữa và lập bia “nghiêng lọng, xuống ngựa”((1) Chữ Hán là : khuynh cái hạ mã.1) ở trước cửa. Lại sai dựng nhà tả, nhà hữu.

Chế biển treo cửa công đường sáu bộ (khắc bốn chữ “Mỗ bộ đường môn” thếp vàng).Vua chuộng khen những người tiết hạnh, từng bảo thị thần rằng : “Lúc trẫm mới lên ngôi, có chiếu cho trong ngoài xét xem ai là hiếu tử thuận tôn, nghĩa phu tiết phụ, thì tâu xin nêu thưởng để khuyến khích phong hoá. Thế mà đến nay chưa có ai tâu thì sao đáp được cái ý thiết tha giáo hoá, gây dựng phong tục của trẫm”. Lại hạ lệnh cho các địa phương xét hỏi để tâu. Sau có người con gái ở Bình Định là Nguyễn Thị Phiếu và người con gái ở Kinh Bắc là Hà Thị Biên đều không chịu nhơ mình vì kẻ cường bạo mà bị hại, sở tại tâu lên, vua sai đều ban cho biển vàng ( khắc bốn chữ “Mỗ thị trinh nữ”) để nêu khen.

Miếu Hưng tổ làm xong (nhà chính, nhà trước đều ba gian hai chái ; hai bên tả hữu hai nhà vuông, cửa trước gọi là cửa miếu, cửa tả gọi là cửa Chương Khánh, cửa hữu gọi là cửa Dục Khánh, đàng sau bên tả gọi là cửa Trí Tường, bên hữu gọi là cửa ứng Tường).

Ngày ất sửu, vua đem bầy tôi rước bài vị Hưng tổ Hiếu Khang hoàng đế và thần chủ Hiếu Khang hoàng hậu lên miếu (Trước kỳ đã đề lại bài vị, đến nay rước đặt ở miếu mới).

Ngày Bính dần, vua rước Hoàng thái hậu đi yết lăng Thiên Thụ, vì mới tiến tôn hiệu. Thưởng cho các quân theo hầu hơn 1.000 quan tiền và quân hộ lăng 100 quan tiền. Từ đấy theo đó mà làm lệ.

Thự Hữu Tham tri Binh bộ là Lê Đại Nghĩa chết. Nghĩa từng chầu hầu ở Tiềm để và có công phụ đạo. Vua thương, sai cấp tiền tuất theo lệ Tham tri, phát kinh binh hộ tang về làng.

Dựng đền thần núi ở các tôn lăng. Dụ rằng : “Nước nhà ta gây dựng nghiệp lớn, giữ mệnh trời lâu dài. Kính nghĩ lăng tổ khí thiêng chung đúc, chứa chất phước lành, đáng phong tặng cho thần núi Thiên Tôn lăng Trường Nguyên làm thần Triệu Tường sơn, thần núi lăng Trường Cơ làm thần Khải Vận sơn, thần núi lăng Cơ Khánh làm thần Hưng Nghiệp sơn, đều làm đền thờ để đáp ơn thần”. (Điển thờ nhất thiết theo như đền thần Thiên Thụ sơn. Nay đều thờ theo ở đàn Nam Giao).

Chưởng Thuỷ quân Tống Phước Lương dâng một viên ngọc, ban cho 150 lạng bạc.

Lấy Hiệp trấn Hưng Hoá là Trần Văn Lộc làm Ký lục Vĩnh Thanh, Tri phủ Thái Bình là Bùi Phổ làm Thiêm sự Hộ bộ, Tri phủ Từ Sơn là Đặng Đình Dương làm Thiêm sự Lễ bộ, Tri phủ Khoái Châu là Hoàng Nghĩa Thao làm Thiêm sự Công bộ.

Vệ uý vệ Nội hầu là Nguyễn Hữu Khâm thấy vệ binh đều là tôn thất, sợ khó sai khiến, xin đặt đại thần trông coi. Vua nói : “Người trong họ vua chỉ là không được chửi mắng mà thôi. Ngươi đã làm Quản suất, ai làm trái đã có phép, sao lại phải nhờ đến đại thần ?”.

Thu thóc thuế năm huyện (Cẩm Giàng, Chí Linh, Thanh Hà, Thanh Lâm, Tiên Minh) thuộc Hải Dương chứa ở kho Xích Đằng để đến kỳ thì chuyển vận đi.

Xã An Lai thuộc Quảng Đức xin miễn 6 tháng dao dịch cho binh dân để cùng nhau đào sông tưới ruộng. Vua khen là chăm nghề nông, cho 100 phương gạo kho để giúp phí tổn. Lại sắc cho dinh thần đến xem xét. Hai xã Lễ Môn và An Ninh (Lễ Môn thuộc Quảng Trị, An Ninh thuộc Quảng Đức ), cũng vì khe ngòi bị tắc, xin rút binh xã về để khơi đào. Vua đều y cho.

Chuẩn định rằng danh tước các quan văn võ trong ngoài có trùng cả hai chữ với tên các sơn lăng, cung điện, cửa miếu, cửa cung điện và tên các thành dinh trấn đạo phủ, đều đổi lại hết.

Sai Vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản các đội Nội hầu Ngân súng.

Lấy Phan Đắc Hùng làm Hàn lâm viện Điển bạ. Cha Đắc Hùng là Đắc Lân trước làm Hàn lâm Thị giảng, hầu ở Tiềm để, thường khuyên điều hay răn điều dở, vua rất trọng. Đắc Lân đã chết, Thượng bảo Thiếu khanh Nguyễn Cửu Khánh xin xét dùng người con nên có mệnh này.

Tha thuế dân cho dân các xã thợ mộc, thợ xẻ, thợ đóng thuyền thuộc Bắc Thành và Nghệ An. (Bắc Thành 10 xã thợ mộc số đinh 430 người ; Nghệ An 1 xã thợ mộc số đinh 393 người, 6 xã thôn thợ xẻ số đinh 1.430 người, 5 xã thợ đóng thuyền số đinh 720 người).

Chuẩn cho dân thành Gia Định được nộp tiền thay thuế vải trắng (theo lệ dân biệt nạp thì vải trắng mỗi người hằng năm nộp 2 tấm 15 thước, nộp thay bằng 8 quan tiền).

Lấy Hàn lâm viện Thị độc Nguyễn Mậu Bách làm Thị giảng học sĩ.

Biền binh Tiền vệ dinh Long võ, và Tiền vệ Hữu vệ dinh Hổ oai thuộc quân Thị nội đóng thú ở Thanh Hoa, Thanh Bình nhiều người ốm chết. Vua thương đi thú xa xôi, cấp bội tiền tuất cho mỗi người 3 quan.

ấm thụ cho cháu Cai cơ Vọng Các Nguyễn Đình Lượng là Nguyễn Đình Phú làm Ân kỵ uý.

Sai Nguyễn Văn Nhân và Trần Minh Nghĩa sát hạch các quan thuộc vệ Giám thành, phân biệt kẻ hơn người kém để định thăng giáng.

Bộ Lễ tâu rằng : “Khoảng năm Gia Long có truy tặng hai đời của Hiếu Khang hoàng hậu. Triều ta nhân hậu, điển sẵn rõ ràng. Nay bệ hạ nối ngôi lớn, lễ lớn sách tôn Hoàng thái hậu đã xong, xin nhớ đến ơn họ ngoại để nêu rõ nguồn phước, tỏ đạo nhân hậu”. Vua hạ lệnh cho bầy tôi bàn lại, đều một lời tâu xin. Bèn truy tặng Thừa đức lang chính đạo lục kiêm Tri phủ Phương Danh tử là Trần Mậu Tài (tổ ba đời của Hoàng thái hậu) làm Thông chương đại phu Tư chính thượng khanh Thị trung Trực học sĩ Văn Xá bá, thuỵ là Trực Lượng, và chính thất là Phạm thị làm Tam phẩm Thục nhân, thuỵ là Như Trinh ; truy tặng Thuần tín công thần Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Thái bộc tự chính khanh Bố Chính dinh Ký lục Tiến Đức hầu Trần Mậu Quế (tổ hai đời của Hoàng thái hậu) làm Quang tiến thận lộc đại phu Chính trị thượng khanh Lại bộ Thượng thư Gia Bình hầu, thuỵ là Đoan Hậu, và chính thất là Nguyễn thị làm Nhị phẩm phu nhân, thuỵ là Cung Tuệ ; trắc thất là Đào thị làm Nhị phẩm phu nhân, thuỵ là Thục Tuệ ; truy tặng Đồng đức công thần Phụng trực đại phu Chính trị khanh Lễ bộ Hữu Tham tri Trọng Chính hầu Trần Hưng Đạt (sinh ra Hoàng thái hậu) làm Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu thượng trụ quốc Thiếu phó Hà Hoa quận công, thuỵ là Ôn Cẩn và chính thất là Lê thị làm Nhất phẩm phu nhân, thuỵ là Thục ý.

Bắt đầu chế cờ bài Vương mệnh. Sắc rằng từ nay phàm xa giá đi ra ngoài, thì cấp cờ Vương mệnh cho quan thủ thành để làm hiệu lệnh ; cùng là biền binh thay nhau đóng giữ Trấn Hải cũng được cấp cờ Vương mệnh và hợp phù để tuân hành việc công. Làm lệ mãi mãi.

Mùa hạ, tháng 4, mồng 1, tế hạ hưởng. Sắc rằng từ nay có việc ở Tôn Miếu thì 3 khắc trước khi mặt trời mọc, bộ Lễ tâu xin vua thân đến hành lễ. Lại sai Vũ Khố cất rượu để cúng.

Định rõ lại lệ đình nghỉ và nhật kỳ hội nghị, đều theo lệ năm Gia Long thứ 14. Hoặc khi chưa đến kỳ hội nghị mà có việc đáng phải bàn, thì do nha chủ thảo tâu xin hạ lệnh hội nghị. Ngày hội nghị kể từ sớm đến trưa thì thôi. Làm trái thì bị hặc. Lại vì trong triều có nhiều người già ngại là sớm quá, nên định rằng sau ngày xuân phân trước ngày thu phân, tạnh nắng thì giọt đồng hồ xuống một khắc là bắt đầu hội nghị, sau ngày thu phân trước ngày xuân phân trời mưa gió thì giọt đồng hồ xuống hai khắc là bắt đầu hội nghị.

Vua từng bảo thị thần rằng : “Nhân tình ai chẳng muốn nhàn. Trẫm sáng sớm coi chầu, há không mỏi mệt sao, nhưng vì công việc rất nhiều, không thể không thế được. Các khanh lui tới, làm việc chăm chỉ, trẫm đã rõ cả. Từ nay các bộ có việc cần xét đoán mà Thượng thư ngồi công đường làm việc thì Tham tri, Thiêm sự vào chầu, để cho việc khỏi chồng chất”.

Hàn lâm viện Biên tu Phan Huy Chú dâng bộ sách do mình soạn là Lịch triều hiến chương loại chí (49 quyển). Thưởng cho một cặp áo sa, 30 lạng bạc.

Đúc ấn đồng cho Hàn lâm viện và Thái thường tự.

Sai Thanh Hoa mộ dân ngoại tịch sung bổ đội Hổ dực.

Chuẩn định từ nay các đội trưởng nhà trạm có bổ khuyết thì theo như lệ các quân dinh, đều phải tâu lên (lệ cũ do công đồng chuyên bổ).

Thưởng tiền lương bổng cho quan binh vận chuyển (ở Kinh phái đi vận chở ở các địa phương trở về thì thưởng một tháng ; tại địa phương phái thì thưởng nửa tháng).

Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tâu nói : “Ba vệ Thị tượng và các tượng cơ đều là binh mộ, mỗi khi có người trốn hoặc chết, không có người điền bổ. Xin từ nay biền binh Tượng quân có con đều phải đăng vào quân tịch, người trốn không được đầu sang nha khác”. Vua y lời tâu.

Lấy Cai đội Vọng Các là Nguyễn Văn Đoài làm Quản cơ cơ Hậu kích đạo Thanh Bình, Đoài vào bái, được triệu lên điện, ban cho kiếm. Dụ rằng : “Ngươi theo hầu lâu ngày, trẫm có biết qua. Nay được bổ ra ngoài, nên giữ gìn thanh liêm thận trọng để trọn danh dự, chớ có cậy ơn mà kiêu căng làm bậy, lỡ khi phạm tội thì phép nước nghiêm nhặt, trẫm cũng không thể bênh được”.

Ký lục Quảng Đức là Ngô Bá Nhân và Hàn lâm chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán đề cử bảy người học trò. Vua nói : “Khoa thi mùa thu gần đến. Bọn này nếu quả có thực học, sao không theo con đường khoa mục rộng rãi mà lại đi con đường tắt này. Vả lại nhân tài hiếm có, một ngày tiến cử đến bảy người, như thế chẳng lạm sao ?” Không cho.

Miễn lệ thuế cho bảy mỏ vàng, đồng, kẽm, chì và diêm tiêu ở Bắc Thành (Mỏ vàng Nà ấp ở Lạng Sơn, mỏ đồng đỏ Trình Lạn ở Hưng Hoá, mỏ kẽm Quang Vinh và Cam Lộ ở Thái Nguyên, mỏ chì Khôn Hiển ở Thái Nguyên, mỏ chì Phước Ninh ở Tuyên Quang, mỏ diêm tiêu Minh Lương và Minh Nông ở Sơn Tây. Chủ mỏ và phu khoán xiêu tán, thành thần tâu lên, nên cho miễn thuế).

Vua đi xem xét Kinh thành, thấy có bệnh binh nằm ở bờ ao, hỏi ra là lính ở vệ Ban tực tiền. Liền sai Thái y viện điều trị. Dụ bộ Binh rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, không ngày nào không nghĩ đến việc yêu quân nuôi dân, đến những lính thú, dân biên mà còn sợ họ hãy nhiều nỗi khổ, thế mà ngay ở kinh sư lại có người ốm đau khổ sở không nơi nương tựa như vậy sao ?”. Bèn trị Quản vệ 40 roi, Cai đội 80 trượng. Sắc rằng từ nay người quản quân mà không biết thương nuôi bệnh binh, để khốn đói ở đường sá như thế, thì cứ y như lệ ấy mà trị. Nếu đến chết thì tội nặng thêm. Đến như trong kinh thành thì do Giám thành, ngoài quách thì do Quảng Đức, phải chiếu địa phận mà tuần xét, phàm đường sá thấy có người ốm đau, nếu là binh thì giao cho cai quản, là dân thì giao cho lý chánh hoặc thân nhân, để điều dưỡng. Làm trái thì phải trách phạt theo số bệnh nhân nhiều hay ít, đã nằm lâu hay chóng, mà xử tội khác nhau. (Trong kinh thành cứ một người ốm ở đường thì xử 40 roi, cứ thêm một người lại thêm một bậc ; để người ốm nằm 3 ngày lại thêm một bậc. Các tội chỉ đến 100 trượng là cùng. Ngoài quách, mỗi người ốm phạt một tháng lương, cứ thêm một người lại phạt thêm 1 tháng ; để nằm 3 ngày phạt lương 2 tháng, cứ thêm 3 ngày lại thêm 1 tháng. Các tội chỉ phạt lương đến 1 năm là cùng).

Định hạn thì giờ cho các sở công tác. Dụ rằng : “Đã đến tiết mùa hè, trẫm ở nhà cửa cao rộng còn thấy khí nóng nung nấu, huống chi binh và thợ cả ngày phơi nắng chịu sao nổi. Vậy phải định thời hạn làm việc để giữ sức. (Hằng ngày, giờ dần bắt đầu làm, giờ tỵ, giọt đồng hồ xuống 8 khắc thì nghỉ, giờ mùi, giọt đồng hồ xuống 4 khắc bắt đầu làm, đến giờ tuất thì nghỉ. Khi làm khi nghỉ đều nổi hai tiếng ống lệnh làm hiệu). Lại sai thái y chia nhau đi thăm các công sở, ai ốm thì chữa.

Chọn hai mươi người dân ở hai xã Đường Long, Lương Mai (thuộc huyện Hương Trà) dinh Quảng Đức, bổ vào đội thợ mộc giỏi ở Nội viện Chính dinh, để theo làm việc ở Vũ Khố, cấp lương cho hằng tháng (mỗi người đều 1 quan tiền,

1 phương gạo).

Tả thống chế Thị trung là Tôn Thất Dịch và Thượng thư Lễ bộ là Phạm Đăng Hưng tâu dâng điều lệ biên soạn Ngọc diệp, đại lược rằng : “Triều ta tích luỹ nhiều đời, sách vở còn để lại vẻ vang. Triệu tổ gây nền vương nghiệp, Thái tổ dựng nước mở đất, các thánh nối nghiệp mở mang, vỗ về cả nước. Khi bắt đầu đại định, từng đã dựng miếu Triệu tổ và Thái miếu để làm điển thờ muôn ngàn đời không cùng. Nay xin từ Triệu tổ, Thái tổ đến các thánh về sau làm Chính kỷ bản chi, ghi chép rành rọt từng đời. Còn từ Trừng quốc công trở về trước, tham cứu quốc sử cũng biết được đại lược, nhưng niên đại quá xa, sự việc thiếu sót, xin ghi riêng làm Tiền kỷ. Các chi phái từ Thái tổ về trước lưu cư từ Thanh Nghệ trở ra mà cho họ là Nguyễn Hựu, kê cứu được đích xác thì cũng xin phụ chép vào Tiền kỷ”. Vua cho là phải.

Vua thấy đồn điền ở Gia Định số người ngày đông thêm mà số đinh tịch không thêm, dụ cho thành thần xét kỹ tình trạng cái gì tăng thì hơn. Lê Văn Duyệt tâu nói : “Dân Gia Định phần nhiều là dân giang hồ trú ngụ, đặt ra đồn điền để dồn bọn du thủ cho nương tựa vào đồng ruộng vốn là phép tốt. Nếu không cho đồn điền tăng tục thêm dân thì bọn ấy đi lại không định, sợ hoặc để luỵ cho dân. Nhưng tránh chỗ nọ đến chỗ kia cũng là thường tình người ta. Đồn điền nhiều thì hộ khẩu lại ít dần đi, lấy đâu mà bổ sung chỗ thiếu cho binh tịch ? Vậy từ nay có ai xin sung đồn điền thì xin hỏi ngay hương lý, nếu muốn để người ấy đăng tịch ở làng thì trả họ về dân, nếu không muốn thì cho lưu ở đồn điền, đều cho tuỳ tiện”. Vua nhận lời tâu.

Tham hiệp Hà Tiên là Trần Văn Tam có tang, xin nghỉ việc trấn thủ về thu xếp việc tang. Vua y cho. Đến khi xong tang, lại cho giữ chức cũ.

Sửa lại miếu Đô thành hoàng.

Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành trước ở Thanh Bình mộ được 296 người dân ngoại tịch lập thành vệ Chiến phong. Đến khi đi Tuyên Quang, vua cho lấy 150 người vệ binh đi theo, vẫn giữ quân hiệu cũ, số còn lại ở Thanh Bình thì hạ lệnh cho đạo thần gộp lại với binh mới mộ, đặt là 5 đội Hiệu dũng nhất, nhị, tam, tứ, ngũ.

Người Man bảy sách Cam Lộ vào cống. Vua cho yết kiến và hậu thưởng. Trước đó mẹ Chiêu ấp Ma Hạt Kiềm man Mang Vanh và vợ Sai trưởng Kha Man Xương Cụm xin nhân kỳ cống theo về Kinh để được xem sự phồn thịnh của văn vật trung đô. Vua nghĩ tình thành thực, không nỡ cự tuyệt. Khi đến, sai thái giám dẫn đến chiêm bái cung Từ Thọ. Đến khi về cũng được dự thưởng.

Lập đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ. Sai bọn Tống Phước Lượng và Vũ Viết Bảo trông coi công việc. Thưởng cho binh và thợ hơn 1.000 quan tiền.

Định lệ thuế sâm ở Sa Kỳ (trên núi) Quảng Ngãi (Sâm hộ có 30 người, hằng năm mỗi người nộp 3 cân sâm, không có sâm thì theo lệ biệt nạp, nộp thay bằng 8 quan tiền).

Thả binh hai vệ Chấn uy và Thần uy về nguyên ngũ các dinh trấn. Đầu là vua thấy mộ binh hai vệ chưa thạo phép bắn súng, nên triệu hết về Kinh cho thao diễn. Có kẻ trốn đi nên đến nay cấp tiền lộ phí cho về. Vua dụ rằng : “Bọn ngươi ứng mộ, nguyên là muốn dựng công lập nghiệp, chí ấy đáng khen. Trẫm sở dĩ triệu về Kinh để huấn luyện là muốn cho thành tài nghệ để phòng việc chống giữ. Thế mà có kẻ trốn không đến. Đều là do tội ở người cai quản không khéo phủ dụ. Vậy bọn cai đội tạm đình nửa bổng. Nếu chiêu dụ về được đủ số thì cho khai phục. Lính trốn trong vòng 3 tháng mà ra thú thì cũng khoan thứ”.

Lấy Hạt Xà Phù làm Sai trưởng man Cha Bôn, Chiêu A Điền Cáo làm Sai trưởng man Mang Vanh, Chiêu ấp Ma Hạt Kiềm làm Phó sai trưởng. Các sai trưởng man ở Cam Lộ trước không đặt chức phó. Man Mang Vanh xin cách ngoại đặt chức ấy. Giao đình thần bàn, rồi cho.

 

Bình Hoà hiến hươu trắng.

Tiết Vạn thọ. Trước một ngày, vua mặc lễ phục đến cáo ở điện Hoàng Nhân, rồi đến cung Từ Thọ dâng phẩm vật. Đến ngày, miễn triều hạ. Vua mặc áo thường phục ngự điện Cần Chính, các quan chiêm bái. Ban cho ăn ở Thanh Phong đường.

Đổi định lệ thuế quan điền quan thổ ở các dinh trấn Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An. Trước kia giặc Tây Sơn lấy điền thổ ở các dinh trấn chia cấp cho bè đảng làm ngụ lộc và lập trại riêng, thiện tiện đánh thuế ở dân. Sau khi đại định, đã lấy làm quan điền quan thổ, nhưng ngạch thuế vẫn theo cũ. Vua biết rõ nỗi khổ của dân, bèn hạ chiếu rằng : “Bậc vương giả lấy thuế của dân chỉ lấy chính cung, ruộng đất chia loại tốt xấu mà định thuế. Từ giặc Tây Sơn, lấy ruộng đất cấp cho tư gia, tự ý đánh thuế nặng, thành lệ chứa lâu ngày. Buổi quốc sơ đã toan sửa đổi, nhưng chưa có thì giờ. Trẫm nghĩ tới sự khó khăn của dân, rất chú ý đến chính sách bảo dưỡng. Vậy phải theo số mẫu và đẳng hạng mà định phép thuế. Phàm quan điền thổ các hạt về điền trang, quan trại, đồn điền, ruộng chùa, nhà cửa, ngụ lộc, cùng những ruộng đất, vườn, gò, ao, hồ, đất phù sa và bờ bãi của kẻ trốn tránh đã bị tịch thu vào nhà nước, nếu từ trước đánh thuế mỗi mẫu thóc từ 52 thăng 5 hợp, tiền từ 2 quan 1 tiền trở lên thì giảm 2 phần 10 ; nếu đánh thóc từ 100 thăng, tiền từ 3 quan trở lên thì giảm 3 phần 10. Ghi làm lệ”.

Thuộc nội chưởng cơ quản thuyền Phi Long là Nguyễn Văn Thắng từ Tây dương đến, dâng cái hàn thử biểu. Vua nhân hỏi : “Ngươi lại muốn về sao ?”. Đáp : “Thần chịu ơn dày của nước, không biết lấy gì báo đáp. Nay tuổi già, xin làm tôi trọn đời”.

Vua nói : “Người ta ở đời quý ở chỗ lập công danh mà thôi. Ngươi theo đòi Tiên đế, hưởng lộc mấy chục năm, tuy là người ngoại quốc, cũng đã là thần tử bản triều. Nếu quả thực có thể trọn tiết làm tôi thì lưu danh nghìn đời trong sử sách, há chẳng hay sao ! Nếu trở về nước Tây thì chẳng qua chỉ là một thường dân mà thôi”.

Có người Phú Lãng Sa((1) Phú Lãng Sa : do chữ France phiên âm ra, là nước Pháp.1) dâng quốc thư và sản vật địa phương (gương to) cùng đến với Thắng, đậu thuyền ở Đà Nẵng. Đem dịch thư ra thì là xin thông thương. Vua giao đình thần bàn, rồi hạ lệnh cho ty Thương bạc đưa thư trả lời nhận cho, và biếu nhiều phẩm vật (100 cân da voi, 30 cân da dê, 10 tấm da hổ, 100 tấm da trâu, 500 tấm da hươu, 200 tấm sa nam, 200 tấm the nam, 100 tấm lụa Cao Bộ, đường phèn, đường phổi mỗi thứ 1.000 cân, 10.000 cân đường cát, 2 cây ngà voi, 2 cỗ sừng tê), giao cho người ấy mang về nước.

Trả thêm giá đường cát cho Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Dụ rằng : “Đặt mua nguyên là một việc ích quốc lợi dân, vốn không nên so kè từng ly từng tý. Nghĩ rằng hộ làm đường quanh năm cần cù lao động, công của đều khó, nên trả giá hậu cho có lợi, để họ vui vẻ đem bán”.

Tham hiệp Sơn Tây là Phan Hữu Nhượng chết, lấy Thiêm sự Lễ bộ là Lưu Tuyên làm Tham hiệp Sơn Tây.

Vua từng hỏi Biên tu Văn thư phòng là Hoàng Quýnh về việc dân. Quýnh đáp : “Từ khi Hoàng thượng lên ngôi đến nay, cho miễn giảm [thuế], ban ơn cấp tuất, lòng người không ai không cảm tin. Nhưng gần đây, công việc dựng Tôn Miếu, sửa miếu thành hoàng, xây nhà Quốc học, tuy là những việc không thể chậm được, nhưng khi có việc thì nha lại nhân đấy sinh tệ, cho nên trên có lòng thương mà ơn không thấm tới dưới là vì thế”. Lại nói : “Thánh thượng thông minh soi thấu nỗi khổ của dân, tuy đế vương xưa cũng không hơn. Nhưng cửa vua xa xôi vạn dặm, nỗi u ẩn chưa chắc đã thấu hết được. Muốn yêu dân thì cần biết người, khi chọn người, xin nên lưu ý”.

Vua lại hỏi : “Triều thần cho trẫm là thế nào ?”. Đáp : “Trước kia lời chương tấu có chỗ thô lậu, đều uốn nắn từng ly từng tý, người ta lấy làm khó khăn. Nay đã dần quen rồi”. Vua nói : “Có phải trẫm hiếu dị đâu, muốn cho được ổn nhã mà thôi”. Nhân dụ Quýnh rằng : “Ngươi là cựu thần ở Tiềm để, trẫm đã biết tài. Nhưng tuổi trẻ mới tiến, phàm việc càng nên siêng năng cẩn thận, để hưởng ơn lâu dài. Đối với người xa trẫm còn muốn đào tạo, huống chi bọn ngươi”.

Cho các con cả các trưởng công chúa Ngọc Châu, Ngọc Quỳnh, Ngọc Anh được bổng hằng năm (hằng năm một người 140 quan tiền, 50 phương gạo).

Dân hạt Bình Định xiêu tán 16 ấp, ngạch binh thiếu nhiều, trấn thần đem việc tâu lên. Vua chuẩn lời đình thần bàn, cho hoãn đòi bắt 3 năm.

Lấy Tri phủ Lâm Thao là Vũ Du làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Kinh Môn là Vũ Viết Trường làm Thiêm sự Hình bộ.

Dồn hơn nghìn người của ba vệ Bảo thành nhị, tam, tứ ; hai vệ Gia vũ nhất, nhị và vệ Tiền nghĩa thuộc thành Gia Định làm hai vệ Bảo thành và Gia vũ, 200 người của vệ Bảo thành nhất, hai vệ Tiền thắng, Trung tiền, vệ Gia dũng và của Vũ nha tòng thành làm bốn đội Vũ nha nhất, nhị, tam, tứ. Các vệ đều là lính mộ, gần đây trốn và chết nhiều, số ngạch linh tinh nên thành thần tâu xin dồn bổ lại. Vua y theo.

Thống chế quân Thị nội là Vũ Viết Bảo tâu xin cho đội Tả vệ, đội Hữu vệ, đội Hoàng kiếm, 2 đội Tiểu sai nhất, nhị, 2 đội Thị trà nhất, nhị, đội Ngân súng, đội Thị nghi, 3 đội Dực vũ nhất, nhị, tam, 2 đội Nội mã nhất, nhị, đội Tả mã, đội Hữu mã, 2 đội Tiểu hầu nhất, nhị, đội Bả lệnh, đội Thượng thiện, cả thảy 20 đội, vẫn làm quân Thị nội. Còn 4 đội của vệ Trinh võ, 3 đội Tư thiện, 2 đội Thị hành, 2 đội Trung cần, đội Tân nhất, đội Bả cái, cả thảy 13 đội, thì ghi làm tinh binh. Vua theo lời xin.

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển ix

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa hạ, tháng 5, cho binh Túc trực, Thường trực, Trường trực 400 quan tiền, 400 phương gạo. Vì túc vệ siêng năng, khó nhọc.

Vua thấy những hộ biệt nạp gỗ lim ở Nghệ An xiêu tán mới về, dụ cho trấn thần, gỗ thuế họ nộp, không đúng cách thức hay có tỳ vết cũng đều cho thu, ai thiếu thì cho hoãn.

Tiết Đoan dương, vua ngự mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc, cúng ở Thái miếu. Rồi thay thường phục đến chầu cung Từ Thọ. Miễn lễ triều hạ cho các quan.

Sai quan soạn sách Liệt thánh thực lục. Vua rất để ý việc soạn thuật, mới lên ngôi đã cho tìm thư tịch cũ còn sót ở mọi nơi, rồi sắc cho đại thần biên tập những điều mắt thấy tai nghe về buổi đầu trung hưng để dâng lên. Lại hạ lệnh cho các quan văn võ trong ngoài từ tứ phẩm trở lên trình bày lý lịch đầy đủ. Đến nay lấy thự Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân làm Tổng tài, Thượng thư Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hưng làm Phó tổng tài, bọn Tham tri Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Khoa Minh, Nguyễn Văn Hưng, thự Tham tri Nguyễn Huy Trinh, Hàn lâm chưởng viện học sĩ Hoàng Kim Hoán, Thái thường Tự khanh Lê Đồng Lý, Lại bộ Thiêm sự Lê Đăng Doanh, Đông các học sĩ Đinh Phiên, Hàn lâm Thị giảng học sĩ Nguyễn Tuần Lý, Nguyễn Mậu Bách, làm Toản tu, bọn Thị độc Cao Huy Diệu, Biên tu Hoàng Quýnh, 25 người làm Biên tu. Đặt 5 người Khảo hiệu, 12 người Thu chưởng, 8 người Đằng lục. Lấy Quốc sử quán làm nơi soạn sách. Cho bạc thay yến (Tổng tài 15 lạng, Phó tổng tài 10 lạng, Toản tu 8 lạng, Biên tu 6 lạng, Khảo hiệu 4 lạng, Thu chưởng, Đằng tả 2 lạng). Mỗi ngày ban một bữa ăn. Sau đổi cấp tiền ăn hằng tháng. (Toản tu 5 quan, Biên tu 3 quan, Khảo hiệu 2 quan, Thu chưởng, Đằng tả 1 quan 5 tiền).

Dụ rằng : “Nước phải có sử để làm tin ở đời nay mà truyền lại đời sau. Từ xưa, các đế vương đời nào cũng có chế tác, chẳng gì là không ghi chép, để lại bảo cho tương lai. Nước nhà ta từ Thái tổ gây nền, liệt thánh nối trị, hơn 200 năm, phàm chế độ, văn hiến, hiệu lệnh, đánh dẹp, đều có quy mô thể thống một đời. Những lúc mới mở nước, sử văn còn thiếu. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, thống nhất non sông, mở mang trăm phép, đã từng bàn định làm sử, nhưng vì muôn việc phải tuỳ nghi việc trước việc sau, nên việc làm sử còn chưa làm được. Trẫm mới thân chấp chính, chí chuộng việc văn, làm việc đều theo sử cũ. Mỗi khi xét việc ban lệnh xong, lại đăm nghĩ đến việc noi dòng nối nghiệp. Đặc biệt sai xét tìm văn thư sót lại, xây dựng sử cục, ban rõ mệnh này để bắt tay làm. Phàm bầy tôi các ngươi được dự tuyển vào việc này nên sốt sắng cố gắng, cho chóng xong việc. Đến như những điều phàm lệ, có điều gì nghĩ bàn, đều cho phép tâu bày để trẫm thân chỉ bảo, cốt sao cho việc đáng biên đáng bỏ được có phép tắc, và nhặt nhạnh không sót, để thành bộ tín sử một đời. Như thế ngõ hầu sáng tỏ được cái cơ đồ thần thánh truyền nối và mưu mô công liệt như vua Văn vua Vũ đời xưa, thành bất hủ mà được long trọng như các thiên Điển Mô Cáo Mệnh((1) Các thiên trong Kinh Thư, chép việc các vua thánh đời xưa trong truyền thuyết của Trung Quốc.1) đời xưa vậy”.

Đặt một viên Chủ thủ chủ sự ở Kho hoả dược (thuốc súng) ; Cửu phẩm và Vị nhập lưu thư lại mỗi hạng 4 người. Sai bộ Binh chọn nhân viên trong bộ bổ vào.

Triệu Thị trung học sĩ Phạm Thích. Thích nghỉ việc đã lâu. Vua vốn trọng tiếng Thích, đến nay nhân viêc soạn sử, sai đem bạc lụa đến mời. Khi lên đường, Thích lại vì ốm xin từ về.

Cho bổng hằng năm các công tử, công nữ. (Hằng năm mỗi người 150 quan tiền, 60 phương gạo, 236 cân 4 lạng dầu, 15 cân sáp, 2 đôi chiếu).

Hoàng Công Lý trước bị tội tham nhũng, tang vật đến trên 2 vạn quan tiền. Sai quan thành Gia Định đòi hỏi. Khi thành án, giao đình thần bàn xét, đáng tội chết, bèn đem giết, tịch thu gia sản đem trả lại cho binh dân.

Dụ rằng : “Gia Định là nơi đất rộng dân nhiều. Hoàng khảo ta mưu tính, thành lập quân lữ, khôi phục dư đồ, cái nền móng xây dựng cơ nghiệp thực là ở đấy. Từ trước đến nay vẫn thận trọng lựa chọn những trọng thần công lao danh vọng sai trấn phủ cho muôn dân yên ổn. Không may có Hoàng Công Lý, lấy tư cách đê hèn, chứa chất thói tham bạo, vặn trái pháp luật, ăn lót kể đến muôn vàn, bắt người làm việc [riêng] mỗi lần đến hàng mấy nghìn, mọt nước hại dân đến thế là cùng. Nghĩ các ngươi vô tội mà gặp nỗi độc hại này, dù của cải đền được nhưng nỗi khổ lâu ngày khó mà hồi được. Nay tội nhân như thế, pháp luật phải thi hành, để cho nhân dân uất ức một phương đều rõ cái ý trừ bạo an dân của triều đình”.

Lý làm Tả thống chế quân Thị trung, ngày ngày bắt quân sĩ xây dựng nhà riêng ở trên bờ sông Hương, đến nay việc phát, hạ lệnh trị giá bán nhà ấy lấy tiền cho cấm binh. Rồi nhân đó dụ rằng từ nay biền binh trong ngoài nếu gặp kẻ tham tàn cậy quyền thế áp bức mà không kêu được, thì cho phép đón xa giá mà tâu. Lại dụ rõ cho các đại thần võ ban nên lấy việc Lý làm răn.

Diễn tập thuỷ quân ở sông Hương. Vua ngự đến xem thưởng cho quân sĩ 200 quan tiền.

Hữu Tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Cai bạ Quảng Đức là Ngô Bá Nhân tâu rằng thanh tra Nội vụ phủ thấy đồ vật công có thiếu thốn tổn thất.

Vua nói : “Nội vụ là nơi dồn chứa bách hoá. Có một mình Nguyễn Công Vị coi giữ, suốt ngày say sưa, còn lúc nào để ý đến của Nhà nước. Vừa rồi trẫm sai lấy gấm đoạn dâng xem, thấy có mục nát, hỏi thì thấy như thế còn nhiều. Tội của Vị nói sao cho xiết. Các ngươi đã không hặc tâu ngay, lại muốn che chở cho hắn để được giảm tội thì phép nước ra sao ? Người làm tôi giữ chức cần phải công bằng trung trực. Trẫm ngày thường rất ghét tội che giấu”.

Liền sai bắt giam Công Vị mà lấy Hàn lâm Biên tu Lê Bá Tú hiệp cùng Thiêm sự Hồ Hữu Thẩm biện lý công việc Nội vụ phủ. Khi án thanh tra xong, Công Vị bị cách chức.

Cấp lương bổng cho ấm tử và quan viên tử theo thành Gia Định.

Dụ thành thần rằng : “Bọn này tuy chưa phục vụ, nhưng cha chúng đã có công với nước, trẫm sắp tuỳ tài ghi dùng. Người nào đã được tập ấm cho theo phẩm trật mà chi lương, quan viên tử hằng tháng cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo”.

Dựng Hữu viện.

Lấy Đông các học sĩ Đinh Phiên làm Thị trung Trực học sĩ, vẫn sung Toản tu sử quán.

Lấy Cai cơ quân Thần sách là Đặng Hữu Chất làm Vệ úy vệ Võ thành, Phó vệ úy vệ Định võ là Nguyễn Văn Thuỵ làm Vệ uý vệ Tuyển phong tả, Cai cơ Nguyễn Hữu Huấn làm Vệ uý vệ Định võ.

 Đổi định lại lệ tiền công liệu ở cục Bảo tuyền Bắc Thành. Đại sứ cục Bảo tuyền Trương Văn Minh cho rằng công đúc tiền đồng nặng, công đúc tiền kẽm nhẹ, nên nghĩ xin đổi định lại. Thành thần đem việc tâu lên. Vua y cho. (100 cân tiền kẽm tiền công liệu là 3 quan 2 tiền 59 đồng 2 phân 5 ly, kém lệ trước 1 tiền 22 đồng ; 100 cân tiền đồng tiền công liệu là 5 quan 6 tiền 46 đồng 4 phân 2 ly, hơn lệ trước 1 tiền 12 đồng 8 phân).

Đắp ụ bắn súng ở Thanh Phước (tên xã). Sai tướng sĩ thuỷ bộ hằng ngày diễn tập. (Ngày 2 lần, sáng từ trước khi mặt trời mọc một khắc bắt đầu, giọt đồng hồ xuống 5 khắc thì nghỉ, chiều giọt đồng hồ xuống 8 khắc bắt đầu, mặt trời lặn thì nghỉ. Tối khi diễn gặp mưa thì thôi). Vua nhiều lần đến xem, định rõ lệ thưởng phạt. (Làm thuyền giả, bắn trúng mũi thuyền, cột buồm, thuỷ quân một phát thưởng 15 quan tiền, lục quân thưởng 10 quan tiền ; trúng thân thuyền, thuỷ quân một phát thưởng 10 quan tiền, lục quân 5 quan ; có trúng mà một phát không vào ụ thì không theo lệ ấy). Lại cấp quần áo tây cho lính pháo thủ để tiện bắn súng.

Lấy đèn đọc sách của Tây ban cho quan văn.

Lấy Thiêm sự Lại bộ là Trần Chính Đức làm Hiệp trấn Hưng Hoá.

Thành thần Gia Định tâu rằng học trò các trấn đến ở thành học tập, cũng có người đã đỗ nhất, nhị, tam trường, ở ngụ lâu ngày đã thành người thổ trước, xin cho họ được phụ thí ở trường thành. Vua y cho. Lại dụ rằng từ nay gặp khoa thi Hương, từ Phú Yên trở về Nam, cho được tuỳ tiện phụ thí, từ Bình Định trở ra Bắc đều phải theo nguyên quán như bộ đã bàn. Thành thần lại thấy sau nạn dịch lớn, sĩ tử nhiều người có đại tang, nếu nhất luật theo trường quy không cho dự thí thì số sĩ tử không có mấy, nên báo lên bộ để tâu. Vua nói : “Đổi hiếu làm trung là bản lĩnh lập thân của kẻ sĩ quân tử, nhưng quên tang cha mẹ mà vội tìm hiển vinh thì không phải là hiếu. Không hiếu thì thờ vua được sao ? Bọn ấy hãy nên tu thân sửa đức để đợi khoa sau cũng chẳng muộn”.

Lấy Tri phủ Lạng Giang là Lưu Đình Luyện làm Thiêm sự Lễ bộ.

Cho Tả thống chế quân Thị trung là Tôn Thất Dịch được theo lệ bổng công thần Vọng Các, cấp cho lương tiền bội lên.

Đổi tên cửa Củng Thần của hoàng thành làm cửa Địa Bình ; tám cửa thành Gia Định thì phía nam gọi là Gia Định, Phiên An, phía bắc gọi là Củng Thần, Vọng Khuyết, phía đông gọi là Phục Viễn, Hoài Lai, phía tây gọi là Tĩnh Biên, Tuyên Hoá.

Thành thần Gia Định tâu rằng theo lệ thì lính thú thuộc quân Thần sách Thanh Nghệ và ngũ quân ở Bắc Thành được tiền phụ dưỡng và tiền áo quần, hằng năm do địa phương thu ở dân sở tại mà chở đến cấp cho.

      Vua dụ rằng : “Quân là nanh vuốt của nước, họ đóng thú xa xôi, làm việc vất vả, trẫm vẫn thương xót, tiền phụ dưỡng và áo quần trước nay đã có thành lệ chứ không phải là cưỡng ép điều dân không muốn. Có điều nay thuế chính cung của nhà nước dân cũng chưa nộp xong, nếu lại bắt chịu phí tổn nuôi quân thì sao tỏ được cái ý trẫm thương xót chăm lo cho dân. Vậy phàm thú binh thuộc thành, ngoại lệ lương ra, đều được cấp thêm 5 quan tiền, áo quần thì quan may mà cấp, miễn tiền phụ dưỡng và tiền áo quần cho dân”.

Có người thợ vẽ trốn vào phủ Định Viễn công, người sở quản bắt đi làm việc, Định Viễn công là Bính tranh giữ. Việc tâu lên. Công sợ hãi vào tạ tội. Vua quở rằng : “Pháp luật là do các thánh và Hoàng khảo ta để lại để trị thiên hạ, trẫm phải cùng người trong nước đều theo. Em là người chí thân mà phạm pháp, nếu lại vị tình thì đối với triều đình thiên hạ làm sao ? Nay tạm tha cho, về sau phải chừa”.

Định lệ lương cho các thợ ở Bắc Thành. (Công việc nặng. Mỗi tháng một quan tiền, 1 phương gạo, thứ thì 5 tiền, 1 phương gạo, nhẹ thì 1 phương gạo).

Miễn lễ thượng tiến bạc năm nay cho các quan văn võ ngũ phẩm trở xuống.

Tháng 6, sông Ngưu Chử (Bến Nghé) ở Gia Định nước trong hơn 50 dặm, suốt 12 ngày từ ngày Canh thìn đến ngày Tân mão.

Các yến hộ ở Quảng Nam xin nộp thêm thuế yến để thay sai dịch.

Vua nói : “Thuế có ngạch thường, nay tăng lên rồi sau làm sao kham được ? Vậy miễn hết cho thuế thân và sai dịch, hằng năm lấy số dư dật mà dâng, không kể hạn định”.

Lấy Tri phủ Tam Đới là Nguyễn Duy Cần làm Thiêm sự Hình bộ, biện lý Hình bộ, biện lý Hình tào thành Gia Định ; Hàn lâm viện Trực giảng Nguyễn Đăng Sĩ làm Thiêm sự Binh bộ, biện lý giữ Binh tào Bắc Thành.

Cho Nguyễn Văn Hưng làm Hữu tham tri Lại bộ.

Thả lính Bắc Thành và Thanh Nghệ trở về đội ngũ, cho hơn 3.000 quan tiền.

Cho Hoàng Đức Tòng làm Vệ uý vệ Kỳ võ quân Thị nội, Nguyễn Tăng Minh làm Phó vệ uý vệ Thành võ.

Đặt vệ Tuần thành. Lấy các xã thuộc vệ Giám thành biên làm năm đội nhất, nhị, tam, tứ, ngũ của vệ Tuần thành. Các đội Tuần thành của Quảng Bình biên làm 5 đội lục, thất, bát, cửu, thập của vệ Tuần thành. Sau lại sắc cho các xã tạm đình việc biên đồn ấy.

Vua truy niệm Khâm sai lưu thủ Nguyễn Đức Thịnh có công bảo dưỡng lúc bé, hằng năm ngày kỵ cho 30 quan tiền. Lại hạ lệnh cho dinh Quảng Đức đem trâu riêng đến tế. Ngày kỵ vợ Thịnh cũng thế.

Quan đê chính Bắc Thành thấy con đê cũ ở Hưng Nhân thuộc Sơn Nam bị nước xói vào, thế không chống được, tâu xin đắp hai con đê khác dài hơn 770 trượng. Vua sai thành thần lấy tiền kho hơn 17.000 quan thuê mộ người làm.

Lấy Cai đội quân Thần sách là Phạm Văn Thịnh làm Phó vệ uý vệ Trang võ.

Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân ốm. Vua ban cho quế thượng phương, sai Hàn lâm viện Thừa chỉ Trần Công Tuân đến nhà thăm hỏi.

Sai Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên lại giữ việc bộ, Hữu Tham

tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa làm Tả Tham tri, Hữu Tham tri Công bộ là

Nguyễn Khoa Minh làm Hữu Tham tri Binh bộ, Thị trung trực học sĩ Đinh Phiên lấy bản chức mà tham bồi công việc Lại bộ, Hiệp trấn Lạng Sơn là Phan Huy Thực lại làm Thiêm sự Lễ bộ.

Lấy Trợ giáo Sơn Nam thượng là Dương Đức Tuy làm Đốc học Kinh Bắc.

Nước Chân Lạp sai sứ vào cống và dâng đồ lễ mừng cung Từ Thọ. Vua sai bộ Lễ bàn. Bộ thần tâu rằng : “Nước có tang thì miễn lễ mừng cho ngoại phiên là việc đã có điển lệ rõ ràng. Duy nước Chân Lạp đời đời giữ chức cống, triều đình che chở gây dựng, so với các ngoại phiên có khác, xin thu nhận lễ tiến mừng mà miễn lạy.” Vua theo. Đến khi bồi thần là bọn ốc Nha Lịch Y, Giá Lung đến yết kiến, vua triệu lên điện thăm hỏi và dụ rằng : “Ngươi về bảo quốc vương và các quan phiên nên cùng lòng hiệp sức để lo việc nước. Việc lớn thì triều đình xếp đặt cho, còn việc nhỏ thì lo tính lấy. Há chỉ chuyên dựa vào người mà không nghĩ làm hết phận sự mình sao ?”.

Sánh tặng nguyên phi Hồ thị (tức Nhân hoàng hậu) làm Chiêu nghi, thuỵ là Thuận Đức. (Sách văn rằng : “Lễ là lẽ nên vậy, cho thuỵ để tỏ điển cổ ; ơn là nghĩa ở đấy, truy phong cho trọng lễ nghi. Nay chọn được ngày lành, ban sắc rực rỡ. Nhớ tuyển thị((1) Người được chọn vào hầu trong cung.1) Hồ thị, dòng dõi trâm anh, dáng như (ngọc) uyển (ngọc) diễm. Trang nghiêm nhàn nhã, giữ khuê nghi không hề vội vàng ; thuần thục nêu gương, từ tiềm để còn lưu tiếng tốt. Sinh con trai đương được yêu quý, giấc nam kha lại chợt tỉnh ngay. Vội đã từ trần ; vô cùng thương xót. Vậy đặc sai sứ thần mang sách bạc, tặng làm Chiêu nghi, thuỵ là Thuận Đức. Mong rằng nhận lấy huy chương và kính tuân sủng mệnh, để được an ủi đức tốt quỳnh dao và hưởng lâu dài cổn hoa vinh hiển”.

Hoàng trưởng tử (tức Hiến tổ Chương hoàng đế) dâng biểu tạ.

Tặng tuyển thị Phạm thị làm Tu nghi, thuỵ là Đoan Lệ.

Nước Thuỷ Xá xin phụ thuộc vào nước ta. Đầu đời Gia Long, Quốc trưởng nước ấy sai sứ đến Phú Yên xin quy phục. Thế tổ cho nhiều rồi bảo về. Đến nay sai người mang đồ vật được cho trước kia và cồng thau, sáp ong làm tin đến bảo Phước Sơn, xin cho sứ được thông hành vào cống. Trấn thần tâu lên.

Vua khen là đến có ý thiết tha, y cho. Sau vì nước ấy có biến, lễ cống không đến được.

Các địa phương từ Quảng Bình vào Nam, việc xét hỏi kiện tụng thuộc lại hay yêu sách quá đáng, dân khổ sở. Bèn sai bộ Hình đem bản “Khâm định Bắc Thành tụng lệ” ở đời Gia Long (các lệ tiền cung đốn cơm, tiền hành lý, tiền gông cùm, tiền canh giam, tiền dầu đèn) chia gửi đi các nơi, cấm không được hà lạm ngoài phép.

Lấy Hương cống triều Lê là Thái Doãn Tư làm Tư nghiệp Quốc tử giám.

Triệu Đốc học Nghệ An là Phan Bảo Đĩnh về Kinh ; lấy Hương cống triều Lê là Đặng Đán làm Đốc học Nghệ An. Sau vì Tư nghiệp Quốc tử giám là Ngô Trọng Tân bị bệnh, sai Bảo Đĩnh thay.

Định lệ lương cho lính kinh tượng và lính tượng cơ các địa phương (Lấy số voi mà tính suất. ở Kinh, voi ngự mỗi thớt có 20 người, 10 người mỗi tháng mỗi người được cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo, còn 10 người, mỗi người mỗi tháng 1 phương gạo. Voi đực mỗi thớt 10 người, 5 người mỗi tháng mỗi người 1 quan tiền ; 1 phương gạo, còn 5 người mỗi người 1 phương gạo ; voi cái mỗi thớt 5 người, 2 người mỗi tháng mỗi người một quan tiền, 1 phương gạo, còn 3 người mỗi người 1 phương gạo ; voi đực voi cái ở các thành dinh trấn, mỗi thớt 5 người, 2 người mỗi tháng mỗi người 1 quan tiền, 1 phương gạo, còn 3 người mỗi người 1 phương gạo. Đội trưởng thì chiếu phẩm trật mà chi lương).

Đặt trường đúc súng. Vua ngự đến xem. Nguyễn Hựu Tùng đón tâu bày sáu việc :1). Giữ yên biên cương ; 2). Binh pháp ; 3). Cấm quan lại tham nhũng ;

4). Ngăn mối kiện tụng ; 5). Răn kiêu binh ; 6) Xét trị loạn.

Vua xem nói rằng : “Lời Tùng nói tuy nghĩa văn chưa ổn, nhưng có lòng thành khẩn, những điều nhỏ mọn, biết đều nói cả, rất đáng khen ngợi”. Bèn cho vào bái yết.

Học trò ở Sơn Tây là Hoàng Văn Thường dâng lời nói, có chỗ dùng được, thưởng cho 5 lạng bạc, rồi bổ chức Tư vụ.

Triệu Cai bạ Bình Thuận là Nguyễn Văn Khiêm về Kinh ; lấy Cai bạ Quảng Ngãi là Trịnh Văn Thành làm Cai bạ Bình Thuận.

Trong hạt Gia Định có nhiều trộm cướp. Vua không nỡ khép hết vào pháp luật, dụ thành thần rằng : “Dân Gia Định vốn có tiếng trung nghĩa. Năm gần đây, bị mất mùa, dân gian làm ăn khó khăn, cùng quẫn sinh làm bậy, hãm mình vào tội. Nếu không phân biệt thủ xướng và tòng phạm, cứ theo luật buộc tội thì vẫn dẫu họ muốn đổi lỗi theo mới cũng không có đường. Vậy gặp án cướp mà kẻ tòng phạm tình có thể lượng thì gia ơn giảm cho tội chết, mà xử tội lưu để tỏ ý hiếu sinh”.

Lại từng bảo thị thần rằng : “Dân Gia Định vốn sợ Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Nay trừng phạt chém giết ngày nhiều, mà trộm cướp ngày càng sinh ra, há chẳng phải vì đói rét bức bách mà ra thế sao ?”.

Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân đáp rằng : “Đất ấy nhiều bưng biền, trộm cướp dễ tụ tập. Huống chi dân ngày thường không biết tích trữ, ngoài ngũ cốc ra không trồng những thứ có thể đỡ đói. Chợt gặp mất mùa thì giữ sao được hằng tâm. Trước thần làm Tổng trấn đã bày đặt nhiều cách, song rồi cũng không hết được”.

Bầy tôi tâu rằng xương đầu lâu giặc Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản và thần chủ của vợ chồng Nguyễn Huệ, khoá giam ở Vũ Khố hơn 20 năm nay, phép hình phạt đã đủ tỏ cho thiên hạ rõ rồi, nay xin huỷ nát vứt đi. Một mình quan Hình bộ xin bỏ lẫn cả hòm gỗ mà giam vào nhà ngục. Vua theo lời bộ bàn.

Chuẩn định các dinh vệ phàm Quyền sai đội trưởng được một khoá, hoặc trải hai ba khoá mới được quản quan đề cử, thì được thực thụ Đội trưởng, Suất thập đội trưởng thì theo thứ tự thăng Chánh đội trưởng, Suất thập chánh đội trưởng thì theo thứ tự thăng Cai đội tòng quân, không được viện nhiều khoá mà vượt cấp.

Miễn thuế thân năm nay cho thợ các cục thuộc Vũ Khố.

Đường trạm ở các trạm Hoà Thịnh, Hoà Tân trấn Bình Hoà và Thuận Lâm trấn Bình Thuận, rậm rạp có nhiều nạn hổ hại người. Sai quan hai trấn bắt dân phát quang, xuất tiền gạo cấp cho.

Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt dâng biểu xin vào chầu.

Vua dụ rằng : “Xem biểu đã biết lòng khanh chân thành luyến nơi cung quyết. Trẫm thấy khanh lâu ngày khó nhọc ở ngoài, cũng muốn gặp. Song vì Gia Định là trọng trấn của nước, mới đây gặp Hoàng Công Lý hà ngược, lại gặp tật dịch, đói kém, nỗi đau khổ của dân chưa hồi, mà nước Xiêm lại đương nhòm ngó, nước Chân Lạp cũng chưa thành thực quy phục, được khanh giữ trấn, cũng thư được lòng lo lắng về phương Nam. Khanh phải nghĩ kỹ, nên lưu lại Gia Định là phải. Khi dụ đến, nếu đã lên đường trước rồi, hẳn công việc thành đã xếp đặt chu đáo, thì cứ thong thả về Kinh, cho khỏi vất vả. Nếu chưa đi thì chờ sang năm, dân yên cướp hết, việc biên cương không lo, thì sẽ vào chầu cũng chưa muộn”.

Khi dụ đến. Duyệt lại dâng biểu nói : “Trước đây nghe tin bệ hạ sắp ngự giá Bắc tuần, muốn vào chầu để tâu bày cơ nghi. Nay lại uỷ cho lưu lại trấn, đâu dám không tuân mệnh. Cúi xin hoàng thượng xét lời “làm phép tắc cho chư hầu” ((1) Mỗi lần vua đi tuần du là một lần làm phép tắc cho chư hầu ( Mệnh tử - Lương Huệ vương).1) để yên ủi lòng mong mỏi của thần dân Bắc Thành”.

Vua khen phải.

Dựng đền Quan công (ở trong Kinh thành, phía bắc Ngự Hà), hằng năm tế vào xuân thu.

Định phép phong thần kỳ cả nước. Hạng thượng tặng ba chữ, hạng trung hai chữ. Thần hiệu nào quê mùa thì đổi đi. Dụ bộ Lễ rằng : “Các thần trước kia phong mỹ tự quá nhiều, mỗi lần được gia phong lại đeo thêm xuống dưới, lâu sau sẽ không viết hết được. Nay nên dùng chữ phong mới viết vào sắc, còn chữ cũ bớt đi thì phải”.

Chuẩn định rằng từ nay những kẻ tù tội Bắc Thành và các dinh trấn phát phối đi Gia Định và lính ở hai cơ Thanh thuận, An thuận đi thú ở Gia Định, nếu có ai bỏ trốn mà quân hoặc dân bắt được thì cứ bắt được mỗi người thưởng cho 2 lạng bạc. Hai thành bắt được thì cho chém trước tâu sau ; các địa phương bắt được thì tâu lên đợi chỉ.

Miễn thuế thân và dao dịch cho xã Văn Xá(() Quê ngoại của Minh Mệnh.) trong 30 năm, bắt đầu từ năm nay. Vua bảo bầy tôi rằng : “Vua Quang Vũ nhà Hán đối với Nam Dương(() Quê vua Quang Vũ nhà Hán ở Trung Quốc.), chỉ tha thuế 1 năm, không dám tha lâu đến 10 năm. Nay tha 30 năm đã lâu lắm rồi”. Rồi lại tha thuế điền thổ cho dân ấy 3 năm.

Người nhà Chưởng Thuỷ quân Tống Phước Lương có kẻ phạm pháp. Vua sai dinh thần Quảng Đức tra hỏi, nhân bảo Cai bạ Ngô Bá Nhân rằng : “Chức quan Kinh triệu cần phải công bằng chính trực, không chịu khuất phục khi làm chức vụ. Từ hoàng thân quốc thích và đại thần trở xuống, có tôi tớ phạm pháp thì nhất thiết xét xử theo pháp luật, đừng tránh kẻ cường quyền. Nếu có kẻ ghen ghét gièm pha, đã có trẫm, không sợ”.

Vua lại nghe dân Kinh thành nhiều người khinh nhờn quan trưởng, lại dụ cho dinh thần nghiêm cấm.

Định ngạch nhân viên ở Nội vụ phủ và Vũ Khố, Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, mỗi chức 2 người, Thư lại bát cửu phẩm mỗi chức 8 người, Thư lại vị nhập lưu thì Nội vụ phủ 36 người, Vũ Khố 44 người.

Đổi Lệnh sử ty ở sáu bộ làm Thanh lại ty, Lệnh sử ty ở Nội vụ, Vũ Khố làm Thanh thận ty. Lại chuẩn định rằng Lang trung, Chủ sự, Tư vụ, Thư lại bát cửu phẩm ở các ty đã thực thụ thì đều chiếu phẩm trật chi lương ; Thư lại vị nhập lưu thuộc sáu bộ, thì chia làm ba ban mà chi lương, thuộc Nội vụ và Vũ Khố thì thường xuyên chi lương (mỗi người hằng tháng cấp 1 quan tiền, 1 phương gạo).

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển x

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa hạ, tháng 7, mồng 1 tế thu hưởng.

Thi Hương ân khoa ở hai trường Quảng Đức, Nghệ An. Sai Thượng thư Hình bộ là Lê Bá Phẩm sung Đề điệu trường Quảng Đức, Thị trung Trực học sĩ tham bồi công việc Lại bộ là Đinh Phiên sung Giám thí, Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán sung Đề điệu trường Nghệ An, Ký lục Quảng Bình là Trần Lợi Trinh sung Giám thí.

Dụ rằng : “Tìm nhân tài phải do khoa mục, đào tạo kẻ sĩ không phải để gây ơn riêng. Trẫm lên ngôi mong trị, ngồi lánh bên chiếu đợi người hiền. Ân khoa năm nay là điển tốt lần đầu. Phàm bầy tôi các ngươi được dự tuyển vào việc trường thi, phải chí công, chí minh, không được thiên tư mảy may mà tự chuốc mối lo. Đề điệu và Giám thí phạm lỗi, mà Giám khảo và Sơ phước khảo biết nêu lên thì có thưởng ; Giám khảo và Sơ phước khảo phạm lỗi mà Đề điệu và Giám thí biết nêu lên để hặc thì được miễn nghị. Phải mọi người cố gắng cho xứng đáng thịnh ý của trẫm kén chọn người tài”.

Đến khi danh sách dâng lên, lấy số đỗ Hương cống là 40 người. (Trường Quảng Đức 25 người : Bùi Văn Lý, Phạm Hữu Nghi, Thân Văn Duẩn, Phạm Văn Thiện, Nguyễn Quốc Hoan, Phùng Nghĩa Phương, Ngô Bá Tuấn, Lê Văn Lễ, Trần Văn Tưu, Lê Văn Hi, Nguyễn Hữu Hoàng, Tào Quang Lệ, Hoàng Công Huyến, Đỗ Văn Du, Bùi Ngọc Chấn, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Đình Tân, Hoàng Văn Minh, Nguyễn Văn Thống, Nguyễn Thừa Giảng, Phan Thế Chấn, Nguyễn Hữu Gia, Phan Hữu Nghĩa, Dương Quỳnh, Hà Thúc Trương. Trường Nghệ An 15 người : Phan Hữu Tính, Đỗ Mẫn, Chu Danh Hiển, Đinh Văn Phác, Phan Văn Bưu, Nguyễn Thế Tịnh, Phan Cử, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Bật Lượng, Nguyễn Trọng Phu, Trần Huy Phác, Hồ Sĩ Tiêm, Nguyễn Trọng Ngọc, Nguỵ Khắc Tuần, Nguyễn Cơ Thể).

Vua đến thăm trường thi Quảng Đức, lên vọng lâu xem, có người Kinh Bắc là Nguyễn Văn Hoán đón giá dâng 15 sách thái bình. Lính Tả vệ bắt giam ở trại quân. Vua nói : “Những điều Hoán trình bày tuy là viển vông không dùng được, nhưng trẫm đã mở rộng đường cho nói, há vì lời nói mà bắt tội người ta sao ?” Lập tức sai tha. Nhân thế dụ rằng từ nay có ai đón giá dâng lời thì tả hữu vệ phải giao cho bộ tâu lên, không được bắt giam.

Cho thú binh An thuận, Thanh thuận ở Gia Định hơn 100 quan tiền.

Vua thấy Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân già yếu, dụ rằng khi lễ thường thì miễn vào chầu, tâu việc thì không phải quỳ. Nhân từ chối nói : “Trước mặt vua quỳ tâu là lễ vậy”. Vua nói : “Đấy là trẫm ưu đãi lão thần, việc gì mà từ chối”.

Công thần Vọng Các Lê Văn Chử trước làm Lưu thủ Bình Định, có tội bị cách chức. Đến nay nhờ Vũ Viết Bân dẫn vào yết kiến. Vua nghĩ đến công trước, khiến ở lại Kinh hầu hạ, hằng tháng cấp cho 6 quan tiền, 1 phương gạo.

Nước sông Ngưu Chử (Bến Nghé) ở Gia Định lại trong, từ ngày Bính thìn đến ngày Tân dậu là 6 ngày. Thành thần đem cả việc nước sông đã trong kỳ tháng trước làm biểu tâu lên. Vua dụ bầy tôi rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, ngày đêm đăm đăm lo nghĩ để tìm đạo lý trị dân mà còn sợ rằng trên không báo đáp được sự phó thác nặng nề của trời và hoàng khảo, dưới chưa yên ủi được lòng thần dân trông mong, nên sớm hôm lo lắng chăm chỉ, không dám vui thú mảy may. Gần đây giặc cướp chưa hết, dân chúng chưa yên, phong tục còn kiêu bạc, việc trị dân chưa bỏ được hình phạt, há không phải là trẫm đức bạc sao ! Có chính sách hay gì đâu mà được nước trong như thế ? Nghe tin càng thêm sợ hãi để tu tỉnh mà thôi. Hoặc giả dân ta gần đây gặp dịch lệ trẫm đã hết sức vì dân cầu khẩn, chút cảm động được lòng nhân ái của trời, nên trời giáng điềm lành báo cho dân ta thóc lúa đầy kho, đều được nhân thọ. Hoặc giả bầy tôi biết lấy công bằng trung trực làm việc nước, giữ mình thanh liêm cần kiệm, xét xử hình án ngay thẳng mà được thế chăng ? Mọi người nên cố gắng lấy mình làm gương cho kẻ dưới, để quan lại trọn chức, dân được yên lành, thì chẳng đợi điềm nước sông trong mà nước ta đã bước lên cõi thịnh trị rồi. Còn điềm lành nào bằng, sự mừng nào bằng !”.

Bèn dụ trấn thần Phiên An rằng : “Năm Mậu thân ở Gia Định nước sông trong, thì Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lấy được cõi nam, trẻ già đều bảo là triệu thái bình, không hỏi ai mà đều nói vậy. Thế rồi tức khắc thống nhất đất nước. Năm Đinh sửu nước sông lại trong, nay lại tâu rằng nước sông trong. Trẫm nghĩ rằng trời nhiều lần giáng điềm lành, thực là báo khí hậu thuận hoà, mùa màng phong nẫm, trong ngoài yên lành, để dân ta đều được hưởng phước. Vậy phải sửa lễ mà tế để đáp ơn thần”.

Chở ở kho Kinh 5 vạn quan tiền và 3 nghìn tấm vải đến trữ ở Gia Định.

Miễn việc binh dao cho xã Minh Hương ở Gia Định ; thuế thân vẫn thu theo lệ.

Ban áo quần tiền gạo cho biền binh các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực và hai đội Thị trà nhất, nhị.

Lấy Hương cống triều Lê là Lý Thiện Dưỡng làm Đốc học Quảng Bình, Lê Tri làm Đốc học Quảng Ngãi, Tổng giáo Nguyễn Huy Cẩm làm Đốc học Biên Hoà.

Vua đến đàn chay lớn ở chùa Thiên Mụ, cho các tăng hơn nghìn lạng bạc.

Gọi thợ rèn ở hai xã Minh Lương, Tân Chàng (thuộc huyện Thiên Lộc) về Kinh làm việc, tha cho thuế thân năm nay.

Vùng ven núi Thanh Hoa có nhiều trộm cướp. Sai trấn thần đặt thêm 3 bảo Nhân Trai, Yên Các, Yên Mỹ cùng với 5 bảo cũ Lãnh Thuỷ (Nước lạnh), Chúc Quán (Quán cháo), Khoa Trường, Yên Tôn, La Miệt, tăng thêm binh đóng giữ.

Thanh Hoa và Thanh Bình có bão, mưa nhiều, lúa ruộng bị ngập. Sai trấn thần và đạo thần đi khám tâu lên. Rồi Thanh Hoa thấy miếu vũ nhà cửa bị hư hỏng, xin bắt dân sửa chữa. Vua nói : “Dân ấy riêng bị thiên tai, đương cần vỗ về chưa xong, sao còn bắt họ mệt nhọc nữa ?”. Hạ lệnh thuê người làm.

Sai trích lấy 100 người binh vệ Hổ oai trung sung việc coi giữ Nguyên miếu.

Thượng thư Lễ bộ là Phạm Văn Hưng cử Tư vụ Nguyễn Bá Thân làm Tri huyện. Vua nói : “Thân nhận chức chưa tới một tuần, sao vội cử như vậy ?”. Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức đáp : “Xưa nay Hương cống đều bổ huyện lệnh, chức Tư vụ không phải là sở nguyện của họ. Nay cho thăng để người ta biết rằng chức Tư vụ là bậc thang để thăng bổ mà vui lòng làm việc”.

Vua nói : “Có lẽ nào rồi sau lại không được thăng ? Chưa ngồi ấm chiếu đã vội gì ?”. Không cho.

Định lệ nộp thay tiền cho ba đội buồm đệm ở Bình Hoà. (Tráng dân nộp thay bằng tiền mỗi người 8 quan ; lão tật nộp một nửa).

Định ngạch số người giữ án và giữ sổ cho các địa phương từ Quảng Bình vào Nam, tuỳ công việc nhiều ít mà khác nhau. (Gia Định 15 người giữ án, 25 người giữ sổ ; Quảng Đức, Quảng Nam, Bình Định, Phiên An, Vĩnh Thanh, Định Tường, mỗi nơi 10 người giữ án, 20 người giữ sổ, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Hà Tiên, mỗi nơi 6 người giữ án, 12 người giữ sổ).

Vệ uý Thị trung lĩnh Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Trinh cáo ốm. Trấn thần Thanh Hoa tâu lên. Vua nói : “Trinh là con trung hưng công thần Tôn Thất Hội, buổi quốc sơ được ấm thụ chức Kiêu kỵ đô uý, trẫm nghĩ thương người có công lao cũ nên xét dùng con cháu, cất nhắc lên chức ấy. Thực là nghĩ con em nhà ăn ngon mặc đẹp, việc quân chưa quen, nên cho ở ngoài để tập khó, rắp muốn gây dựng cho. Ngày được lệnh, hắn đã cố từ, trẫm hai ba lần mắng bảo mới chịu lên đường. Nay làm quan chưa được bao lâu lại cáo ốm. Sao chẳng nghĩ như thế là trên phụ ơn nước, dưới nhục gia thanh thì còn đứng ở cõi đời sao được”. Bèn không cho. Sau Trinh chết, cho 100 lạng bạc.

Ký lục Quảng Nam là Hồ Công Thuận chết. Lấy Ký lục Quảng Bình là Trần Lợi Trinh làm Ký lục Quảng Nam, Thiêm sự Lại bộ là Lê Văn Quảng làm Ký lục Quảng Bình.

Vua sắp đi Bắc tuần có việc. Vì công việc Bắc Thành bề bộn, sai Tổng trấn Lê Chất về trước thu xếp việc thành. Chất nhân tâu rằng hành cung ở Bắc Thành xin cho dùng sơn đỏ. Vua nói : “Nơi Tôn Miếu làm đẹp thì nên, còn nơi vua ở thì nên mộc mạc để tỏ đức tiết kiệm, dùng văn vẻ làm gì !”.

Lại dụ các dinh thần trấn từ Quảng Trị ra Bắc sửa lợp lại hành cung, dặn đừng xa xỉ trang hoàng.

Sai hữu ty chế đồ lỗ bộ đại giá cùng cờ xí, binh khí.

Quan giám thành đem bản đồ đường thuỷ từ Kinh sư ra Bắc dâng lên (Từ Kinh sư đến hành cung Quảng Bình 8 trạm, từ hành cung Thạch Khê đến hành cung Nghệ An 3 trạm, từ hành cung Thanh Hoa đến hành cung Bỉm Sơn 1 trạm, từ hành cung Thanh Bình đến hành cung Bắc Thành 6 trạm, đều theo đường thuỷ).

Vua xem. Phàm trên đường chỗ nào đường thuỷ có thể đi thuyền được, đều sai trước Vệ uý vệ Phấn dực Nội thuỷ là Nguyễn Tài Năng chỉnh bị thuyền ghe để chờ.

Bộ Lễ tâu nói : “Lễ tế tự không gì to bằng lễ Giao tế Trời ; lòng hiếu của đế vương không có gì trước sự tôn kính tổ tiên. Xét sách Chu dịch, thì tiên vương chế nhạc sùng đức, tiến lên thượng đế và phối tế tổ tiên. Lại xét sách Chu lễ tế Trời ở đàn tròn, thì phối tế Hậu Tắc((1) Hậu Tắc : tổ nhà Chu.1), tế Trời ở nhà Minh Đường thì phối tế Văn vương. Vì vậy mà sách Trung dung tán dương Vũ vương Chu công là đại hiếu. Từ nhà Hán về sau, duy có Minh đế nối ngôi, tôn thờ Quang Vũ ở nhà Minh Đường là hơi theo ý cổ. Thế tổ Cao hoàng đế ta, khi đại định rồi, bắt đầu dựng đàn Nam Giao và Thái Miếu, sửa sang lễ nhạc mỗi năm tháng trọng xuân tế Trời Đất ở đàn Nam Giao, rước Thái tổ Gia dụ hoàng đế để phối tự, nêu rõ ở Hội điển để phép cho muôn đời. Kính nghĩ Thái tổ Gia dụ hoàng đế, mở mang nghiệp lớn, gây dựng đất nước, Thế tổ Cao hoàng đế dẹp định hoạ loạn, thống nhất cả nước, lập ra cương kỷ, bản thân làm được thái bình, công cao đức dày, xưa chưa từng thấy, thì theo lễ nên sánh với Trời và cùng hưởng với liệt tổ. Sang năm xong việc quốc tang, đến kỳ tế lớn Nam Giao, xin rước Thế tổ Cao hoàng đế phối tự với Trời. Các đồ thờ và nghi tiết đều theo như vị phối của Thái tổ Gia dụ hoàng đế, rồi ghi thêm vào điển lệ, để noi theo phép hay nhà Thành Chu và tỏ lòng thánh hiếu về sau mãi mãi”. Vua y lời tâu. Bộ thần lại xin cho nhạc sinh tập trước để dự bị đến ngày đại lễ hiếu nhạc. Vua y theo.

Tháng 8, ngày Mậu dần, đặt triều nghi ở điện Cần Chính, ban dụ cho trong ngoài. Dụ rằng : “Lễ rước lên phối tự ở đàn Nam Giao là để truy tôn tổ tiên, cao sánh với Trời, cho nên lời Tượng ((1) Tượng từ : lời của Khổng Tử giải thích Kinh Dịch.1) nói về lễ ân tiến ghi trong sách Hy kinh((2) Hy kinh : Kinh Dịch.2), bài ca Hữu hưởng còn chép ở thiên “Chu tụng” ((3) Chu tụng : một thiên trong Kinh Thi.3). Tôn bậc tôn, thân bậc thân, vương đạo thực đã rất đầy đủ. Kính nghĩ Hoàng khảo Thế tổ Cao Hoàng đế ta, thông minh thần vũ, ứng mệnh trời, thuận lòng người, trổ tài kinh luân trong loạn ly, quét sạch bụi mù trong vũ trụ, rửa sạch thù nhục cho muôn dân, yên ổn linh hồn tổ tiên trong chín miếu. Được trời thương giúp, thống nhất cả nước ; dựng nghiệp trung hưng, công đức tươi tốt. Chế tác lễ nhạc để rạng ơn trước, dựng nên kỷ cương lưu lại đời sau. Thân trải hơn bốn chục năm khó nhọc, để lại đến vạn muôn năm cơ đồ. Thực nên phối tự với trời, để tỏ ơn lớn vô hạn. Trẫm từ khi nối ngôi đến nay, kính nhớ tổ tiên, tưởng như giáng lâm, sáng tỏ ở trên, nên càng nghĩ làm cho lừng lẫy nghiệp lớn để tỏ bày lòng kính hiếu. Hiếu kinh nói rằng : “Tôn kính cha không gì bằng đem phối với Trời”. Vậy thì chỉ có tế Giao lễ lớn, kính rước phối lên mới có thể nêu được đức thịnh, tỏ rõ đạo hiếu về sau, lòng chỉ nghĩ nối noi để báo đáp. Nay chuẩn y lời tâu của bộ Lễ, mùa xuân sang năm làm lễ Nam Giao kính rước Thế tổ Cao hoàng đế phối tự. Việc này chép thành Hội điển, truyền lại vô cùng, để tỏ tấm lòng hiếu nối dõi của trẫm và đưa nước nhà đến cõi phước lâu dài. Còn đồ thờ và lễ vật thì do hữu ty kính cẩn sắm sửa”.

Cấp ruộng lương cho biền binh ở vệ Hộ lăng trung theo như lệ quân Thị nội.

Lấy Vệ uý vệ Nghiêm uy Tả dinh quân Thần sách là Lê Viết Quý làm Vệ uý Trung vệ dinh Hổ uy quân Thị nội.

Triệu Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí về Kinh. Trí trước được sai theo việc quân ở Gia Định, đến nay việc biên cương hơi rỗi nên triệu về. Về đến nơi, vua hỏi việc dân, Trí thưa về việc giá gạo đắt (1 phương gạo giá hơn 9 tiền). Vua quay bảo Nguyễn Hữu Thận rằng : “Gia Định là đất dựng nghiệp vương, nay luôn năm mất mùa, trẫm rất thương, muốn tha hết thuế ruộng thì thế nào ?”. Đáp rằng : “Thuế ruộng năm nay đã nộp kho một nửa. Nếu miễn thì người chăm chỉ làm ruộng để nộp thuế cho vua lại không được dự ơn, mà kẻ lười biếng lại được lợi riêng”.

Vua bảo : “Ngươi nên vì ta nghĩ kỹ việc ấy”.

Sai Vệ uý Tiền vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Nguyễn Đăng Huyên kiêm quản các đội Trường trực, Thường trực.

Lấy Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách là Phạm Văn Xuân làm Vệ uý vệ Túc võ, Cai cơ Võ Văn Tường làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ, Lê Văn Hùng làm Phó vệ uý vệ Củng võ, Nguyễn Văn Vỵ làm Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhị.

Triệu thự Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Gia Định là Nguyễn Hựu Nghi vào chầu. Sai Thiêm sự Trần Nhật Vĩnh quyền lĩnh việc tào.

Các địa phương tuân theo ân chiếu xét hỏi về các công thần vô tự mà vợ còn thủ tiết, làm sớ tâu lên. Vua chuẩn y lời bầy tôi bàn cấp thêm tiền gạo để nuôi. (Phàm vợ các công thần Vọng Các trước mông ân cấp mỗi tháng 3 quan tiền, 2 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 36 quan tiền 24 phương gạo ; ai hằng tháng được 2 quan tiền 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 24 quan tiền, 18 phương gạo ; ai hằng tháng được 1 quan tiền 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 18 quan tiền, 12 phương gạo ; ai hằng tháng được 1 phương gạo thì nay hằng năm cấp thêm 12 phương gạo. Vợ các công thần nhất phẩm thì hằng tháng cấp 36 quan tiền, nhị, tam phẩm 24 quan, tứ phẩm 18 quan, số phương gạo cũng như số quan tiền. Duy có vợ Lễ bộ Ngô Tòng Chu thì hằng năm cấp 50 quan tiền, 50 phương gạo).

Tướng giặc ở Sơn Tây là bọn Đỗ Hoành Thản, Đỗ Văn Kỷ kết đảng mưu loạn. Cai đội giữ bảo Bá Dương là Nguyễn Duy Trữ sai thuộc hạ nhập đảng dụ đến Thuỵ Hương (tên xã thuộc huyện Từ Liêm), vây bắt được Thản, Kỷ và đảng giặc hơn mười người. Việc tâu lên. Thưởng cho 100 lạng bạc.

Sai bộ Binh lĩnh việc bưu chính. Lệ trước các trát giao cho trạm đệ đều do bộ Lại. Vua thấy lính trạm thuộc về binh tịch, nên đổi định lại.

Ngày Quý sửu, yết lăng Thiên Thụ.

Sai Chưởng cơ giám thành sứ Trần Văn Học đi Gia Định chiếu địa giới các trấn trong hạt thành và nước Chân Lạp mà vẽ núi sông đường sá để dâng. Học khéo vẽ mà tuổi đã già. Vua bảo rằng : “Ngươi sống không bao lâu nữa, không nghĩ đến để tiếng về sau ru ?” Học đáp : “Xin vâng mệnh”. Bèn sai đi, cho 100 quan tiền.

Thái thường Tự khanh tham lý công việc Lễ bộ là Lê Đồng Lý, trước kia ở Quảng Trị, cùng Cai bạ Nguyễn Cư Tuấn đốc biện lò gạch, bắt dân làm thay dao dịch, việc phát giác, đều bị cách chức chờ xét. Khi án dâng lên, vua thấy phạm tội trước khi có lệnh ân xá, nên miễn tội cho Lý, cho cung chức như cũ. Cư Tuấn còn can về hối lộ, hạ lệnh cho bộ Hình xét lại.

Lại cấm rượu chè cờ bạc trong kinh thành. Vua nghe ở kinh thành nhiều dân du đãng họp nhau rượu chè cờ bạc, bèn ra lệnh, trong thì do bộ Binh, ngoài thì do dinh thần Quảng Đức, nghiêm sức cho địa phương xét trị.

Quốc tử giám làm xong. Bộ Lễ bàn tâu rằng : “Nhà học hiệu đặt ra là để thi hành lễ nhạc, tuyên bố đức hoá, sáng tỏ văn minh, lưu hành ơn dạy, đó là điển lễ rất sáng lớn. Thế tổ lúc mới đại định, yết miếu Khổng tử, dựng lại Văn miếu, dựng học cung ở phía tây, nền móng đã thành mà công việc chưa xong. Hoàng thượng ta vâng theo chí lớn, nhân nền cũ dựng nhà Quốc học, quy mô văn trị rỡ ràng. Nay đã làm xong, xin đặt vị vọng bái Tiên thánh ở nhà Di luân. Giám thần họp sinh viên đến bái yết, rồi hằng ngày ngồi ở giảng đường dạy, để mở con đường sùng nho thịnh vượng cho muôn đời”. Vua y lời tâu.

Bắt đầu đặt vệ Cẩm y, lấy các đội Túc trực, Trường trực, Thường trực sung vào, phẩm trật cũng như quân Thị trung.

Hơn 140 thủ binh ở đạo Cam Lộ thuộc Quảng Trị, gần đây nhiều kẻ trốn hoặc chết. Dinh thần thấy nơi ấy đường sá thông đi các ngả, rất là xung yếu, tâu xin mộ người sung đủ ngạch cũ để phòng ngự. Vua y cho.

Cho Trần Công Lại làm Thống chế hành chức Trấn thủ Vĩnh Thanh, kiêm quản biền binh đồn Uy viễn, Vệ uý Thần sách là Phan Tiến Hoàng hành chức Trấn thủ Phiên An.

Miễn thuế thân năm nay cho hai đội thợ rừng ở Quảng Trị.

Phục chức cho Hoàng Trung Đồng làm Chánh quản Tuần hải đô dinh, cấp bổng Tòng tam phẩm, cho thuộc thành Gia Định sai khiến. Trung Đồng trước có tội bị bãi chức. Vua nghĩ buổi đầu trung hưng có quân công nên lại dùng.

Chế ấn quan phòng bằng ngà cho Quang lộc Tự khanh và Thị trung Trực học sĩ.

Lấy Phó vệ uý Hậu nhị quân Thị trung là Lê Phước Bảo làm Phó vệ uý vệ Hữu nhị, Cai đội Hoàng Văn An làm Phó vệ uý vệ Trung nhị.

Lấy Hàn lâm viện Thừa chỉ là Trần Công Tuân làm Thượng bảo Thiếu khanh, Lang trung Binh bộ là Vũ Hàm Chương làm Thiêm sự Binh bộ.

Lấy Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp biện đại học sĩ, vẫn lĩnh Thượng thư Lại bộ và kiêm lĩnh Thượng thư Binh bộ.

Đầu vua muốn cho Hoài Đức làm quan nhất phẩm, đem hỏi các đại thần. Bọn Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên đều đáp rằng nên. Vua nói : “Phong hội chuyển biến ngày càng mau mà nhân tài ngày càng kém. Văn thần ngày nay tìm được người như Lễ bộ Thượng thư Đặng Đức Siêu khó mà có được. Khéo dùng người thì chỉ tuỳ tài mà bổ quan để dùng. Vả lại quan nhất phẩm văn giai thì buổi quốc sơ đã có quan chế. Ngày nay thăng bổ lên cũng là noi theo lệ cũ vậy. Quy mô dựng nước của Hoàng khảo ta đều là để làm nên chí của tổ tiên. Phàm các điển chương pháp độ để lại cho ta là người sau, ta tự nên tuân theo để truyền muôn đời, có dám vượt qua đâu”.

Hoài Đức được mệnh, dâng biểu từ chối.

Vua nói : “Ngày nay ở văn ban có mình ngươi là hơn cả, nên gắng làm trọn chức vụ để giúp trẫm những chỗ chưa kịp. Chớ từ chối”.

Lấy Tả Tham tri Công bộ là Nguyễn Đức Huyên làm thự Thượng thư Công bộ. Huyên cũng dâng biểu từ chối. Vua không cho.

Triệu Ký lục Quảng Trị là Vũ Xuân Cẩn về Kinh ; lấy Thượng bảo Thiếu khanh là Nguyễn Cửu Khánh làm Cai bạ Quảng Trị, Tham quân Tiền quân là Vũ Tiến Uyên làm thự Ký lục. Bọn Khánh bệ từ. Vua dụ rằng : “Quảng Trị là nơi đất xấu dân nghèo. Bọn ngươi nên để ý vỗ nuôi, bất tất hộ khẩu phải tăng nhiều, miễn không điêu hao cũng là xứng chức vậy”.

Quảng Oai công là Quân thích chơi bời săn bắn, từng sai thuộc hạ trong phủ đòi chó săn trong dân gian.

Vua hạ lệnh đánh roi Trưởng sử và Cai đội, còn bọn thuộc hạ thì đánh 100 trượng, sung làm lính nhà bếp trong quân Tam trực(() Tam trực : các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam.). Em ruột tiểu sai Ngô Doãn Diệu cũng can việc ấy mà bị tội. Diệu đến công phủ đòi hỏi. Vua nghe tin cả giận, ném cái long bài, sai đem chém Diệu ở chợ. Sau nguôi giận lại thôi. Nhân bảo Thống chế Thị nội là Vũ Viết Bảo rằng : “Em Diệu dẫn Quảng Oai công đi chơi bời, ngày ngày chỉ chăm săn bắn, có giết cũng đáng. Nay sung làm lính nhà bếp cũng không quá, thế mà Diệu dám đòi hỏi là thế nào ? Diệu hằng ngày hầu bên cạnh, há không biết Quảng Oai công là em trẫm mà còn dám thế ? Chả trách nào bọn ấy được sai đi các địa phương, hễ ai cho ăn thì khen hay, không thì nói xấu”.

Chuẩn định bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai thuộc quân Thị nội từ nay có dân ngoại tịch ở Tứ trực(() Tứ trực : các dinh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi.) và các trấn tình nguyện làm binh thì cho ghi vào ngạch.

Đổi chức Cai hợp các thành dinh trấn làm Thư lại chánh bát phẩm, thủ hợp làm Thư lại chánh cửu phẩm.

Bắt đầu định ngạch số và phẩm trật Tri bạ và Thư lại các quân dinh. Các vệ cơ ở trong ngoài đều đặt 1 Tri bạ, đội đặt 1 Thư lại. Tri bạ quân Thị trung trật Tòng ngũ phẩm, Thư lại thì tòng bát phẩm ; Tri bạ quân Thị nội Chánh lục phẩm, Thư lại Chánh cửu phẩm. Năm dinh quân Thần sách cùng vệ cơ các quân và các thành

dinh trấn, thì Tri bạ trật Tòng lục phẩm, Thư lại Tòng cửu phẩm.

Đình thần bàn lấy tháng 9 thì hạ lệnh ngự giá Bắc tuần. (Nhà Thanh có thư sang nói sứ thần ta là bọn Trần Bá Kiên khoảng tháng 4 đến Yên Kinh, vua Thanh sai án sát sứ Quảng Tây là Phan Cung Thìn sung chức Khâm sứ).

Định chương trình đi Bắc tuần (Trước kỳ chọn sai hoàng tử và đại thần ở lại Kinh ; điểm các đại thần quan viên hỗ giá ; chọn ngày yết cáo ở các miếu và ở điện Hoàng Nhân, thỉnh an cung Từ Thọ. Sai quan tế thần kỳ đạo [cờ]. Xa giá qua Thanh Hoa thì yết cáo Nguyên miếu. Trên đường đi, qua miếu các đế vương lịch đại, và đền thờ các thần danh sơn đại xuyên, đều có bày đàn tế. Các nơi dịch trạm thì liệu trữ bạc tiền gạo lương để sẵn cho việc ban thưởng. Ngày xa giá khởi hành thì hoàng tử và quan viên lưu kinh ra ngoài Kinh đô quỳ tiễn. Phàm gặp ngày miếu hưởng, ngày kỵ, ngày sóc ngày vọng và lễ ân tiến, hoàng tử lưu Kinh làm lễ. Từ Quảng Nam trở vào Nam, có chương sớ về Kinh, phải đổi trát để chuyển đến hành tại. Từ Quảng Trị trở ra Bắc thì đều đệ thẳng đến. Xa giá đến đâu, quan lại địa phương phải đến đầu hạt quỳ đón. Xa giá đến hành cung thì quan lại địa phương làm lễ triều bái. Lễ dùng trâu gạo thay cho ngọc lụa. Các xã dân dọc đường, kỳ lão đều bày hương án quỳ đón, cho miễn dâng hiến. Ngày hồi loan quan lại các địa phương lại quỳ tiễn ở địa đầu ; hoàng tử và quan viên lưu kinh quỳ đón ở ngoài Kinh đô. Ngày hôm sau, lễ tạ các miếu, điện Hoàng Nhân, mừng sức khoẻ ở cung Từ Thọ, đều theo các lễ như trước).

Ban kỷ luật hành quân (Phàm ra đi đều y theo đồ thức, nghe hiệu lệnh chiêng trống mà tiến hay dừng, cốt sao đội ngũ nghiêm chỉnh, không được vượt thứ tự tranh nhau. Làm trái thì có tội. Nơi vua trú chân trong hành cung thì treo màn, ở ngoài thành thì vây thành lưới. Quan túc vệ thì tướng không lìa binh, quân không được bỏ hàng ngũ ; không cho người vô sự ra vào lẫn lộn. Khi yên doanh rồi, thổi một hồi tù và, mỗi đội cho 1 phần 5 lính đi lấy củi nước và kiếm mua thức ăn. Thổi ba hồi tù và thì phải về doanh ngay. Kẻ nào dám mua rẻ mua hiếp, hoặc tự tiện vào nhà người hái rau trẩy quả thì đánh 100 trượng. Giày xéo ruộng lúa và thả voi ngựa giẫm hay ăn lúa thóc rau quả thì đánh 80 trượng và bắt đền giá gấp đôi cho chủ. Nếu không có bài trạm mà bắt bậy phu trạm, thì khép vào tội vi chế. Khi đi đường, có ai ốm thì viên cai quản phải lưu lại hai người trong đội để điều dưỡng. Có người chết thì báo địa phương sở tại cấp tiền tuất để mai táng, dựng mộ chí để đợi lúc về nhận. Làm trái thì khép vào luật bỏ xác chết. Ban đêm, trung sứ có việc quan trọng truyền báo, nếu xét có cờ bài mệnh vua, ấn vua hay cờ rồng thì lập tức cho đi. Như các quan văn võ có việc vào tâu, xét có bài tâu việc, cũng lập tức cho đi. Đến cửa ngự doanh, phải chuyển báo cho thị vệ đại thần tâu xin cho vào hay đứng lại. Sau khi mọi người yên nghỉ, nếu biền binh có việc ra vào thì lấy khẩu hiệu và hoả mai làm tin, nếu không có, bắt xét trị. Nếu có việc quân cơ khẩn yếu, lập tức chạy báo cho thị vệ ở ngự doanh để tâu lên, nếu chậm trễ lỡ việc thì xử theo quân pháp. Đêm có ai nằm mộng nói mê, người canh gác phải đánh thức ; nếu điềm nhiên để người nói mê kêu to, trong quân đêm khuya hoảng sợ thì cũng xử theo quân pháp).

Gọi hơn 2.800 người mới điền ở dinh vệ đội các quân Thị trung, Thị nội, Thần sách đến cả hàng ngũ ở Kinh. Đầu là số binh ở Kinh thiếu, nhân gặp nạn dịch nên đình bổ sung. Đến khi nạn dịch lui, chuẩn y lời đình nghị, hạ lệnh cho sở tại điền cho đủ số, nhưng vẫn để ở bản quán đến nay mới gọi ra để chuẩn bị theo giá.

Dụ rằng : “Tôn người trên mà hầu hạ là công việc phận sự của bọn ngươi, đều phải cố gắng, không được quen thói bỏ trốn. Làm trái thì xử theo quân pháp”.

Khi lính đến rồi, sai cùng các quân diễn tập ở trước Kinh thành.

Vua từng ngự giá đến xem và chỉ bảo, tự mình đánh trống ra lệnh, đi đứng đều đúng kỷ luật.

Sai trấn Quảng Ngãi bắt hết lính ở sáu cơ Kiên chia đi phòng giữ các đồn núi và điều động 500 lính ở cơ Hoà Thắng trấn Bình Hoà, cơ Thuận Nghĩa trấn Bình Thuận, đi đóng thú ở Bình Định. Lại sai trấn Nghệ An bắt hơn 3.000 biền binh hạ ban((1) Hạ ban : ban đương nghỉ ở nhà.1) của quân Thần sách, chiếu cấp cho lương hằng tháng để chờ lệnh điều độ.

Vét kênh Tiểu Khê ở Quảng Bình để đường thuỷ được thông (Từ cầu Tiểu Khê ở địa đầu đến cửa sông Tam Kỳ về xã Thổ Ngoã, dài trên 4.880 trượng). Sai quan giám thành đến chỉ bảo. Những người ứng dịch được hậu cấp tiền gạo. Ruộng đất chỗ nào bị đào mất thì được đền tiền.

Dụ rằng : “Việc này là bất đắc dĩ chứ không phải là thích chơi xem để làm nhọc sức dân đâu !”.

Sai Chưởng Thuỷ quân Tống Phước Lương quản lĩnh binh thuyền đi trước.

Dụ rằng : “Quân đi có kỷ luật, ngươi nên răn cấm quân lính không được nhiễu dân ; nếu coi giữ không nghiêm là tội ngươi đấy”. Cho quân sĩ hơn 2.000 quan tiền.

Sai Thanh Nghệ và Bắc Thành dự bị binh thuyền để đón ngự giá, và liệu bắt biền binh đi tuần xét các chỗ quan yếu ở dọc đường.

Cấp gạo lương cho các dịch trạm từ Quảng Đức trở ra Bắc. (Quảng Đức 2 trạm, mỗi trạm 48 phương gạo, Quảng Trị 4 trạm, Quảng Bình 6 trạm, mỗi trạm 60 phương ; Nghệ An 11 trạm, Thanh Hoa 5 trạm, mỗi trạm 80 phương ; Thanh Bình 2 trạm, Sơn Nam thượng 5 trạm, mỗi trạm 60 phương). Lại hạ lệnh cho sở tại thuê thêm dân đinh phụ vào.

Chế bài trạm bộ Binh, phàm người theo ngự giá đáng được cấp trạm thì dùng. Lại sai các Cai đội và Phó đội các quân Thị trung, Thị nội chia đi xét nghiệm ở các trạm, cấp cho mỗi người 10 lạng bạc.

Bộ Lễ tâu rằng các miếu đế vương lịch đại thì xin sai quan đến tế ở nơi phát tích hoặc ở nơi tiếp cận dọc đường, còn các danh sơn đại xuyên thì mỗi nơi do địa phương hợp tế một đàn.

Vua y lời tâu. (Miếu Kinh Dương vương ở xã á Lữ trấn Kinh Bắc, miếu Hùng vương ở xã Nghĩa Cương((1) Đúng là Hy Cương.1) trấn Sơn Tây, miếu Thục An Dương vương ở xã Hương ái trấn Nghệ An, miếu Triệu Vũ đế ở xã Xuân Quan trấn Kinh Bắc, miếu Trưng vương ở xã Nhân Châu trấn Sơn Nam thượng, miếu Lý Nam đế ở xã Tử Đường trấn Sơn Nam hạ, miếu Triệu Việt vương ở xã Trinh Hà trấn Thanh Hoa, miếu Mai Hắc đế ở xã Hương Lãm trấn Nghệ An, miếu Bố Cái đại vương ở xã Cam Lâm trấn Sơn Tây, miếu Đinh Tiên hoàng ở xã Trường Yên thượng đạo Thanh Bình, miếu Lê Đại hành đế ở xã Ninh Thái trấn Sơn Nam thượng, miếu các vua triều Lý ở xã Đình Bảng trấn Kinh Bắc, miếu các vua triều Trần ở xã Tức Mặc trấn Sơn Nam hạ, miếu các vua triều Lê ở xã Bố Vệ trấn Vệ Thanh Hoa. Tất cả 15 nơi. Thần các danh sơn đại xuyên từ Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Bắc Thành, tất cả 8 đàn).

Đặt trường đại duyệt binh ở phía nam sông Hương.

Vua đến xem. Nhân lên núi nhìn xem cửa biển của Kinh thành, đặt tên núi bên tả là núi Tả Phụ, núi bên hữu là núi Hữu Dực, phá Tam Giang là Tam Giang hải nhi, phá Hà Trung là Hà Trung hải nhi.

Sai trung sứ ra Bắc Thành hỏi thăm tin tức sứ nhà Thanh.

Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tế cờ xong rồi duyệt binh tượng. Vua ngự điện Càn Nguyên xem (số binh trên 21.100 người).

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển xi

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa thu, tháng 9, thi Hương ân khoa ở các trường Gia Định, Thanh Hoa, Thăng Long, Sơn Nam.

Sai Hữu Tham tri Hộ bộ lĩnh Hộ tào thành Gia Định là Nguyễn Xuân Thục làm Đề điệu trường Gia Định, Ký lục Quảng Ngãi là Vũ Huy Đạt làm Giám thí, Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ là Hoàng Kim Hoán làm Đề điệu trường Thanh Hoa, Cai bạ Bình Định là Hoàng Văn Quyền làm Giám thí, Tả Tham tri Lễ bộ hành Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Bùi Đức Mân làm Đề điệu trường Thăng Long, Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ là Nguyễn Tuần Lý làm Giám thí, Hữu Tham tri Hình bộ lĩnh Hình tào Bắc Thành là Vũ Đức Thông làm Đề điệu trường Sơn Nam, Thị trung Trực học sĩ tham bồi Lại bộ Đinh Phiên làm Giám thí.

Khi danh sách đệ lên, lấy đỗ tất cả 92 Hương cống. (Trường Gia Định 16 người : Nguyễn Văn Kỳ, Bùi Nguyên Thọ, Vũ Công Nhàn, Nguyễn Khắc Hài, Trương Phác, Tôn Thọ Đức, Đoàn Khiêm Quang, Tống Đức Hưng, Trịnh Quang Khanh, Nguyễn Vĩnh Trinh, Phạm Tuấn, Trương Văn Uyển, Lê Bá Đằng, Hồ Văn Nghĩa, Phạm Ngọc Oánh, Lê Đức Ngạn - Trường Thanh Hoa 19 người : Hoàng Sĩ Quang, Phạm Xuân Bích, Nhữ Bá Sĩ, Nguyễn Xuân Thiều, Bùi Trần Đản, Nguyễn Thu, Phạm Phổ, Thiều Nguyên Diệu, Vũ Đức Dụng, Phạm Viết Cao, Đặng Kim Giám, Lê Bảo, Hoàng Sĩ Cơ, Bùi Danh Kỳ, Nguyễn Trọng Ôn, Bùi Lê Nghệ, Lê Huy Điện, Bùi Quốc Trinh, Nguyễn Trị - Trường Thăng Long 23 người : Lê Duy Trinh, Lê Hựu, Nguyễn Huy Vĩ, Nguyễn Đăng Chu, Hoàng Dũ Quang, Phạm Thế Phổ, Đỗ Cao Mai, Vũ Vĩnh, Ngô Huy Tuấn, Nguyễn Quốc Cẩm, Nguyễn Huy Chiểu, Nguyễn Quốc Thanh, Lý Văn Loát, Vũ Đình Hoán, Đoàn Thế Trạch, Phạm Quang Vy, Phùng Văn Bằng, Phạm Gia Lâm, Nguyễn Văn Bính, Đào Đình Nghiễm, Dương Đức Hoành, Dương Xuân Triêm, Ngô Hiến -Trường Sơn Nam 34 người : Nguyễn Văn Diễn, Hà Quyền, Trương Mãn, Phạm Đình Trạc, Dương Bá Cung, Lưu Diệu, Lưu Hân, Lê Quang, Vũ Đức Khuê, Đặng Văn Đồng, Nguyễn Đình Dao, Lê Đan Quế, Lê Lễ, Hoàng Quý Đức, Nguyễn Huy Chiếu, Phạm Xuân Kiểm, Nguyễn ý, Nguyễn Xuân Xưởng, Mai Khắc Mẫn, Vũ Quý Đức, Lê Khản, Phạm Đình Tương, Phạm Nhưng, Trần Văn Yêm, Vũ Tuấn, Lê Duy Thị, Nguyễn Bá Huống, Vũ Đăng Dương, Nguyễn Thế Tự, Vũ Công Nho, Trương Chân, Ngô Vi Dực, Trần Lê Hoán, Vũ Đức Tuế).

Hiệp trấn Kinh Bắc là Lê Quang Thực ốm phải miễn chức ; lại lấy Phùng Huy Giảng thay (Giảng trước mắc bệnh về nghỉ, đến nay khỏi, bổ lại chức ấy).

Triệu Cai bạ Quảng Nam là Nguyễn Đăng Tuân về Kinh, sai lấy nguyên hàm sung chức Quang lộc Tự khanh tham bồi công việc bộ Lễ.

Ký lục Phiên An là Đoàn Văn Chất chết.

Đổi Nhà đồ Gia Định và Bắc Thành làm cục Tạo tác, và chế dấu đồ ký bằng ngà cấp cho.

Lấy Vệ uý vệ Củng võ là Nguyễn Văn Ngoạn làm Vệ uý vệ Ban trực Hữu dinh quân Thần sách.

Định điều lệ (gia) cấp và kỷ (lục).

Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức nghị tâu rằng : “Xét phép nhà Thanh, lệ cấp kỷ có ba : một là quân công, hai là nghị tự, ba là ân thưởng. Nghị tự là do xét công mà được. Cứ bốn lần được kỷ lục thì bằng một cấp. Một cấp quân công bằng hai cấp nghị tự hay ân thưởng ; kỷ lục cũng thế. Ai được cấp kỷ đều do bộ cấp bằng. Đến kỳ mãn lệ được thăng, ai có nhiều cấp và kỷ thì ở trên, ít thì ở dưới, tính mỗi cấp quân công bằng tám lần kỷ lục của ân thưởng hay nghị tự, một cấp ân thưởng nghị tự thì bằng hai lần kỷ lục của quân công. Người được thăng bổ theo gia cấp quân công nếu có cả ân thưởng, nghị tự thì cứ mỗi một cấp của ân thưởng nghị tự được tính bằng một lần kỷ lục (quân công). Làm việc công phải tội giáng phạt thì cứ một cấp của ân thưởng, nghị tự được trừ phạt 6 tháng bổng ; nếu là quân công thì được trừ gấp hai. Nếu tội phạt không đáng thì trừ một lần kỷ lục thì ghi vào sách để giáng hoặc đổi, nếu là kỷ lục quân công thì được miễn, nhưng nếu phạm tội về quân chính thì lại không được miễn. Người có nhiều kỷ lục mà bị giáng thì được hợp kỷ lục lại thành cấp mà chiết trừ ; nếu chỉ có cấp mà bị phạt thì chia cấp ra thành nhiều kỷ lục để trừ. Một người mà có vài ba cấp, phải xét năm tháng trước sau mà trừ theo thứ tự. Nếu phạm tội về việc riêng thì xét nguyên do về việc đã được gia cấp và kỷ lục và xét cả cái cớ không được chuẩn cho trừ, tâu rõ lên để đợi chỉ mà tuân làm”.

Lời bàn dâng lên, vua theo.

Định lại lệ mộ thuộc binh cho Võ nha theo thành Gia Định.

Thành thần tâu rằng : “Dân trong hạt ẩn lậu nhiều, buộc theo pháp luật thì sao xiết tội, mà xử trị khoan hồng thì chúng cứ giữ thói cũ, muốn biết số hộ khẩu tăng, giảm thực cũng khó vậy. Vả lại, năm trước việc các quản quân ở Võ nha theo thành mộ đặt thuộc binh đã có định lệ (Vệ uý, Chánh quản cơ thì 7 người, Phó vệ uý, Phó quản cơ thì 5 người, Cai đội, Suất đội thì 3 người). Nay xin cho những Vệ uý, Quản cơ, Cai đội không quản quân cũng được mộ lập thuộc binh. (Vệ uý, Chánh quản cơ thì 6 người, Phó vệ uý, Phó quản cơ thì 4 người, Cai đội thì 2 người). Lúc thường thì dùng sai vặt, khi có việc dùng làm thân binh, để cho dân du đãng có nơi sở cứ, mà cái tệ ẩn lậu dần dần bỏ được”.

Vua y lời tâu.

Yên Quảng có bão.

Cai bạ Định Tường là Phan Văn Thịnh mượn riêng tiền công và nhận của hối lộ. Việc phát giác, trước cách chức rồi hạ lệnh cho thành thần Gia Định tra hỏi. Khi án dâng lên thì xử chém, vua chuẩn cho đồ 5 năm.

Ngày Canh tuất, đại duyệt binh.

Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và thự Tiền quân Trần Văn Năng làm phù liễn. Lại sai Thống chế Tôn Thất Dịch thống lĩnh Trung dinh, Đô thống chế Nguyễn Văn Vân, Phó đô thống chế Nguyễn Văn Trí thống lĩnh Tả dinh, Thống chế Vũ Viết Bảo thống lĩnh Hữu dinh, đều chỉnh đốn trước biền binh để đợi hiệu lệnh. Ngày ấy, vua mặc binh phục đeo gươm cưỡi ngựa đến ngự doanh, lên lầu Duyệt thị. Hạ lệnh cho các quân bày trận pháp đều y theo quân lệnh mà tiến dừng. Rồi lấy trâu rượu thưởng và uỷ lạo.

Cho những người hỗ tòng, các hoàng tử tước công và quan văn từ Chánh ngũ phẩm, quan võ từ Suất đội trở lên, mỗi người 1 chiếc hào bao gấm ; văn Tòng ngũ phẩm trở xuống thì xét phẩm trật cấp tiền ; võ từ Suất thập cho đến binh lính thì đều cho quần áo. Lại thưởng cho quan quân 1 tháng tiền lương bổng. Kỵ tốt theo hầu cũng được cấp tiền gạo. Quan viên nào trước nhân việc công có lỗi mà bị phạt đều được miễn.

Ngày Quý sửu, vua thân đến Thái Miếu cáo về việc Bắc tuần.

Ngày Giáp dần, cáo ở điện Hoàng Nhân. Để tang phục ở tả vu. Từ đấy, vua ngự điện thính chính đều mặc cát phục.

Trước bộ Lễ viết văn cáo có chữ sót lầm. Vua triệu Phạm Đăng Hưng và Lê Đồng Lý quở rằng : “Xem việc thì tội nhỏ mà xét lòng thì tội to. Nhưng nay sắp đi Bắc tuần, ai có lỗi đều khoan miễn. Tội bọn ngươi cũng tạm tha, đừng có bảo là trẫm nhu nhơ”.

Vua cùng bầy tôi bàn lễ ngoại giao, hỏi Phạm Đăng Hưng rằng : “Lễ dụ tế thì nên mặc y phục gì ?” Thưa rằng : “Lệ cũ triều Lê dùng áo bào đen và đai sừng”. Vua không vui, bảo Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận rằng : “Ngày giỗ liệt thánh, Hoàng khảo ta đội mũ xuân thu, mặc áo tràng vạt, đã có điển lễ, thì trẫm theo lễ Hoàng khảo thờ liệt thánh để thờ Hoàng khảo, hà tất phải theo lễ đời Lê. Đến như lễ nhà Thanh thì 3 lạy 9 vái, nếu họ đòi ta như thế, há bọn khanh cứ yên lặng không nói gì sao ? Tóm lại, lễ phải tuỳ tục nước, ta tự theo lễ nước ta, có gì là không được ?” Liền định khi dụ tế mặc áo như ngày kỵ.

Ngày ất mão, vua đem bầy tôi đến cung Từ Thọ mừng sức khoẻ, rồi ban cho ăn ở tả vu và hữu vu.

Sai Hoàng trưởng tử lưu Kinh trông coi việc quân quốc ; Chưởng Hữu quân Nguyễn Văn Nhân, Phó đô thống chế Hữu dinh quân Thần sách Tôn Thất Bính, Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm đều sung chức lưu Kinh đại thần ; Quang lộc Tự khanh Nguyễn Đăng Tuân, Thiêm sự Hộ bộ Hồ Hữu Thẩm, Thiêm sự Binh bộ Vũ Hàm Chương đều hộ vệ ấn lưu Kinh.

Vua bảo Nguyễn Văn Nhân rằng : “Hoàng tử tuổi còn trẻ, khanh cùng bọn Tôn Thất Bính, Lê Bá Phẩm việc gì cũng họp bàn thoả đáng, rồi mới trình bày cho biết. Việc nên tâu thì dùng ấn lưu Kinh và đều ký tên ở cuối giấy. Khi trước khanh ở Gia Định đương lúc chiến tranh mà còn giúp đỡ được giỏi giang, huống nay là lúc thái bình vô sự. Khanh nên hết lòng cẩn thận cho trọn trách nhiệm”.

Lại bảo Hữu tham tri Hình bộ sung giáo đạo là Ngô Đình Giới rằng : “Các hoàng tử hoàng đệ ở lại Kinh, không phải chỉ dạy văn học mà thôi, phàm sự tiến lui ra vào càng nên chỉ bảo cho biết đúng đắn, đó là trách nhiệm của ngươi. Còn như việc lớn quân quốc thì cho cùng bàn bạc với các đại thần lưu Kinh”.

Sai Tôn Thất Bính quyền lĩnh biền binh Thị trung Thị nội lưu Kinh để canh giữ Kinh thành, Lê Bá Phẩm thay giữ ấn triện Hộ bộ.

Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên, thự Tiền quân Trần Văn Năng, Thống chế Tôn Thất Dịch, Vũ Viết Bảo sung làm thị vệ đại thần tuỳ giá.

Ngày Kỷ mùi, đặt đại triều nghi ở điện Thái Hoà. Dụ rằng : “Trẫm kính theo lời di huấn, nay phải đi việc bang giao, mà lễ đại tường trừ phục 27 tháng chưa trọn, lòng trẫm thực bất đắc dĩ. Bèn sắc cho hữu ty xét rõ điển lễ để trong khi đi tuần Bắc Thành nhân tiện thăm các địa phương và hỏi về phong tục. Đã chọn được ngày lành, đến mồng 6 tháng này kính cáo Thái Miếu, mồng 7 kính cáo điện Hoàng Nhân, mồng 8 khánh an ở cung Từ Thọ, ngày 12 chọn sai hoàng tử và đại thần là Khâm sai chưởng Hữu quân quận công Nguyễn Văn Nhân, Hữu dinh Phó đô thống chế Tôn Thất Bính, Hình bộ Thượng thư Lê Bá Phẩm lưu Kinh để trông coi mọi việc quân quốc, ngày 15 thì đại giá khởi hành. Tất cả các hoàng tử tước công, các đại thần, thị vệ, văn võ tuỳ giá, đều phải hộ vệ xa giá, giữ trật tự nghiêm chỉnh, cùng là nghiêm nhặt giữ cho quân lính tuân theo quân luật, đừng để quấy dân địa phương. Còn các hoàng tử tước công, các đại thần, thị vệ, văn võ không tuỳ giá, thì người nào nhận chức người ấy, đều phải công bằng giữ phép, theo lệnh các quan lưu Kinh điều độ”.

Xong rồi vua ngự điện Cần Chính, Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh bái mạng. Sắc dụ Hoàng trưởng tử rằng : “Kinh sư là đất căn bản, nay đặc biệt sai ngươi và bọn đại thần Nguyễn Văn Nhân ở lại coi giữ. Phàm gặp lễ hưởng tiến Tôn Miếu, ngươi phải kính cẩn tế thay và ngày thường thân đến cung Từ Thọ thay trẫm thỉnh an. Các chương sớ từ Quảng Nam trở về Nam và của các nha ở Kinh thì đều phát trạm đệ đến hành tại. Các bản sao đều cho mở xem rồi để lại Văn thư phòng. Nếu là việc thường thì cho cùng các đại thần xử trí. Nguyễn Văn Nhân vốn là người có công lao năng lực, trước tuổi đều hơn ngươi, nên lấy lễ sư bảo mà thờ, không được nghe kẻ bất chính tòng trung phá rối. Vả lại nay uỷ ngươi giữ Kinh là muốn cho quen hiểu chính trị, khi rảnh việc công, cũng nên học tập kinh sử, cố gắng tiến đức tu nghiệp, không nên chút ham vui chơi mà phụ lời trẫm. Nên ba lần nghĩ đi nghĩ lại và ghi vào lòng chớ sai”. Nhân ban cho một dấu đồ ký bằng ngà để khi có chỉ của cung Từ Thọ và có việc ở nội cung thì dùng. Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Bính và Lê Bá Phẩm thì cũng đều ban sắc dụ khuyên cố gắng cùng lòng hiệp sức làm việc nước.

Đem việc Bắc tuần bố cáo trong ngoài.

Ngày Nhâm tuất, xa giá từ kinh sư xuất phát. Thuyền ngự đi theo dòng Hương giang. Ngày ấy trời mưa, đến chiều tạnh. Đi qua đâu kỳ lão các địa phương đều bày hương án vui mừng đón rước. Ngày Giáp tý thuyền ngự đến kênh Mới ở Quảng Trị. Dinh thần đem dân khơi thông dòng sông. Thưởng cho 100 lạng bạc, 500 quan tiền.

Ngày Bính dần, đến kênh Tiểu Khê ở Quảng Bình. Nước cạn, thuyền ngự không đi được, biền binh đi theo cùng với dân sở tại đóng cọc giữ nước rồi kéo thuyền qua, đến cửa ngã ba sông, thưởng cho biền binh 2.000 quan tiền. Lại dụ bộ Hộ rằng : “Đường kênh cạn hẹp, là lỗi ở người hướng đạo không biết chỉ bảo. Nay dân ta chăm lo việc công, ra sức chỉ vài ngày là thuyền đến được sông cái, trẫm há lại vì cớ quan tồi mà chẳng thương đến dân sao ?” Cũng thưởng dân 1.000 quan tiền.

Hoàng trưởng tử và đại thần lưu Kinh đem việc trong Kinh yên vui tâu lên. Vua cả mừng, tự tay viết biểu dâng cung Từ Thọ để thỉnh an. Lại thân làm dụ yên ủi thăm hỏi Hoàng trưởng tử và các đại thần. Từ đấy, tin yên vui trong Kinh cứ ngày một lần báo.

Vua ở hành tại, biểu thỉnh an cung Từ Thọ và dụ gửi cho Hoàng trưởng tử đều tự làm lấy cả.

Ngày Mậu thìn, xa giá đến hành cung Quảng Bình. Vua lên thành xem luỹ cổ, cùng với thị thần bàn về việc Nam Bắc phân tranh thời quốc sơ. Lại đến cửa biển Nhật Lệ ngắm xem hồi lâu.

Cho tế tướng sĩ trận vong Nam Bắc (đàn nam tế tướng sĩ thời quốc sơ ; đàn bắc tế tướng sĩ quân miền Bắc). Dụ rằng : “Khi các thánh mới bắt đầu mở nghiệp, chỗ này là chiến địa, là chỗ vùi ngọc của các tướng sĩ vì nước bỏ mình. Người Bắc chống nhau với ta, không khỏi không bị đâm chém, nhưng đều vì chúa mà bỏ mình thôi. Nhìn lại dấu cũ, bỗng lòng cảm thương. Vậy sai dinh thần đặt hai đàn tế Nam Bắc, mà đàn Nam lễ thì phẩm hậu hơn để tỏ hơn kém”. Rồi đặc sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức khâm mạng đến tế.

Đem phẩm vật địa phương dâng cung Từ Thọ. Đến địa phương nào có của quý, vua đều tự viết biểu sai trung sứ đệ dâng.

Cho quân sĩ hỗ giá 1.000 quan tiền. Dụ rằng : “Trong khi đi đường, ai có bị bệnh thì quan sở tại cấp thuốc, nếu chết thì cấp cho tiền vải liệm chôn và đánh dấu mộ rồi báo lên bộ tư về quê quán”.

Thưởng cho Quảng Bình 500 quan tiền về việc mới dựng nhà quan và trại binh.

Ngày Canh ngọ, ngự giá qua sông Gianh, thưởng cho phu đò 20 lạng bạc và miễn thuế thân cho dân Thanh Hà (tên thôn, dân đều làm phu đò).

Ngày Tân mùi, ngự giá vượt núi Hoành Sơn, thưởng cho lính loan nghi [lính kiệu] 500 quan tiền.

Ngày Nhâm thân, trú chân ở hành cung Suối Sa ở Nghệ An, bỗng gặp bão, mưa to như trút. Đêm, vua dậy thấy thị thần đều ướt át rét mướt, tự mình rót rượu và lấy thuốc viên đem cho. Lại sai sở tại lấy củi than cấp cho các quân đốt sưởi chống rét. Thưởng bạc tiền cho quan quân trực đêm theo bậc khác nhau.

Các hành cung ở Nghệ An nhà cửa tường dậu xiêu đổ nhiều. Vua dụ trấn thần rằng : “Hành cung là nơi tạm nghỉ, cứ để như cũ, không làm lại. Ngày hồi loan sẽ che lợp sơ sài cho tạm xong việc, không cần tô điểm làm gì”.

Quảng Bình ngày ấy cũng có bão lụt. Tin báo đến, vua dụ cho dinh thần xét dân có ai chết bẹp chết đuối thì cấp cho tiền tuất. Còn nhà cửa nơi hành cung đáng lợp sửa thì lấy của công mà làm, chớ để phiền phí cho dân.

Ngày Giáp tuất, đến hành cung Thạch Khê, triệu kỳ lão sở tại đến hỏi về việc làm ruộng. Đáp rằng : gần đây bị hạn hán, nay lại bị gió bão, sợ dân gian khó tránh khỏi mất mùa đói kém. Vua yên ủi rằng : “Trẫm sắp tha tô thuế để dân được hồi lại. Các kỳ lão nên khuyên răn con em cố sức làm ăn, chăm nghề căn bản, sống yên nơi đồng ruộng, đừng nên vin cớ mất mùa đói kém rủ nhau trộm cướp mà tự hãm mình vào pháp luật”.

Ngày Bính tý, ngự giá đến hành cung Nghệ An. Tha thuế mùa đông năm nay cho dân.

Dụ rằng : “Hạt các ngươi bỗng gặp nạn bão, tuy lúa ruộng nhà cửa không hại lắm, nhưng trẫm nghĩ rằng trời đã vì dân mà đặt ra vua, thì kẻ làm vua phải coi dân như con, để lòng thương nuôi như cha hiền đối với con trẻ, chưa rét đã lo cho mặc, chưa đói đã lo cho ăn, há lại đợi khóc oe oe đòi bú mới cho ăn ư ? Trẫm từ khi lên ngôi, không ngày nào không lo cho dân cư đông đúc được mùa. Hạt ngươi đất xấu dân nghèo, thường bị mất mùa. Nay cảnh ấy đã mục kích, nếu lại theo lệ thường mà chờ đến nơi xem xét thì tình dân mắc nạn đương mong mỏi đấy, gặp phải quan lại tham nhũng tòng trung sinh tệ, thì há lại chẳng thêm nỗi phiền nhiễu cho làng xóm phải cung ứng hay sao ! Vậy tha cho thóc thuế về vụ đông”.

Lại sai Hàn lâm viện Thừa chỉ là Hoàng Quýnh đi xem xét dân tình. Quýnh về nói : trong dân gian, thuế vụ đông đã có nhiều người nộp trước từ vụ hạ rồi. Nay nhất thiết tha thuế thì của ấy trên chẳng vào được kho, dưới chẳng hề đến dân, mà chỉ là một dịp đầy túi cho bọn quan lại tham nhũng thôi.

Vua nói : “Nếu quả như lời ngươi nói thì kẻ chăm lo việc công, cung phụng bề trên, lại không được thấm ơn gì !”. Lập tức truyền dụ : Phàm ai đã nộp thuế rồi thì lưu trừ vào thuế chính cung năm sau.

Vua thấy các hành cung Nghệ An làm to rộng quá, quở rằng : “Trấn thần các ngươi chưa thể tất được lòng trẫm, đến nỗi dân ta lại thêm một phen tổn phí như thế”. Lập tức hạ lệnh thưởng cho nhân dân 6.000 quan tiền. Lại dụ quan lại sở tại rằng : “Hạt các ngươi mấy năm nay nhiều trộm cướp, lại gặp nạn bão, xa giá đi qua đã thấu rõ tình trạng đau khổ của dân. Phàm chính sách yêu nuôi không gì không làm. Các ngươi là quan lại, phải công bằng giữ phép dẹp trộm cướp để yên dân, thì mới không phụ ý trẫm thương yêu nhân dân”.

Dân gian nghe ngự giá đi qua, đón dâng sớ tấu, ngày kể hàng trăm.

Vua dụ bộ Lại rằng : “Trẫm có việc Bắc tuần, nhân xem xét địa phương, hỏi han phong tục, nay dân đem nỗi đau khổ mà kêu, sao nỡ làm lơ. Nhưng trong lúc đi qua dọc đường, có thể làm rõ lẽ ngay sao được ? Vậy nên chấp đơn, đợi sau khi hồi loan sẽ quyết định. Duy những sự tình cấp thiết và việc quan lại tham nhũng thì tâu ngay”.

Cho quân sĩ hỗ giá trâu và gạo.

Vua bảo Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên và Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức rằng : “Các quan theo hầu khi đi đường tiêu pha tốn nhiều, trẫm đã rõ cả. Nếu chẳng đủ tiêu thì nên cho trẫm biết, không nên vay mượn của ai. Các quan địa phương phỏng có biếu xén, chẳng qua cũng là lấy mồ hôi nước mắt của dân để lấy lòng nhau đó thôi, nên từ chối là tốt. Bọn khanh nên bảo khắp cho các quan lớn nhỏ đều thể tất ý ấy”.

Vua dụ Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh rằng : “Trẫm lần này đi Bắc tuần là kính theo lời di huấn, thực là việc khổ tâm không đừng được. Từ ngày tạm xa bàn thờ, trong lòng thương xót. Vậy phải truyền chỉ cho các hoàng tử tước công, các trưởng công chúa, đều thể lòng trẫm, thân đến điện Hoàng Nhân thay trẫm chầu hầu. Các quan ở Kinh cũng thay ban nhau mà chầu hầu. Nguyễn Văn Nhân và Lê Bá Phẩm, xong việc rỗi rãi, cũng phải thường đi tuần xét, truyền chỉ cho bọn nội giám, thị nữ phàm việc thờ cúng cần phải kính cẩn, đồ thờ phải cho thơm tho, nếu hơi lười nhác, ngày trẫm hồi loan, tra xét ra thì sẽ trị tội nặng không tha. Tôn Thất Bính đã kiêm lĩnh thị vệ thì phải ngày thường thân đi sức rõ cho viên biền tuần phòng nghiêm chỉnh. Bọn khanh phải kính lời dạy để xứng đáng sự uỷ thác”.

Cho Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Xuân một thanh kiếm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây chữ vàng và cho 19 người Vệ uý, Phó vệ uý Thần sách ở trấn, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng. Nhân bảo Nguyễn Văn Xuân rằng : “Ngươi nên cấm bọn thuộc hạ, kẻ nào nhũng tệ, phải xử tử ngay để răn kẻ khác. Nếu răn cấm không nghiêm, ngươi không thể chối lỗi được. Ngươi nay đã tuổi già, nếu có lỗi lầm phạm pháp, thì trẫm rất thương. Nên cố gắng làm việc một hai năm nữa, cũng sẽ được triệu về Kinh”.

Lại bảo Vệ uý Lê Mậu Cúc, Nguyễn Cửu Lợi rằng : “Trẫm nghe Nghệ An sai binh đi bắt cướp lại rút lấy ở các đội, mỗi đội hơn chục người. Binh ô hợp, ngày thường không biết có tướng, nhất đán gặp giặc, liệu có giữ cho khỏi lỡ việc được không ? Từ nay điều khiển nên dùng cả vệ cả đội, lâu ngày thì đổi, san sẻ công việc cho đều. Vả lại đạo dùng binh, uy phải hơn yêu mới được việc. Các tỳ tướng trở xuống, ai không theo lệnh phải xử theo quân pháp, thì người ta biết sợ, mà khi lâm trận dễ sai khiến”.

Lại sắc cho văn võ ở trấn mộ thuộc binh để sai khiến không được dùng lính các vệ cơ làm việc riêng. (Trấn thủ được 20 thuộc binh, Hiệp trấn 15, Tham hiệp 10, Quản phủ 10, Vệ uý 4, Phó vệ uý, Chánh, Phó quản cơ đều 3. Các Cai cơ, Cai đội quân Thần sách đều 2. Các Cai cơ, Cai đội, Phó đội, Chánh đội trưởng, Suất đội, đều 1 người).

Đổi sông Tam Chế làm sông Tam Đa (sau đổi là sông Tam Đăng).

Sai thự lý Hiệp trấn Nghệ An là Nguyễn Khoa Hào hỗ giá ; Lưu thủ phó vệ uý Tiền bảo nhất thuộc Tiền quân là Nguyễn Văn Long đem vệ binh đóng giữ ở trấn.

Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, tế đông hưởng, sai Hoàng trưởng tử tế thay.

Ngày Nhâm ngọ, ngự giá đến hành cung Thanh Hoa. Mấy trăm kỳ lão đến chiêm bái. Vua triệu hỏi. Mọi người đều lấy việc tật dịch và mất mùa mà đáp.

Vua nói rằng : “Trẫm vâng nối cơ nghiệp gian lao to lớn của tiên đế, dậy sớm ăn trưa, rất lo nghĩ đến dân nghèo, mỗi lần gặp thiên tai trẫm càng thêm tu tỉnh, nghĩ sao cứu giúp nuôi nấng được dân. Ngày đêm mỏi mệt, chẳng dám nghỉ ngơi, há phải là tự mình hưởng giàu sang mà không thương dân đâu ! Nay thăm địa phương, xem phong tục, mắt thấy dân đau khổ, lòng rất xót thương, sắp bàn việc tha thuế ruộng thuế thân cho dân được ơn trạch. Thuế ruộng thuế thân là phép đã định không đổi của đế vương, nhân dân các ngươi nên chăm việc cày cấy để cung nộp cho nhà vua, đừng thấy nhiều lần xá miễn mà sinh lười biếng. Trong nước nay dẫu chẳng dám vội bảo là thái bình, nhưng cũng gọi là thịnh. Các kỳ lão nên răn dạy con em, học trò thì để tâm vào sách vở, làm nông thì gắng sức cày ruộng trồng dâu. Nếu có con em khó dạy mà sinh ra trộm cướp thì lập tức đưa lên quan xét cho rõ tội. Nếu biết mà dung túng, thì lũ vô lại ấy, tích nhỏ thành lớn, không những chỉ nhọc sức quân ta, mà dân ta đã bị hại trước”.

Các kỳ lão đều lạy tạ và nói : “Bọn thần già yếu sống thừa, nay được thấy thiên nhan và được hỏi đến thì hạnh phước nào bằng”.

Vua khen là thành thực, thưởng cho 300 lạng bạc. Tha nửa thuế ruộng thuế thân vụ đông năm nay cho Thanh Hoa.

Dụ quan lại sở tại rằng : “Thanh Hoa là nơi dấu vết dựng nghiệp vương. Loan giá đến đây, biết rõ nỗi dân vất vả, vì liền mấy năm nay mưa gió tai hoạ, mùa màng mất nhiều, nên xuống lệnh tha thuế để thư nỗi khổ lâu ngày của dân. Đoái nghĩ việc yêu dân căn bản là ở quan lại. Bọn ngươi nên thể tất ý tốt của trẫm mà thương xót dân ta, đừng để việc hình án kiện tụng bê trệ, kẻ gian tung hoành, để cho trong cõi được yên ổn, thế mới là không sơ khoáng chức vụ”.

Lại thấy các hành cung hạt ấy đơn giản mộc mạc, vua rất khen, thưởng cho quân dân 4.200 quan tiền.

Lấy trâu rượu cho các quan hỗ giá ăn uống.

Con cháu nhà Lê là Lê Duy Cáo, con cháu họ Trịnh là Trịnh Trụ vào yết kiến, ban cho mỗi người một bộ y phục. Lại thưởng con cháu nhà Lê 100 lạng bạc, con cháu họ Trịnh 50 lạng bạc.

Quản lĩnh thượng đạo là Hà Công Thái dẫn các thổ tù đến chiêm bái. Vua thấy Thái tuổi già, sai người nâng dìu lên điện. Thái sợ hãi. Vua dụ rằng : “Ngươi hiến thân làm tôi, không phải một ngày, còn hiềm ngờ gì mà có ý sợ”. Sai cùng với con là Quỳnh theo hầu, thưởng cho các thổ tù mà cho về.

Cho Phó vệ uý vệ Thần sách theo trấn Thanh Hoa là bọn Phạm Văn Xuân 8 người, mỗi người một thanh kiếm Tây mạ bạc và một khẩu súng Tây chữ vàng.

Lưu Vệ uý vệ Trung bảo nhị là Nguyễn Văn Ưng lấy vệ binh mà theo trấn đóng giữ.

Dời công thự của Hiệp trấn và Tham hiệp Thanh Hoa đi chỗ khác. Trước một mình Đốc trấn ở trong thành, Hiệp trấn và Tham hiệp ở riêng ngoài thành. Vua hiềm là cách trở, nên sai dời vào cùng ở trong thành.

Ngày Mậu tý, vua thân đến yết Nguyên miếu, đến núi Triệu Tường bái vọng lăng Trường Nguyên. Lễ xong, dụ bầy tôi rằng : “Trẫm trông núi Kiều((1) Một ngọn núi ở Thiểm Tây ( Trung Quốc ) truyền rằng trên có một Hoàng đế. Minh Mệnh ý muốn ví Nguyễn Kim với vua Hoàng đế.1), nhớ đến công đức tổ tiên. Sau khi hồi loan, sẽ soạn văn dựng bia để tỏ rõ từ đâu gây nên nghiệp lớn, truyền lâu dài hàng ức vạn năm”.

Nhân sắc cho trấn thần Thanh Hoa tìm kiếm trong quý hương((2) Làng nguyên quán của nhà vua, tức làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn.2) các bia kệ tàn gãy có liên quan đến sự tích bản triều thì thu cất đi.

Thưởng cho quý huyện, quý hương và công tính bạc lụa, trâu, rượu theo bậc khác nhau (Quý huyện 300 lạng bạc, 100 tấm lụa, 10 con trâu, 10 chum rượu ; quý hương 200 lạng bạc ; công tính 300 lạng bạc). Từ tế sứ Từ tế ty là Nguyễn Hựu Tuyên, Từ tế phó sứ là Nguyễn Hựu Sĩ và bọn bảy người trưởng phái lĩnh bảy chi công tính thì được ban cho y phục.

Thưởng cho xã Bùi Xá 100 quan tiền.

Ngày Canh dần, ngự giá đến hành cung Thanh Bình. Tha cho dân nửa số thuế tô vụ đông năm nay. Thuế trốn thiếu đều được miễn cả. Lúa mùa bị bão, sai đạo thần khám xét để tha thuế.

Thưởng cho Thanh Bình 700 quan tiền về việc xây dựng hành cung.

Cho Quản đạo Nguyễn Văn Tạo một thanh kiếm Tây mạ bạc, một khẩu súng Tây chữ vàng.

Các thổ tù đạo Thanh Bình vào yết kiến, đều thưởng hậu mà cho về. Cho Quách Tất Thúc làm Phòng ngự sứ.

Ngày ất mùi, ngự giá đến hành cung Bắc Thành. Hôm ấy trời tạnh ráo, nhân dân hạt thành dắt già bế trẻ hoan nghênh rợp đường. Họ đều nói : “Nghi vệ đời thái bình xưa nay chưa từng thấy”.

Cho kỳ lão Bắc Thành 3.000 quan tiền. Ai 90 tuổi trở lên, cho thêm 1 tấm lụa.

Tha thuế thân cho các trấn Bắc Thành.

Dụ rằng : “Trẫm nhân có việc đi tuần Bắc Thành, thăm tục dân, xét quan lại. Cờ thuý hoá(() Cờ vua đi tuần hành, trang sức bằng lông xanh.) mới đến hạt, cụ già, con đỏ, đón kiệu vui mừng. Từ khi trẫm lên ngôi đến nay, vẫn nghĩ đến đời sống của dân, đã nhiều lần ra ơn lớn. Huống nay loan giá mới tới, há lại không có gì để thoả lòng mong mỏi của dân ta sao ? Nhưng thuế đinh thuế điền năm nay đã nộp một nửa, lý trưởng hương hào đã thu trước ở dân rồi, nay nếu vội vã tha cho thì kẻ giảo quyệt sẽ dễ quấy rối, quan lại nhân đấy vơ vét, thì ơn huệ ban ra, khó xuống đến dưới. Vậy đặc biệt gia ân dự tha cho 5 phần 10 thuế thân, tiền đầu quan và tiền cước của 11 trấn Bắc Thành và phủ Hoài Đức về năm Nhâm ngọ, Minh Mệnh thứ 3. Duy có Yên Quảng vụ mùa này bị bão lụt thì tha cho cả thuế ruộng vụ đông năm nay nữa”.

Thưởng cho Bắc Thành 9.400 quan tiền về việc xây dựng hành cung và sứ quán.

Lấy sản vật địa phương Bắc Thành sai trung sứ đem dâng cung Từ Thọ. Vua tự viết biểu thỉnh an, đại lược rằng : “Thần từ ra đi đến nay, qua các địa phương đều cho ơn huệ. Từ Quảng Trị, Quảng Bình, đến Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, cho đến 11 trấn Bắc Thành, không chỗ nào không cho tha thuế thân thuế điền. Quan lại, binh đinh ở Kinh ở ngoài thì thường thưởng cho bạc, lụa, lương, tiền, không dưới mấy chục vạn. Muốn góp vui của thiên hạ làm vui, thu phước trong thiên hạ làm phước để dâng cho thánh mẫu được sống lâu vô cùng, gọi là tỏ nguyện vọng lớn trong lòng thần vậy”.

Hoàng thái hậu ban cho đồ ăn quý, vua tự tay viết biểu tạ ơn. Từ đấy, Từ cung có gì cho, vua thường tự mình làm biểu tạ ơn dâng lên.

Vua nghĩ trong Kinh khí trời hơi lạnh, dụ hỏi tình trạng gần đây của Hoàng trưởng tử. Hoàng trưởng tử làm biểu nói : “Thần kính nhờ phước lớn, may được yên lành. Cúi mong mau việc lớn, để sớm hồi loan”.

Vua phê rằng : “Xem biểu xong rất mừng. Trẫm chính muốn sớm trở về chầu hầu cung Từ Thọ để yên lòng mong nhớ lâu ngày”.

Cho các hoàng tử thân công hỗ giá, mỗi người 100 lạng bạc, 100 phương gạo.

Cho Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất một thanh gươm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây dát vàng, cho Phó tổng trấn Lê Văn Phong một thanh gươm Tây chạm mạ vàng, một khẩu súng Tây dát bạc ; các liêu thuộc ở thành tất cả 125 người, từ Tòng nhị phẩm đến Tứ phẩm, mỗi người đều thưởng gươm mạ bạc và súng chữ vàng theo thứ bậc khác nhau.

Các thổ tù dọc biên giới Bắc Thành vào lạy chầu. Cho Tuyên uý đồng tri Tuyên Quang là Nguyễn Thế Nga, Phòng ngự sứ Sơn Tây là Đinh Công Lương, Phòng ngự sứ Hưng Hoá là Điêu Quốc Thuyên và Chiêu thảo sứ Đinh Công Kiêm làm Tuyên uý sứ, cùng với Quản cơ cơ Hùng dũng trấn Cao Bằng là Nguyễn Hựu Bằng, Tuyên uý sứ châu Vạn Ninh trấn Yên Quảng là Phan Phương Khách và Tuyên uý sứ Hưng Hoá là Đinh Công Vượng tất cả 7 người, đều được cấp triều phục. Còn những người khác thì đều cho bạc và y phục theo thứ bậc khác nhau. Nhân đấy, sai họ vẽ đồ bản cương giới và kê rõ thế hệ truyền nối tâu lên. Rồi bổ bọn Thổ ty Tuyên Quang là Nguyễn Quảng Khải, Nông Văn Vân, Thổ ty Hưng Hoá là Điêu Chính Hâm, Cầm Nhân Trân, Thổ ty Thái Nguyên là Hoàng Đình Đạt, Trần Hữu Quyền, Thổ ty Yên Quảng là Phan Đình Sự, Phan Thiên Thạch làm thổ Tri châu và thổ Tri huyện (đều trật Chánh cửu phẩm), thổ Lại mục (trật Tòng cửu phẩm), tất cả 53 người, khiến cai quản để nộp thuế nhà nước.

Sai xây dựng ở phía bắc hậu điện hành cung Bắc Thành một cái lầu cao gọi là lầu Tĩnh Bắc (Đều dùng gạch ngói làm cả. Trên chia ba nóc, giữa đặt cùng mái liền tường, mỗi tầng có thang bậc vòng quanh mà lên. Cửa sổ, bao lơn, long lanh, thông suốt bốn phương tám hướng. Tầng trên thờ tượng Tam tôn((1) Tam tôn : tức là Thích Ca, Văn Thù và Phổ Hiền.1), để cầu phước cho dân. Phía dưới lầu thì trồng vải và các cây có tiếng).

ở Bình Hoà có bão, thuyền của dân bị đắm mất nhiều. Trấn thần tâu lên, sai xuất tiền kho cấp cho.

chính biên

Đệ nhị kỷ - quyển xii

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Tân tỵ, năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], mùa đông, tháng 11, vua ở hành cung Bắc Thành, thấy sứ Thanh chậm đến nên gửi thư hỏi. Lại sai người dò hỏi, cũng chưa về báo. Vua từng cùng bầy tôi bàn về việc ấy, bảo rằng : “Các triều Lý Trần Lê dựng đô ở đây, sứ Bắc có tới chậm hay chóng, không đến nỗi mong mỏi. Nay ra đóng đô ở Phú Xuân, cách xa mấy nghìn dặm, nhờ uy ân của Tiên đế để lại, được các nguyên lão đại thần một lòng giúp đỡ, xa giá có đi xa cũng không lo đến việc trong Kinh. Nếu nghìn trăm năm sau, sự thế có khác đi thì làm thế nào ? Bắc Thành không phải nơi hiểm đủ trông cậy được, quyết không thể dời đô đến được. Trẫm muốn dựng kế lâu dài cho con cháu, đêm ngày nghĩ ngợi, chưa từng chốc lát lãng quên”.

Dụ các quan Bắc Thành rằng : “Trẫm luôn luôn nghĩ đến dân, nhưng không thể đến từng nhà mà bảo từng hộ được. Có các khanh làm tai mắt, các khanh thấy nghe gì tức là trẫm thấy nghe đấy. Những việc lợi đáng chấn hưng, việc hại đáng trừ bỏ thì đừng tiếc lời, cứ nói hết”.

Lại sai vẽ bản đồ thành trì đồn bảo ở các trấn dâng xem để biết rõ địa hình.

Vua thấy Hiệp trấn Sơn Nam thượng là Lê Duy Thanh già yếu, chuẩn cho lấy hàm thự Tham tri Lễ bộ về hưu. Gặp có người tố cáo Thanh trái phép ăn hối lộ, thành thần đem việc tâu lên. Vua sai thự Hữu Tham tri Hình bộ là Nguyễn Hựu Nghi tra xét.

Thanh vào yết kiến nói với vua rằng : “Trước kia thần giữ chức bị vị ở Kinh, được mệnh đi trấn đã cố từ chối không được. Từ đó sớm hôm nơm nớp sợ mắc tội. Nay bị có người vu cáo, xin sai quan Kinh tra xét. Nếu uỷ cho Nguyễn Hựu Nghi thì thà cho thần được chết”.

Vua nói : “Nghi cũng là quan Kinh. Như ngươi nói thì chọn ai được”.

Thanh lại cố xin mãi. Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên to tiếng mắng rằng : “Thế là thế nào ? ! Tội hay không, tự có công nghị, sao lại khinh nhờn như thế thì đối với lễ phép triều đình như thế nào ?”.

Tổng trấn Lê Chất cũng nói Thanh ngạo mạn vô lễ, xin bắt tội.

Vua yên lặng hồi lâu, nói rằng : “Thanh trước kia không công lao gì, trẫm nghĩ là theo làm việc lâu ngày mà dùng. Há hắn chẳng biết pháp luật là của chung thiên hạ sao mà lại ngu xuẩn ngang chướng quá thế ?”

Liền sai trói ở trại quân Tả vệ rồi giải về Kinh.

Lấy Hương cống triều Lê là Hoàng Phạm Lãng làm Đốc học Cao Bằng, Hồ Trọng Điển làm Đốc học Nghệ An.

Hiệp trấn Hà Tiên là Phạm Nhữ Đăng chết ; lấy Thiêm sự Binh bộ là Trịnh Xuân Trạm làm Hiệp trấn Hà Tiên.

Bàn dựng miếu Lịch đại đế vương.

Vua dụ Hộ bộ rằng : “Trẫm tham xét điển lễ, thấy từ xưa các đế vương đều có miếu thờ. Nay nhân có việc đi Bắc tuần, những nơi có thờ đế vương đời trước, không nơi nào không sai quan đến tế. Nhưng từ triều Lê trở về trước thì đều là thờ cúng trong dân gian, miếu vũ do Nhà nước tế thì chưa từng xây dựng. Nghĩ rằng vua các triều trước thay nhau làm việc đều có công đức với dân, lòng trẫm rất kính mộ, việc làm miếu thờ nên theo nghĩa mà làm. Vậy bàn sai chọn đất dựng miếu để làm nơi cúng tế”.

Thị trung Học sĩ Phạm Thích bệnh nặng không đến yết kiến được, quan Bắc Thành tâu lên. Vua sai Hữu tham tri Hộ bộ Nguyễn Công Tiếp đến tận nhà thăm hỏi. Thích dâng biểu tạ ơn.

Thị trung Trực học sĩ thự Binh bộ Tham tri là Trịnh Hiến chết. Tặng Binh bộ Tham tri, cho 200 quan tiền.

Lấy Sinh đồ ở Hải Dương là Phạm Đình Hổ sung chức Hành tẩu ở Hàn lâm viện. Trước Hổ bị bệnh, triệu chưa đến. Bây giờ đến bái yết, xin theo nghiệp học để thi cho đỗ, để trọn chí của cha.

Vua sai sung Hàn lâm viện để phòng cố vấn, Hổ nhân dâng một quyển Tiền Lê hội điển, một quyển Bang giao điển lệ, và một quyển thơ thù phụng. Xong lại từ không đến Kinh.

Giải những tù phạm bị sung quân và bị lưu (trên 130 người) ở Bắc Thành đi Gia Định. Chuẩn cho ngày đến thành thì được bỏ xiềng khoá rồi phát đi bảo Châu Đốc cho theo bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ sai phái tạp dịch, hằng tháng cấp cho tiền gạo để nuôi.

Nước Chân Lạp đói, xin thành Gia Định bán thóc cho. Sai thành thần cho 300 phương gạo. Vua phiên tâu rằng : các sở thuỷ lợi từ trước của nước ấy, mấy năm gần đây cấm người Hán (Việt) không cho trưng nên ngạch thuế bãi bỏ. Nay khẩn xin chiêu mộ dân chài để phát mãi lấy tiền dùng việc nước”. Vua y cho.

Ban quần áo cho thú binh hai vệ ở Thanh Nghệ (vệ Long võ hậu và vệ Hổ oai hậu). Sắc cho quan hai trấn từ nay phàm binh khí thú binh có thiếu hay hỏng, phải lấy tiền công tu bổ, không được thu góp ở lính.

Điều trên 2.600 người Thần sách ở Thanh Nghệ đến Bắc Thành để đổi phiên đóng thú.

Học trò Hải Dương là Mai Bách Tòng, vũ Đức Quang và học trò Sơn Nam hạ là Phạm Xuân Đệ dâng phong thư nói rằng các quan chưa hết (quốc) tang ba năm mà mặc gấm vóc thậm chí tìm con hát, mua nàng hầu, phóng túng không chán để cầu vui, sợ có hại đạo hiếu. Lời nói rất thiết tha. Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức đem tâu lên.

Vua nói : “Việc bang giao là lễ lớn, theo lễ phải vui mừng. Bọn Tòng quê mùa không biết gì, cho nên nói ngu như vậy, nên dụ mà bảo về”.

Vua ngự lầu Ngũ Môn duyệt binh Bắc Thành (số binh trên 14.000 người).

Ban áo rét cho Hoàng trưởng tử và bọn đại thần lưu Kinh Nguyễn Văn Nhân.

Thưởng cho năm dinh quân Thần sách 5.000 quan tiền và các quân ở Bắc Thành 1 vạn quan.

Đắp đê mới ở Phước Lộc, Sơn Tây. Ruộng dân chỗ nào bị đắp mất thì miễn thuế ; chỗ nào lấy đất thành sâu trũng thì sau ba năm mới thu thuế theo ngạch thuế đầm phá. Từ nay có việc đắp đất đai mà lấn vào ruộng đất của dân thì theo đây làm lệ. Chuẩn định Bắc Thành từ nay chở gạo về Kinh thì lấy Sơn Nam hạ và ở kho Xích Đằng mà chở, kho Thăng Long không phải chở nữa.

Vua đến phường Nghi Tàm (thuộc huyện Vĩnh Thuận) xem diễn trận voi.

 Lấy Cai bạ Quảng Đức là Ngô Bá Nhân làm Hiệp trấn Nghệ An.

Trước vua ngự đến Nghệ An, thự lý Hiệp trấn Nguyễn Khoa Hào làm nhiều việc không vừa ý, liền sai đi theo giá. Đến nay cho Nhân thay. Rồi bổ Hào làm Thiêm sự Lại bộ.

Lấy Vệ uý vệ Hữu bảo nhất Hữu quân là Khâm sai chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên làm Trấn thủ Biên Hoà, Quản phủ Bắc Hà là Lê Văn Hợp làm Trấn thủ Cao Bằng, Thiêm sự Hình bộ là Nguyễn Đình Thịnh làm Cai bạ Định Tường, Thiêm sự Hình bộ là Phạm Đình Tích làm Ký lục Phiên An, Ký lục Quảng Trị là Vũ Xuân Cẩn làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng.

Cai bạ Phiên An là Trần Đình Trưng có bệnh phải miễn chức ; lấy Thiêm sự Lại bộ là Lê Đăng Doanh thay.

Hữu tham tri Binh bộ lĩnh Binh tào Bắc Thành là Trần Quang Vĩnh dâng sớ điều trần mười việc :

1.Việc Nam tuần (Gia Định là nền móng dấy nghiệp phục quốc, là đất căn bản, cũng như Quan Trung, Hà Nội của nhà Hán. Huống chi phía nam giữ yên Chân Lạp , phía tây khống chế Tiêm La, là phên che lớn của nước nhà. Nay ngự giá Bắc tuần, dân địa phương đã được nhờ ơn, xin lại cử hành việc Nam tuần để hỏi thăm kỳ lão, yên ủi nhân dân, cho Bắc Nam đều được nhờ ơn mưa móc).

2. Hoà hiếu với láng giềng (Xưa Tiên đế ngự sang Xiêm trong ba bốn năm, tuy nước ấy không giúp được binh lương, nhưng là nơi rồng hổ ẩn náu, gió mây do đấy nổi lại. Tiên đế lượng to như trời đất, kết thân láng giềng, trên 20 năm biên giới không lo gì. Nay xin xem mọi người cùng một lòng nhân, không lấy lễ văn nước ta mà trách thói man di hung hãn, đấy cũng như sách Trung dung nói “khéo noi theo người trước, yên vỗ người xa”).

3. Định lại binh chính (Khoảng năm Gia Long, ở Bắc Thành năm nội trấn thì kén tinh binh, sáu ngoại trấn thì kén thổ binh, dùng binh đất ấy để giữ dân đất ấy, đó cũng là phép phủ binh đời Đường. Nhưng dân gian cứ quen thói cũ là định khoá thay nhau, lấy tiền phụ dưỡng, dân thì có cái phiền phải mang đưa, binh thì sinh tính lười nhác, đến khi có việc sai khiến thì co rút không đi, muốn cho đắc lực khó lắm. Vậy xin tăng cấp lương binh mà phí nuôi quân không để phiền dân, 50 tuổi thải về, niên hạn phải cho nhất định, cấm sự giao ước hẹn riêng. Lại đặt phép đổi thú, hoặc đi thú ở Kinh, hoặc đi thú ở Gia Định, chỉ để lại Bắc Thành không quá 3, 4 phần 10, vào ra nên lần lượt để san sẻ sự khó nhọc và nhàn rỗi cho đều. Như thế thì dân yên nghiệp làm ruộng chăn tằm, không khổ về đóng góp ; binh đóng ở đất khách cũng khó trốn được. Duy thổ binh thì vẫn để đóng giữ như cũ, khỏi thay đổi).

4. Nghiêm quân luật (Binh pháp nói rằng : “Quân lữ cốt ở uy”, cho nên tiên vương xưa đặt ra pháp độ trước, trọng uy hình sau. Hình trọng thì bề trong sợ, bề trong sợ thì bề ngoài bền vững. Nay theo binh luật, trốn lần đầu thì xử 80 trượng, bắt về ngũ ; trốn lần thứ hai, thì xử 100 trượng, phát đi sung quân ở biên giới xa ; trốn lần thứ ba thì xử giảo giam hậu. Gần đây, người ta coi thường, khi ở ngũ khi trốn đi, hình phạt ấy không công hiệu gì. Xin từ nay, trốn lần đầu xử 100 trượng bắt về ngũ, trốn lần thứ hai xử tột bậc tội lưu cho đồ 6 năm rưỡi, trốn lần thứ ba xử chém ngay, để cho quân biết sợ mà tránh tội, như thế thì số quân thường đủ mà không lọt ngoài hiệu lệnh.

5. Đặt kho thường bình (Phép kho thường bình. Thóc rẻ thì tăng giá mà mua vào, thóc đắt thì giảm giá mà bán ra, các đời đã làm, ai cũng lấy làm tiện lợi. Xin từ Thanh Bình trở vào thì đặt kho ở các dinh trấn đạo, ở Bắc Thành thì năm trấn trong đều đặt kho ở phủ, sáu trấn ngoài thì đặt ở trấn, do quan sở tại giữ, lượng xuất tiền kho tuỳ tiện mà mua vào bán ra, như thế thì được mùa hay mất mùa không hại, mà dân thường như được mùa).

6. Thêm lương lính thú (Đời xưa sai đi thú, có xét đến tình cảnh mà thương người khó nhọc. Nay cho người đi đóng đồn ở biên giới xa xôi, bắt cướp yên dân, mà lương lộc so với người an nhàn không có khác gì thì sao sai họ vào nơi nguy hiểm được. Vậy xin tuỳ chỗ nguy hiểm chỗ bình thường mà bàn thêm lương bổng, thì mọi người lo cố gắng hết sức làm việc.

7. Rộng với thuyền hộ (Buổi mới dựng nước thuyền chở chưa đủ, phàm thuyền riêng mà đủ thước tấc thì cấp cho bài chỉ, một năm chở việc công thì một năm đi buôn bán, đấy cũng là chế độ tạm thời. Nay thuyền công không phải không đủ, vả lại việc chuyển vận đã có Trường đà. Vậy xin rộng lệnh dùng thuyền tư chở việc công).

8. Bớt số nha lại (Lại viên liêm hay tham có quan hệ đến nỗi vui lo của dân. Nay lại điển phức tạp, xin cho trưởng quan sở tại xét hạch, nêu rõ người tốt, người xấu, bớt số người mà cấp thêm lương, cất dùng người liêm người tài, trừng trị kẻ bóc lột dân, thì lại viên biết khuyên răn, mà dân được yên nghiệp khiến hình luật công bằng).

9. Công bằng hình luật (Từ xưa đế vương không những chỉ lấy hình buộc dân, mà tất lấy đức làm gốc. Từ năm Gia Long thứ 14 [1815] về trước, án trộm cướp chỉ giết kẻ đầu sỏ, còn kẻ khác đều bắt tội đồ, vì thế được toàn tính mệnh rất nhiều. Đến khi chế điều luật, kẻ cướp lấy được của thì không phân thủ phạm hay tòng phạm, đều xử chém cả. Xin từ nay kẻ cướp thì nên xét xem lấy của nhiều hay ít, hại người hay không hại người, kẻ đầu sỏ cứ luật mà xử, còn kẻ đi theo nên khoan giảm, như thế thì đức hiếu sinh thấm thía lòng dân, mà không có kẻ phạm pháp nữa).

10. Miễn thu đền (Theo sổ ngày nay, trong năm dân chết vào khoảng từ tháng giêng đến tháng sáu mà có báo quan thì miễn thuế thân năm ấy, từ tháng bảy đến tháng chạp mà báo thì phải thu đền. Vả lại cái tiếng “thu đền” đã không nhã, mà việc thu đền lại bắt ở thân thuộc người chết, nếu không có thân thuộc thì hương lý không tránh khỏi sự đền thay. Xin từ nay miễn cả).

Vua xem sớ nói : “Đặt kho thường bình là phép hay đời xưa, nhưng thực hành rất khó. Không được người tốt thì dân không được nhờ ơn. Còn trong luật nói “kẻ cướp thủ phạm tòng phạm đều chém”, như thế để dân đỡ phạm tội, là ý đặt hình luật để mong không phải dùng hình. Nay muốn xử nhẹ thì phải nên lúc xét hỏi tuỳ tình hình định tội để tỏ lòng thương dân. Còn như pháp luật đã định rồi, có thể lại sửa đổi ư ? Đại khái lời tâu nửa được nửa hỏng, nhưng nay mở rộng đường cho nói mà biết vâng chiếu dâng thư thì cũng đáng khen ngợi. Trẫm cũng chọn điều hay cho thi hành”.

Cho tế núi sông toàn hạt Quảng Đức, thần núi Triệu Tường ở Thanh Hoa, Văn Miếu, đền Chân Võ, thần núi Tản Viên và Xung thiên Đổng thần vương ở Bắc Thành, mỗi sở một đàn.

Đổi phủ Thanh Đô trấn Thanh Hoa làm phủ Thọ Xuân, phủ Trà Lân trấn Nghệ An làm phủ Tương Dương, phủ Trường Yên đạo Thanh Bình làm phủ Yên Khánh, phủ Bắc Hà trấn Kinh Bắc làm phủ Thiên Phước, phủ Tam Đới trấn Sơn Tây làm phủ Tam Đa, huyện Phong Lộc trấn Thanh Hoa làm huyện Hậu Lộc, huyện Quảng Bình làm huyện Quảng Địa, huyện Đông Quan trấn Sơn Tây làm huyện Hùng Quan.

Cấp lương bổng cho biền binh ba tượng cơ Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng ở Bắc Thành (Một cai đội mỗi tháng 2 quan tiền 2 phương gạo, 2 đội trưởng thì theo phẩm mà chi lương, 138 kỵ binh phụ thì mỗi người mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo, 2 lính tiểu mục, mỗi người 1 phương gạo). Vua nghĩ lâu ngày đóng thú xa xôi nên đặc cách cho.

Triệu Chưởng cơ thự Phó đô thống chế Hậu dinh quân Thần sách hành Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thuý đến hành tại, ban cho áo triều.

Lại cho tìm sách xưa còn lại.

Dụ rằng : “Khi trẫm được rảnh việc một chút, lại tìm tòi sách vở. Phàm từ xưa đến nay, những dấu vết phế hưng của các đời, những việc đổi thay của chế độ, cả đến nhân vật tốt xấu, phong thổ khác nhau giống nhau, vẫn muốn góp nhặt chuyện cũ để tham khảo. Trước kia có hỏi tìm sách cũ, cũng đã có người dâng lên, nhưng còn thiếu sót nhiều. Nay nhân có việc Bắc tuần, xem rộng địa dư, nghĩ rằng Bắc Thành là đất văn hiến, tất có thể tìm tòi được. Vậy tất cả những văn tự còn sót lại của đời trước hoặc những sách vặt của các tư gia, cho cả đến những sách kín của nước ngoài, phàm là ghi chép sự thực, có thể giúp ích cho đời, thì không câu nệ văn chương quê mùa, lời lẽ kiêng dấu, đều do sở tại chuyển dâng, trẫm sẽ thu xem và hậu thưởng”.

Tìm những người hiền tài còn sót ở Bắc Thành và Thanh Nghệ.

Dụ rằng : “Trẫm nghe nói trong một ấp mười nhà tất có người trung tín. Huống chi bấy nhiêu địa hạt, đất rộng người đông, vốn có tiếng văn học. Năm trước từng đã từng xuống chiếu tìm người tài giỏi giúp việc, đến nay chưa thấy ai hưởng ứng. Hoặc giả người có thực tài thực học không cần người biết, cho nên các quan lại không được biết tên mà tiến chăng ? Hoặc giả là kẻ sĩ tài giỏi cho rằng lòng cầu hiền của trẫm chưa được thiết tha chăng ? Hoặc giả vì ở nơi cỏ hoang rừng rậm, muốn được đề đạt mà không ai tiến cử chăng ? Nay trẫm dừng chân ở Bắc Thành đã gần hàng tháng mà vẫn yên lặng không nghe gì. Hay là vì các nha môn trong ngoài, nhân trước thấy chiếu nói cử người hiền lương phương chính mà không dám đương danh hiệu ấy chăng ? Phàm dùng người cũng như dùng vật, nên thu lượm rộng rãi, sao lại cứ đòi cho trọn vẹn đầy đủ ? Vậy đặc chuẩn cho cả 11 hạt Bắc Thành và 2 hạt Thanh Nghệ, có người nào học rộng văn hay, am thuộc điển tích, cho chí kẻ có một tài một nghệ khả dĩ giúp ích cho thực dụng, thì cho được đến hành tại hoặc các nha môn, hoặc nhân tiện đến các thành trấn thì cho lấy tên tâu ngay. Trẫm sẽ sai người xét thực, tuỳ tài chọn dùng, không để phụ cái lòng mong cha mẹ vẻ vang tiếng tăm lừng lẫy và để xứng với cái ý kén tìm nhân tài của trẫm”.

Lại cấm việc đánh bừa thuế cửa quan và bến đò ở Bắc Thành. Dụ rằng : “Đặt cửa quan bến đò vốn để ngăn phòng kẻ cường bạo, và nhân đó vận chuyển hàng hoá từ chỗ có đến chỗ không làm lợi cho dân. Năm trước, giá hàng đã thành lệ. Gần đây nghe tuần ty làm phiền luỵ nhiều cho người buôn bán, khi thuyền bè đến thì nâng giá hàng lên, mặc ý đánh thuế. Người buôn muốn kêu lại sợ phải đi lại nơi quan nha, chậm trễ hàng tuần, lẽ phải chưa chắc tỏ bày được mà đã thiệt hại trước, cho nên chịu ẩn nhẫn chẳng biện bạch nữa. Tuần ty càng lấy thế làm đắc sách, nhũng loạn kiếm lời, ngày càng sinh quá. Trẫm muốn sửa đổi mối tệ ấy, đặc biệt huấn thị trước cho các ngươi đều phải răn bảo lẫn nhau, nghiêm tuân lệnh cấm, đừng cậy thuế công mà bóc lột ngoại lệ. Kẻ buôn bán được yên nghiệp làm ăn thì bọn ngươi cũng đều được hưởng phước thanh bình. Nếu dám vẫn cứ khinh nhờn pháp luật như trước thì trị tội nặng không tha”.

Vua thấy gần đến lễ Đại tường trừ phục mà sứ Thanh chưa tới, ra triều thường đăm đăm không vui, bảo bầy tôi rằng : “Lễ Đại tường là việc cuối cùng của người con hiếu. Nếu trẫm không tự mình làm lễ được, thì là một điều ân hận trọn đời”. Lại nói : “Sứ Thanh đến chậm trễ như vậy, trẫm muốn trở về để kịp lễ Đại tường, bọn khanh thấy thế nào ?”.

Thự Tham tri Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi đáp rằng : “Thần trộm đoán sứ Thanh sắp đến, không xa. Xin Hoàng thượng tạm ở lại đợi cho xong lễ bang giao, còn lễ Đại tường trừ phục xin sai Hoàng trưởng tử lưu Kinh kính thay”.

Hữu Tham tri Hộ bộ Đoàn Viết Nguyên nói rằng : “Lời Nghi tâu là phải. Nếu nay Hoàng thượng hồi loan, không khỏi lại phải đi lần nữa, há chỉ quân sĩ mệt mỏi, mà thánh thượng cũng lại vất vả nữa”.

Vua nói : “Chỉ cần cho phải lẽ, sao lại bàn đến chuyện mệt hay không. Trước Tiên đế lặn lội vất vả bao nhiêu, nay trẫm mỗi khi bước ra đã có xe ngựa, người theo hầu, còn khó nhọc gì”.

Hàn lâm chưởng viện học sĩ Hoàng Kim Hoán nói : “Đại tường trừ phục thực là lễ lớn, nhưng việc bang giao là theo di huấn của Tiên đế. Nối chí theo việc còn hiếu nào hơn”.

Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận, thự Tiền quân Trần Văn Năng, Đô thống chế Nguyễn Văn Vân, Phó tổng trấn Bắc Thành Lê Văn Phong, Hữu Tham tri Binh bộ Trần Quang Tĩnh, cả bọn đều nói vua ở lại là phải.

Tổng trấn Lê Chất nói : “Xưa Tiên đế đi Bắc tuần, đến ngày kỵ Hiếu Khang hoàng đế không thể tự mình làm lễ được, là Ngài cho rằng lễ bang giao là phép lớn và muốn vì Xã Tắc mưu kế lâu dài. Tiên đế có di huấn rằng : “Xã Tắc là trọng, thân trẫm là khinh”, lời nói còn ở bên tai. Nay Hoàng thượng nối chí theo việc, nếu không thể tự mình làm lễ Đại tường trừ phục cũng không thất hiếu”.

Kiến An công Đài nói : “Ngày kỵ hằng năm thường có, còn lễ Đại tường trừ phục chỉ có một lần mà thôi. Lời di huấn nói : “Xã Tắc là trọng, thân trẫm là khinh” chỉ là nói việc lên ngôi ở trước linh cữu, sao lại viện dẫn lời ấy. Nếu Hoàng thượng ở lại để đợi sứ Thanh mà không thể tự mình làm lễ Đại tường trừ phục, thì lòng yên sao được ? Trộm nghĩ nay Hoàng thượng cứ về rồi đem cái nghĩa hiếu cảm mà gửi thư cho nhà Thanh, họ cũng không có lời trách được”.

Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên nói : “Bọn thần muốn lưu giá lại để xong lễ lớn, mà làm đau lòng thánh thượng không phải là không có điều sợ, chỉ vì sự thế không vậy không được thôi”.

Vua khóc nói : “Bọn khanh nói như thế, trẫm cũng không biết làm sao được”. Rồi khóc to mãi. Các quan cũng đều nức nở.

Đức Xuyên nói : “Tội bất hiếu là tội ở bọn thần”, bèn cùng mọi người xuống thềm lạy tạ. Rồi cùng nhau dâng biểu xin ở lại.

Vua xem hồi lâu, phê : “Bọn khanh đã chẳng muốn rõ lòng thương nhớ đau đớn của trẫm, trẫm chỉ còn vỗ ngực thương xót, nuốt lệ trọn ngày. Kính xin Hoàng khảo ta ở trên trời soi xét cho việc ngày hôm nay thôi”.

Tiết Thánh thọ((1) Sinh nhật của Hoàng thái hậu.1). Vua tự tay viết biểu sai Hoàng trưởng tử dâng thay. Biểu văn rằng : “Thần từ lâu xa cách, không được thăm nom sớm hôm, hầu hạ bên cạnh. Nhìn đám mây lành, dạ càng quyến luyến, trông mặt trời sáng, lòng càng thiết tha. Nay gặp tiết thọ, lệnh ra từ tiết tiểu xuân, đến tiết hạ chí thì làm lễ cầu phước. Ngày nọ thần được lời từ dụ trước mặt rằng việc mừng thọ năm nay đình lại. Nay thần lại vì việc bang giao ở bên ngoài chưa được bưng chén ngọc vui mừng chúc thọ, trong lòng ngậm ngùi, thức ngủ chẳng yên. Vậy kính sai Hoàng tử lưu Kinh là Dung kính mang hòm biểu cùng 3 dật ((2) Dật : tức là nén, 10 lạng

(1) Bảo lục : sách truyền đạo của đạo tiên2) vàng tốt và 10 dật bạc, đến cung tiến lên để chút lòng thành được thấu đến cửa phượng nỗi mong nhớ được thoả ở đất Long Biên. Cúi mong tuổi thọ như mặt trời mặt trăng mới mọc, hưởng phước lớn không cùng, như sông núi lâu dài, khắp thần dân vui vẻ. Phước lành càng hậu, phước tốt càng tăng. Bảo lục ((2) Chín trù của Cơ tử : trù thứ chín nói về năm điều phước là : Phú, khang, ninh, du hiếu đức (có đức tốt), khảo chung mệnh (sống lâu mà lúc chết được toàn mệnh). (Thiên “Hồng phạm” trong Kinh Thư) .1) ghi tên ức muôn năm rực rỡ, cơ trù chồng chất (2) tám nghìn xuân lâu dài.

Tù trưởng châu Sầm Tớ trấn Thanh Hoa là Xỉ Vu Hâm sai thổ mục là bọn Xỉ úc Hạt mang sản vật địa phương đến trấn, xin đến hành tại lạy dâng và nói : Mười động thuộc châu ấy từ trước lễ cống nước Vạn Tượng, năm Gia Long thứ 18 [1819] nhờ Hà Công Thái xin nội thuộc, được Kinh lược đại thần Lê Văn Duyệt nhận cho. Nay nghe ngự giá Bắc tuần, xin được chiêm bái và xin chức cống, hằng năm cứ đến tháng ba thì mang đến trấn nộp. Trấn thần tâu lên.

Vua sai Thiêm sự Hình bộ là Phan Văn Nguyên mang cho áo quần, bạc, lụa, mà trả lại đồ dâng, truyền dụ rằng : “Bọn ngươi dâng lễ, Hoàng đế đã xét lòng thành, nhưng từ đây đến nơi hành tại còn xa, nghĩ thương tình mới theo, miễn cho lặn lội. Nếu quả có lòng thực hướng theo đức hoá, thì chờ khi có việc sẽ ra sức giúp triều đình. Còn như lễ cống hiến cho tuỳ phong tục, không buộc phải theo thường lệ và kỳ cống lâu hay chóng cũng không cần có hạn”. Bọn úc Hạt vui mừng tạ ơn, xin một năm một lần cống.

Dân Man ba động Thâm Nguyên, Yên Sơn, Mộng Sơn thuộc trấn Nghệ An đến trấn dâng voi đực, xin đến lạy mừng. Miễn cho. Man Mộng Sơn lại nói rằng tù trưởng là Tạo Nam chết, con không thể nối được, xin trấn cấp bằng cho người cháu là Nam Lục Tạo làm trưởng. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua nói : “Bọn Man nhỏ mọn nơi biên giới, ta không cần phải chiều theo ý họ xin. Con hay là cháu, cứ mặc họ tôn lập lấy nhau là được”.

Ban triều phục cho các quan văn võ nhị tam phẩm và các quan trấn ở Bắc Thành. Ai đã sắm riêng thì cấp cho tiền. Lại cho các quan, văn thì Thiêm sự, võ thì Quản cơ áo rét và tiền thay áo, theo thứ bậc khác nhau.

Cho Cai cơ, Cai đội, Suất đội năm dinh quân Thần sách ở Thanh Nghệ mỗi người một chiếc áo mổ giữa bằng hàng bát ty bóng, ba tượng cơ Tiền hùng, Tả hùng, Hữu hùng ở Bắc Thành, mỗi cơ 30 chiếc áo mổ giữa bằng đoạn lông chim.

Cấp cho phu trạm hai trấn Kinh Bắc và Lạng Sơn 1 tháng lương.

Hành cung Độ Liêu ở Nghệ An phát hoả, trấn thần dâng biểu xin nhận tội. Vua tha cho, sai lấy tiền kho sửa chữa lại, cốt sơ sài mộc mạc.

Tháng 12, ngày mồng 1, vua mặc thường phục ngự ở điện trước của hành tại. Khâm thiên giám đem lịch năm nhâm Ngọ dâng lên. Trước là quan Lễ bộ xin thiết triều ở hành tại để làm lễ ban sóc [ban lịch], vua không nghe, chỉ sai quan Khâm thiên giám đội mũ mặc áo dâng lịch thôi. Lại truyền dụ cho ở Kinh hôm ấy phải thiết triều ở điện Thái Hoà, Hoàng trưởng tử và các quan lưu Kinh làm lễ bái vọng, rồi lấy sách lịch chia cấp cho trong ngoài.

Nghệ An sửa thuyền ghe, xin thu trước thuế gỗ lim năm sau để dùng. Vua nghĩ sức dân chưa thư, sai lấy tiền công mua mà làm.

Bình Thuận bão lụt, dân nhiều người chết đuối. Sai trấn thần lấy tiền kho cấp tuất.

Sai Gia Định đóng 50 chiếc thuyền.

Trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Hiếu làm quan có thành tích. Vua xuống dụ khen ngợi, thưởng cho một cấp trác dị((1) Trác dị : lỗi lạc đặc biệt.1) và cho một ống kính thiên lý Tây mạ bạc, một thanh gươm chạm mạ vàng và một khẩu súng chữ vàng ở nội thảng.

 

Sứ thần Trần Bá Kiên và Hoàng Văn Thịnh từ nước Thanh về. Vua triệu vào hỏi việc nước Thanh, Kiên và Thịnh đều không trả lời được. Vua bảo bộ Lễ : “Uy võ của Tiên đế để lại, người Thanh vốn vẫn kính sợ. Trẫm là thái tử nối ngôi, danh chính ngôn thuận cho nên sứ thần đối đáp không có gì khó. Dẫu bọn Kiên chất phác thực thà, cũng không đến nỗi nhục mệnh. Nếu là từ Trần Lê về trước thì không phải người tài rộng khắp không cho đi sứ được”. Nhân sắc rằng từ nay đi sứ phải chọn người tài thức.

Thự Hữu tham tri Hình bộ Nguyễn Hựu Nghi xin cho Hiệp và Trạch (hai người đều là con Thái tổ) được tòng tự ở Nguyên miếu.

Vua nói : “Triều Hy tông Hiếu văn hoàng đế, Hiệp và Trạch mưu làm phản, Tôn Thất Nguyên đánh giết đi, đấy là việc cũ lúc quốc sơ, trẫm lại không nhớ sao ? Lẽ nào bầy tôi làm phản lại được tòng tự, sao lại xin càn như vậy ?” Liền ném sớ trả lại.

Phó tướng Tiền quân lĩnh Đê chính là Hoàng Văn Điểm bị bệnh, lấy Thống quản thập cơ Trung quân là Nguyễn Khắc Tuân kiêm coi Đê chính.

Phó tổng trấn Bắc Thành Lê Văn Phong dâng biểu nói tài không xứng chức, xin nghỉ việc thành.

Vua bảo Tổng trấn Lê Chất rằng : “Xem lời lẽ Phong khiêm tốn, đạo làm tôi thế là phải. Nhưng chức phó ở nơi trọng khổn cho ai thay được ! Hãy tạm cho theo giá về Kinh mấy tháng rồi lại sai đi cũng được”.

Chánh thống Trung đồn Hậu quân là Khâm sai chưởng cơ Ngô Văn Ngữ vì già yếu xin về hưu. Vua nói : “Người khá gọi là biết lúc nên thôi”. Sai về Kinh chầu hầu. Hiệp trấn Sơn Nam hạ Bùi Đức Mân cũng xin nghỉ việc, vua cho là tuổi chưa già yếu, không cho.

Lấy Cai cơ Hậu kính Tiền quân là Bùi Văn Nguyện làm Phó thống thập cơ Kính tiệp (trật Tòng tam phẩm).

Đổi các đội Uy chấn, Thanh bính, An bính, Uy trấn, Đông trấn, Thiên hùng làm các đội Uy chấn dinh Thần cơ quân Thị nội. Từ năm Nhâm tuất lại đây, các đội lưu thú ở Bắc Thành chưa được dự phẩm trật quan chế. Thống chế Vũ Viết Bảo xin cho. Vua liền sai đổi, và Suất đội đều cho thực thụ.

Vệ uý vệ Thành võ quân Thị nội là Văn Nguyên đem vệ binh về Kinh, đi đến Nghệ An ốm chết. Cho 200 quan tiền.

Lấy Tri phủ Thiên Trường là Văn Viết Hậu làm Thiêm sự Binh bộ, Tri phủ Hạ Hồng là Lê Đình Dư làm Thiêm sự Hình bộ, sung biện hai tào Binh và Hình ở Bắc Thành.

Cho những người hỗ giá, các hoàng tử thì áo bào gấm, các quan văn võ cùng binh và thợ thì bạc tiền lương gạo (Võ từ Chánh nhất phẩm đến Cửu phẩm 927 người, 1.084 lạng bạc, 3.986 quan tiền, 1.446 phương gạo, văn từ Tòng nhất phẩm đến Cửu phẩm 198 người, 283 lạng bạc, 538 quan tiền, 493 phương gạo ; viên tử các quan văn võ 60 người, 173 quan tiền, 10 phương gạo ; biền binh và thợ các cục 21.789 người, 21.973 quan tiền).

Trấn thần Hưng Hoá tâu nói đất trong trấn nhiều ruộng mùa, một năm hai lần thu thuế, chuyên chở vất vả phí tổn, xin thu cả vào vụ đông để tiện cho dân. Vua y theo.

Triệu Hiệp trấn Thái Nguyên là Lê Đình Khuê hỏi về việc trấn. Đáp : “Có giặc núi tên là Túc thường thường ẩn hiện chưa bắt được”. Vua nói : “Lũ vô lại tụ nhau ở rừng núi, hẳn không trông lương vào đâu, có thể bắt được cũng không khó. Dẹp trộm cướp để yên dân là trách nhiệm của trấn thần các ngươi. Nên vì dân trừ hại, đừng để lan tràn ra. Phải truyền dụ các thổ hào mục trong trấn hạt rằng ai bắt được giặc thì hậu thưởng”.

 Vua thấy dân phủ Hoài Đức ở Bắc Thành nhiều tay du thủ, hay sinh trộm cướp, sai thành thần theo phía trong La thành chia đặt ra từng giáp từng bảo để họ tố giác lẫn nhau, lại chia phái biền binh ngày đêm tuần phòng.

Lấy Phó vệ uý vệ Tiền nhị quân Thị trung là Trần Văn Lộc quản vệ Trung nhất, Vệ uý vệ Ban trực hữu quân Thần sách là Nguyễn Văn Ngoạn làm Vệ uý vệ Dương võ, Vệ uý vệ Tráng võ là Trương Văn Tuân làm Vệ uý vệ Ban trực hậu, Phó vệ uý vệ Quảng võ là Hoàng Văn Tâm làm Phó vệ uý vệ Ban trực hữu.

Bàn về việc duyệt tuyển ở Bắc Thành và Thanh Nghệ. Vua bảo thị thần rằng : “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, đại xá thi ân chưa từng tiếc phí. Số dân nhiều hay ít, vốn cũng chẳng có tính toán so đo. Nhưng duyệt tuyển là phép hay của bản triều còn chưa thi hành ở Bắc Hà, cho nên muốn mở đầu một phen để bảo đời sau. Bọn khanh nên bàn bạc thoả đáng để tâu”.

Thế rồi bầy tôi nói : “Thân thì phải có dung, hộ thì phải có sổ, là để biết rõ nhiều ít, phân biệt già trẻ mà thi hành chính sách phú dịch, khiến cho không có cái tệ quá nặng quá nhẹ. Nhà nước ta duyệt tuyển đã có phép sẵn. Thế tổ mới khai sáng, từ sông Gianh về Nam việc dân chính đều theo phép cũ, từ sông Gianh về Bắc thì đã sai bỏ sổ thường hành đổi sửa sổ đinh để làm phép duyệt tuyển, nhưng chưa kịp làm. Nay bốn phương yên ổn thì nối chí, noi việc là điều nên làm trước. Vậy xin 5 trấn nội ở Bắc Thành cho thi hành phép 5 năm một lần tuyển, bắt đầu từ năm Nhâm ngọ Minh Mệnh thứ 3, mà 2 trấn Thanh Nghệ, cũng lần lượt cho thi hành để cho Nam Bắc cùng phong tục, xa gần một thể thức, quốc kế dân sinh đều được tiện lợi”. Vua cho là phải. Sai Hữu ty đúc ấn duyệt tuyển cho 5 trấn nội ở Bắc Thành.

Thành thần Gia Định tâu nói : “Lính mới điền và lính mới mộ của các trấn thuộc thành chưa quen hàng ngũ, xin đến tháng giêng sang năm họp tất cả lại ở thành, cấp cho hai tháng gạo lương để thao diễn”. Vua y theo.

Ngày Tân mão tế Chạp, sai Hoàng trưởng tử tế thay.

Sứ nhà Thanh là án sát Quảng Tây Phan Cung Thìn đến Nam Quan.

Trước vua được tin Cung Thìn sắp đến, sai Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thuý, Hữu tham tri Lại bộ là Nguyễn Văn Hưng, Tham bồi Lễ bộ là Đinh Phiên sung chức hậu mệnh sứ ở cửa quan, Phó đô thống chế quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí, Hữu tham tri Hình bộ là Vũ Đức Thông, thự Tham tri là Nguyễn Hựu Nghi sung chức hậu tiếp sứ ở địa đầu Kinh Bắc, Thống chế Thị nội là Vũ Viết Bảo, Hữu tham tri Hộ bộ là Nguyễn Công Tiếp sung chức hậu tiếp sứ ở công quán Gia Quất. Đều cấp cho ấn quan phòng bằng ngà “Hậu mệnh”, “Hậu tiếp” và sai đi trước.

Cung Thìn đã đến cửa quan, hẹn lấy ngày 20 tuyên phong, ngày 21 dụ tế. Hậu mệnh sứ là bọn Phan Văn Thuý xin đổi lấy ngày 18 tuyên phong, ngày 19 dụ tế. Cung Thìn đòi có quốc thư. Vua liền sai viết thư kíp đệ. Cung Thìn thuận theo, gấp đường mà đến.

Vua cả mừng, bảo thị thần rằng : “Sứ nhà Thanh lấy ngày 19 để tế vừa vặn gặp lễ Đại tường. Từ Đinh Lý Trần Lê trước kia, người Bắc sang tế chưa có như thế bao giờ há chẳng phải Hoàng khảo ta ở trên trời thiêng liêng phù hộ mà được thế hay sao”. Lại bảo Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức rằng : “Lễ Đại tường trừ phục trẫm không được ở trước bàn thờ làm lễ, lấy làm đau lòng trọn đời. Hôm ấy trẫm muốn dâng trước một tuần rượu ở trước thần ngự, rồi sau mới ra tiếp sứ nhà Thanh, theo lễ thế có được không” ? Đáp rằng : “Được”.

Vua khóc to hồi lâu. Các quan đều ứa nước mắt .

Ngày Giáp ngọ, lễ sách phong xong. Sáng sớm hôm ấy đặt lỗ bộ đại giá ở sân điện Kính Thiên suốt đến cửa Chu Tước. Từ phía ngoài cửa Chu Tước đến bến đò sông Nhĩ Hà thì xếp bày binh voi, nghi vệ rất thịnh. Sai Tả thống chế Thị trung

Tôn Thất Dịch làm thân thần mang mũ áo bào tía sang công quán Gia Quất, trấn thủ Sơn Nam hạ là Nguyễn Văn Hiếu, Tả tham tri Binh bộ là Trần Minh Nghĩa, Tả tham tri Hộ bộ là Đoàn Viết Nguyên đến nhà tiếp sứ ở bến sông để nghênh tiếp.

Vua đội mũ cửu long, mặc hồng bào, đeo đai ngọc đứng chờ ở cửa Chu Tước, hoàng thân và các quan mặc phẩm phục theo hầu. Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất và Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức đều sung chức thị vệ đại thần.

Giờ ngọ, sứ Thanh Phan Cung Thìn theo long đình đến điện Kính Thiên làm lễ tuyên phong. Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên sung chức thụ sắc sứ. Lễ xong vua mời Cung Thìn đến Tiền điện, ung dung mời trà rồi lui. Cho đặt yến ở công quán Gia Quất và tặng biếu phẩm vật. Cung Thìn nhận lụa vải, còn đều trả lại và tạ ơn.

Ngày ất mùi, lễ dụ tế. Hai ngày trước Phan Cung Thìn đến công quán Gia Quất dâng lụa tế 50 tấm và đồ tế phẩm chiết thành số bạc 100 lạng, do hậu tiếp sứ là Vũ Viết Bảo đệ tiến.

Vua sai hữu ty sắm sửa xôi lợn cỗ bàn và thêm lụa tế 100 tấm, hôm ấy đem bày ở điện Thị Triều. Vua mặc lễ phục đến trước thần ngự dâng rượu lạy cáo, rồi sai quan ra tiếp sứ. Giờ thìn, Cung Thìn theo long đình đến làm lễ dụ tế. Chưởng Thuỷ quân là Tống Phước Lương sung chức Bổng tửu sứ((1) Bổng tửu sứ : sứ bưng rượu.1), Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận sung chức Điển nghi sứ, Hiệp trấn Sơn Nam hạ Bùi Đức Mân, Hữu tham tri Công bộ Trần Văn Tính sung chức Tả hữu bổng tửu sứ. Lễ xong, Cung Thìn từ biệt về công quán. Lại đặt yến và tặng biếu như trước. Cung Thìn chỉ nhận ngọc quế Thanh Hoa và ngay hôm ấy trở về nước. Vua sai hậu mệnh sứ là bọn Phan Văn Thuý tiễn ra cửa quan.

Cung Thìn phụng mệnh sang sứ, phàm việc nhất thiết theo điển lễ nước ta, khiêm tốn mềm mỏng, tình tứ lời lẽ đều rất là đầy đủ.

Ngày hôm ấy, lễ Đại tường ở điện Hoàng Nhân. Sai Hoàng trưởng tử tế thay (Ngày hôm trước Hoàng trưởng tử đem các quan văn võ ở Kinh, đều mặc áo luyện((2) Thứ áo tang bằng lụa trắng, mặc sau khi lễ Tiểu tường.

(3) áo mặc sau khi làm lễ trừ phục.2), làm lễ cáo yết. Lễ xong, bỏ tang phục. Đến ngày chính, mặc áo đàm(3)  làm lễ).

Trước đó, vua dụ Hoàng trưởng tử rằng : “Vừa rồi nhân sứ Thanh đến chậm, trẫm đã toan quyết ý trở về cho kịp ngày đại lễ Đại tường và trừ phục. Không ngờ mọi người cùng một lời, hai ba lần can ngăn, nên bất đắc dĩ phải gượng theo lời xin của các quan mà tạm lưu giá lại. Việc đã như thế, ta còn biết nói sao ! Ngày lễ Đại tường, ngươi phải tế thay, đem tang phục của ta đội lên đầu, khấu đầu một cái rồi bỏ đi, cũng như chính bản thân ta khấu đầu làm lễ vậy. Như thế thì cực kỳ buồn tủi, tấm lòng đau xót giãi tỏ được phần nào chăng. Ngươi nên trai giới, tắm gội, cực kỳ thành kính, mới là con ta. Các hoàng tử, hoàng thân và các bề tôi ở Kinh đều phải thể tất lòng trẫm, hết lòng thành kính, ai không thành thì không phải là tôi con của ta. Nói chửa hết lời, mực hoà nước mắt, các ngươi nên rõ cho ta”.

Lại sai đến kỳ lệ viếng lăng cuối năm, Hoàng trưởng tử rước Hoàng thái hậu ngự giá đi bái yết.

Sai sứ sang nước Thanh. Lấy Hàn lâm viện chưởng viện học sĩ Hoàng Kim Hoán sung Chánh sứ, Thiêm sự Lễ bộ Phan Huy Thực và Thiêm sự Binh bộ Vũ Du sung giáp ất Phó sứ. Sai chế ấn phụng sứ bằng ngà cấp cho. (Trước kia chương sớ của sứ thần đều dùng triện riêng). Sau đó, người Thanh cho là nước ta đương có quốc tang, báo hoãn đồ cống, chờ kỳ cống sau nộp một thể.

Vua bàn hồi loan. Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất và Phó tổng trấn Lê Văn Phong đem văn võ quan liêu các trấn thuộc thành vào bái. Dụ rằng : “Bọn ngươi chịu ơn nước đã hậu, tuy trẫm lên ngôi chưa lâu, ơn trạch chưa có gì, nhưng há không nghĩ đến đức của Tiên đế sao ? Các ngươi đều phải hết chức vụ, võ thì coi quân, không xẻo xén khắc nghiệt, thì quân không đến nỗi trốn tránh, văn thì trị dân, nhất thiết giữ công bằng, thì có thể làm cho dân tin phục. Phải nên cố gắng”. Bọn Chất lạy tạ.

Sai trung sứ đem cờ hồi loan (cờ viết hai chữ “Hồi loan”) truyền tin dọc đường vào Nam cho tới Kinh sư.

Vua thân viết biểu dâng về cung Từ Thọ. Lại vì Hoàng trưởng tử xa cách lâu ngày, mong được gặp mặt ngay, bèn dụ khiến sang đầu xuân, xong lễ Nguyên đán, thì cùng với Thiệu Hoá công là Chẩn theo đường thuỷ đi đón giá.

Ngày Bính thân, xa giá tự Thăng Long khởi hành, ngày Mậu tuất đến hành cung Thái Lai. Sai trấn thần Thanh Hoa sửa lễ tạ Nguyên miếu.

Ngày Bính ngọ, thuyền ngự đến phá Tam Giang.

Trước đó đã sai binh mã hỗ giá trích từng toán đi các hành cung, lại sai vệ Phấn dực quân Nội thuỷ dự bị thuyền ghe chia đến các bến sông Ròn, sông Gianh, Nhật Lệ, Hồ Xá chờ sẵn. Khi hồi loan, đi gấp đường, đến tối ngày 30 tết thì đã tới Tam Giang, tính mới có 11 ngày, thuyền theo hầu chỉ có mấy chiếc theo kịp.

chính biên

Đệ nhị kỷ - Quyển XIII

Thực lục về Thánh tổ Nhân Hoàng đế

Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822] (Thanh Đạo Quang năm thứ 2), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1 Đinh mùi, ngự giá về tới Kinh sư ; yết điện Hoàng Nhân ; lại yết cung Từ Thọ mừng sức khoẻ, rồi ngự ở điện Cần Chính. Hoàng trưởng tử và các đại thần lưu Kinh là bọn Nguyễn Văn Nhân lạy để trả mệnh.

Ngày Nhâm tý, đem việc lễ bang giao đã xong cáo các miếu và điện Hoàng Nhân.

Ngày Quý sửu, đặt nghi thức tại triều ở điện Thái Hoà. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài.

Chiếu rằng : “Bậc vương giả kính trời, theo tổ, là để làm vững mệnh lớn, giữ gìn phước to, lưu truyền lâu dài về sau. Kính nghĩ Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta thống nhất bờ cõi, cả định dư đồ, tính kỹ kế trị thiên hạ, gây hoà hảo với lân bang. Trẫm nối nghiệp lớn noi phước xưa, nhận trách nhiệm khó khăn trọng đại do tổ tiên giao cho bản thân ta, vẫn nghĩ sao nối được chí, noi được việc là hiếu. Cho nên trẫm đã tuân theo điển cũ, có việc bang giao phải đi Bắc tuần, đã tuyên dụ cho thần dân đều biết. Đến ngày 19 tháng 12 thì lễ lớn đã xong. Giờ thìn ngày 20 trẫm hồi loan và giờ mão ngày Nguyên đán thì đến Kinh. Lần này sứ nhà Thanh đem mệnh sang đây, mọi việc nhất thiết theo quốc lễ của ta, từ trước đến sau lúc nào cũng hoà nhã khiêm tốn. Vì thế lễ lớn chóng xong, trẫm đã tỏ được lòng đại hiếu. Lại, chuyến đi này, trẫm cùng các quan binh hộ giá lớn nhỏ đều được mạnh khoẻ, thực là nhờ trời và tổ tiên phù hộ cùng nhờ ơn uy của Hoàng khảo ta để lại mà được như thế. Nay đã chọn ngày lành là mồng 6 làm lễ tạ các miếu cùng điện Hoàng Nhân và ngày hôm nay ban chiếu cho thiên hạ. Ôi ! giữ tin hoà hảo với lân bang, bèn xét mưu mô hữu đạo ; ở giữa mà là công việc lớn còn diễn phước trạch lâu dài”.

Chuẩn định từ nay các chiếu văn đều phải niêm yết ở lầu Phu Văn. Các Tri huyện ba huyện trong kinh kỳ phải dẫn kỳ lão, hương lý và thân hào đến trước lầu để lạy xem.

Thưởng bạc và quần áo cho các thị vệ đại thần tuỳ giá là Nguyễn Đức Xuyên, Trần Văn Năng, Tôn Thất Dịch, Vũ Viết Bảo và bọn quản vệ các quân Thị trung, Thị nội, theo thứ bậc khác nhau. Biền binh các quân Thị trung và Thị nội, ai về trước thì cấp cho tiền và cho về thăm nhà một tháng ; ai về sau, cho về thăm nhà 20 ngày.

Để ấn ngự bảo ở điện Trung Hoà. Lệ trước, ấn tỷ để ở điện Cần Chính. Vua bảo Thượng bảo khanh rằng : “Hoàng khảo ta dựng điện Trung Hoà, thực ví như cung Càn Thanh của nhà Đại Minh, đó là nơi chính điện của thiên tử ở. Vậy phải đem những quả ấn ngự bảo để vào chỗ chính giữa điện, khi nào cần đóng ấn thì Đại học sĩ hiệp cùng Thượng bảo và Văn thư phòng tâu rõ. Sau khi được chỉ, thì do Nội giám mang ấn đến điện Cần Chính. Đóng xong, lập tức khoá lại rồi lại để ở chỗ cũ. Chìa khoá do Thượng bảo giữ. Ghi làm lệnh mãi mãi”.

Ngày Giáp dần, vua mặc y phục tế đàm (mũ xuân thu bằng nhiễu màu xanh, áo trắng, vạt bằng lụa thâm không trang sức trong lót lụa trắng Xiêm bằng lụa mộc không viền, bít tất lam, giày đen), đến điện Hoàng Nhân làm lễ tế đàm.

Thế miếu làm xong (nhà chính, nhà trước đền chín gian hai chái ; hai bên tả hữu hai nhà vuông ; chính giữa sân là gác Hiển Lâm ba tầng ; bên tả là cửa Tuấn Liệt trên có lầu chuông ; bên hữu là cửa Phong Công trên có lầu trống ; phía trước có tả vu hữu vu thờ các vị tòng tự ; tường vây quanh có 5 cửa ; phía trước gọi là cửa Miếu, phía tả là cửa Khải Địch, phía hữu là cửa Sùng Thành, phía trước bên tả là cửa Hiển Hựu, bên hữu là cửa Đốc Hựu. Cửa Phong Công sau đổi làm Sùng Công).

Bộ Lễ dâng nghi chú lễ Thăng miếu((1) Rước thần chủ lên miếu để thờ.1). Vua nói : “Lễ có một tiết ban thịt tế. Trẫm nghĩ việc định nơi ở muôn năm của Hoàng khảo ta là việc rất tốt lành. Ngài đã để lại cho ta phước to nghiệp lớn, thì tiết này trẫm phải kính cẩn quỳ bưng chén rượu phước, giơ lên trán vái một cái rồi uống cạn, để đáp cái phước lớn Hoàng khảo đã cho ta”.

Ngày ất mão, vua đem bầy tôi rước thần chủ Thế tổ Cao hoàng đế và Cao hoàng hậu lên Thế miếu và rước thánh vị về để yên ở điện Hoàng Nhân.

Định lệ cúng ở các miếu. Tiết Nguyên đán và hai kỳ tế Xuân, Thu thì vua đến tế ở Thái miếu ; tiết Đoan dương và hai kỳ tế Hạ, Đông, thì vua đến tế ở Thế miếu. Lễ hợp hưởng thì năm nay vua đến Thái miếu, sang năm đến Thế miếu làm lễ. Còn Triệu miếu và Hưng miếu thì sai hoàng tử, hoàng thân tế thay. Ngày mồng một và ngày rằm, đều sai hoàng tử, hoàng thân làm lễ.

Ngày Mậu ngọ, tế xuân hưởng.

Ngày Nhâm tuất, vua ngự điện Thái Hoà, đem việc lễ Thăng miếu đã xong ban chiếu cho trong ngoài.

Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ thánh nhân đặt giáo trọng hiếu, là để làm cho hậu luân lý ; vương giả cúng thân mượn miếu là để tỏ sự tôn sùng. Cho nên “Tụng” của Kinh Thi ca ngợi việc hữu hưởng((1) Hữu hưởng : dâng lễ cúng.1), “Điển” của Kinh Lễ quý trọng việc thăng nhân((2) Thăng nhân : trai khiết dâng lễ cúng tế.2). Lớn lao thay Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, thân đủ cả ba tài((3) Trời, đất, người.3), lòng chứa muôn điều thiện. Buổi gian truân gặp cơn nguy biến, được trời cứu giúp mà có bão tự núi [Côn Lôn] ra((4) (5) Nguyễn ánh bị quân Tây Sơn vây khốn ở Côn Lôn, bỗng có cơn bão làm đắm nhiều thuyền của Tây Sơn, ánh thừa cơ trốn thoát. Khi chạy ra ngoài khơi, mấy ngày không có nước ngọt để uống, sắp chết khát, Nguyễn ánh khấn trời : Nếu có chân mệnh làm vua thì xin gió dạt thuyền vào đất liền, nếu không thì xin dìm thuyền cho chết đuối. Khấn xong, bỗng có một vùng nước ngọt nổi lên ở giữa biển để quân sĩ múc uống (Theo : Thực lục chính biên - Đệ nhất kỷ).4), nước ngọt giữa biển(5). Nhân dân mong sống lại, cùng vợ con đem cơm nước đón rước quân vua. Nương náu nơi tối tăm, ngầm lập mưu, gây ân đức ; vận dụng kế sâu thẳm, đánh giặc nước, trả thù nhà. Công lao dựng nghiệp và trung hưng, bằng cả Cao Tổ và Quang Vũ ; mở bờ mà rộng đất, thống nhất cõi Bắc miền Nam. Kính mệnh trời từ gây dựng đến thành công ; dựng ngôi báu không thiên tư không đảng phái. Chế ra lễ nhạc, đẹp tốt hơn trăm vua ; dựng nên mối giềng, phép tắc truyền muôn thuở. Trải bốn mươi năm đức sâu ơn hậu, rực rỡ nghìn xưa ; để lại ức muôn năm công lớn, mưu to, như trời vĩ đại. Trẫm kính nhận sự phó thác [của Hoàng khảo], trong lòng rất mực đau thương. Nơi Dực thất((6) Dực thất : cái nhà ở bên tả hay bên hữu Thái miếu, vua ở trong khi có tang (Thiên “Cố mệnh” Kinh Thư).6) băn khoăn muốn báo đáp mà không cùng được ; chốn quân đài((7) Quân đài : cái đài khi ông Khải nhà Hạ làm lễ lên ngôi vua.7) nối nghiệp, nghĩ noi theo là việc khó khăn. Nay tang phục đã hết, vừa miếu vũ làm xong. Muốn tỏ điển lớn lao, cử hành lễ long trọng, nên kính cẩn chọn ngày mồng 3 tháng này, lễ cáo các miếu và điện Hoàng Nhân, ngày mồng 9 thân đem bầy tôi rước thần chủ Hoàng khảo Thế tổ Khai Thiệu Hoàng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế lên miếu và rước thần chủ Hoàng tỷ Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dực Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu lên thờ chung. Từ chín tầng mây lên xuống, như vẫn giáng lâm ; muôn đời thờ hiển linh, vô cùng rực rỡ. Để làm sáng tỏ nền nếp tốt đẹp, nên cho ân trạch nhuần thấm khắp nơi. Vậy nay có ân điển gồm 8 điểm :

1. Trong dịp Bắc tuần năm ngoái, các hoàng tử tước công theo giá và hoàng tử lưu Kinh đều thưởng 50 lạng bạc, 1 tấm đoạn thêu mãng xà, 1 tấm nhiễu Hồ, 1 tấm sa, bút mực đều 1 hộp, 1 cái nghiên, 1 quyển giấy hoa tiêu.

2. Các đại thần thị vệ, đại thần lưu Kinh, văn võ tuỳ giá, từ Chánh nhị phẩm trở lên và các Chánh phó tổng trấn Gia Định, Bắc Thành đều gia một cấp.

3. Văn võ tuỳ giá từ Tòng nhị phẩm đến Tòng tam phẩm đều cấp một lần kỷ lục.

4. Các miếu Lịch đại đế vương, Văn Miếu, miếu Hội đồng ở các thành dinh trấn cùng các thần kỳ ở trong điển thờ, đều tế một đàn.

5. Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình được giảm 6 phần 10 thuế thân và tiền đầu quan năm nay ; Quảng Nam, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hoà được giảm 5 phần 10.

6. Chuẩn cho 11 trấn Bắc Thành đều theo chỉ trước, được giảm 5 phần 10 thuế thân và tiền đầu quan năm nay.

7. Năm nay mỗi huyện cống một người học sinh và từ sau cứ hằng năm mỗi phủ cống một người, do quan Quốc tử giám phước hạch, nếu trúng được bốn kỳ thì làm danh sách tâu lên để cấp cho lương ăn học [ở Quốc tử giám]. Khi gặp có khoa thi Hội, thì quan Quốc tử giám lại đem sát hạch rồi tâu xin cho cùng với Hương cống vào thi. Người nào văn học không thông thì bắt về và bắt phủ huyện cử người khác điền vào.

8. Phong tặng cha mẹ quan viên văn võ. Bộ Lễ phải tuân tờ chiếu trước mà xét rõ, trừ những người phạm tội thập ác((1) Thập ác : 10 tội danh trong hình luật : 1. Mưu phản, 1. Mưu đại nghịch, 3. Mưu bạn (phản nước theo giặc). 4. ác nghịch (đối với thân thích), 5. Bất đạo, 6. Đại bất kính, 7. Bất hiếu, 8. Bất mục, 9. Bất nghĩa, 10. Nội loạn [loạn dâm]. (Theo “Hình luật chí” trong Lịch triều hiến chương loại chí).1) và các tội danh không được phong tặng, còn thì đệ tâu danh sách để đợi chỉ phong tặng.

“Ôi ! Nghi ngút hương thơm, phụng thờ sánh cùng chín miếu ; chén vàng cầu phước, thiêng liêng bền tựa đất trời. Nơi hương khói nay đã dựng xong, con cháu ta được nhờ sự phù hộ. Cầu phước để ban cho muôn họ, các ngươi nên thành kính hưởng thừa”.

Chưởng dinh hưu trí là Nguyễn Long vào yết kiến, thưởng cho quần áo và 200 quan tiền.

Gọi hơn 4.200 biền binh ở Bắc Thành, Thanh, Nghệ và Thanh Bình về Kinh.

Sửa Văn Miếu.

Vua từng bảo bộ Lễ rằng : “Sách vở là để rộng kiến văn. Nay việc học sĩ tử cạn hẹp là vì cớ ít sách. Phải sai các Tế tửu, Tư nghiệp xét sách trong Quốc tử giám, nếu chưa đủ thì tâu xin ban cấp để giảng tập”.

Sai Bắc Thành hằng năm mua 1.000 hộc thóc nếp chở về Kinh. Từ nay lấy đó làm lệ.

Chuẩn định từ nay tế Giao có tám đàn tòng tự, thì hoàng tử hoàng thân giữ việc phân hiến((1) Dâng rượu cúng ở các bàn phối hưởng hai bên tả hữu.1) ở bốn đàn (tả nhất, hữu nhất, tả nhị, hữu nhị), văn võ đại thần phân hiến ở bốn đàn (tả tam, hữu tam, tả tứ, hữu tứ). Năm lần tế hưởng((2) Xuân, hạ, thu, đông hưởng và hợp hưởng.2) ở Thái miếu thì tám án hai bên tả hữu, hoàng tử, hoàng thân phân hiến bốn án (tả nhất, hữu nhất, tả nhị, hữu nhị) ; văn võ đại thần phân hiến bốn án (tả tam, hữu tam, tả tứ, hữu tứ). Trước kỳ tế, bộ Lễ xin chỉ để phân phái, ai không dự vào phân hiến thì theo ban mà bồi tế. Ai vô cớ mà bỏ không đến tế thì xét hặc.

Ngày Đinh mão, vua ngự điện Trung Hoà, dụ bầy tôi rằng : “Trước đây trẫm dùng nhà Minh đường ở dãy bên đông chính điện làm nơi cư tang, sớm chiều chịu tang chế ở đấy, ba năm nay vẫn giữ như một ngày. Nay lễ Thăng miếu đã xong, Trẫm ngự ở điện chính, để hợp với cái nghĩa ở giữa mà lo việc lớn”. Bầy tôi đều chúc mừng.

Sai quét màu vàng cung thành để làm Tử cấm thành.

Sai Giám thành phó sứ là Đỗ Phước Thịnh đến đạo Cam Lộ ngắm đo từ sông Điếu Ngao (tên xã) đến Ai Lao, vẽ thành bản đồ hình thế núi sông để dâng. Vua sai truyền dụ cho Sai trưởng bảy sách thuộc Man rằng : Bọn ngươi đời đời dâng cống, đã hơn 200 năm nay, cũng là phiên thuộc của triều đình. Phàm đất đai thuộc bản đồ phải có bờ cõi rõ ràng để dùng trong việc trị dân giữ nước chớ nên ngờ sợ. Những người được sai phái đã có hậu thưởng, không phiền các ngươi phải cung đốn”.

Tường sinh((3) Tường sinh : sinh viên ở phủ, huyện.3) tỉnh Phước Kiến nước Thanh là Vương Khôn Nguyên đi Đài Loan chấm thi, nhân bị bão dạt vào đậu ở Đà Nẵng. Sai cho quần áo tiền gạo và đưa theo đường bộ về nước. Khôn Nguyên xin về đường biển. Y cho, và cho thêm 100 lạng bạc.

Bàn cho những công thần trung hưng được tòng tự ở Thế miếu.

Vua dụ bầy tôi rằng : “Nay rước Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế lên miếu để hưởng cúng muôn năm, theo lễ thì có tòng tự. Trẫm nghĩ từ buổi trung hưng đến nay, những người theo đòi giúp đỡ, ngoài năm người là Tôn Thất Mận, Tôn Thất Điển, Tôn Thất Huy, Võ Tánh, Ngô Tòng Chu ra, còn nhiều người công trạng rực rỡ. Bọn ngươi phải xét kỹ các công thần thân huân, ai là người thuỷ chung hết lòng, công lao đặc biệt, thì liệt kê công trạng, bàn xét tâu lên đợi trẫm quyết định, để đáp lại công lớn, làm sáng tỏ điển thờ”.

Sai sứ sang nước Xiêm. Lấy Cai bạ Quảng Ngãi là Nguyễn Kim Truy làm Chánh sứ, Cai cơ Thị trà là Ngô Văn Trung làm Phó sứ (tặng Phật vương 3 cân quế và sa, the, trừu, lụa mộc, lụa trắng, mỗi thứ 100 tấm).

Ngày Tân mùi, duyệt binh.

Lấy Thiêm sự Binh bộ là Lê Đường Anh quyền làm công việc Cai bạ Quảng Ngãi.

Bộ Lễ tâu rằng : Những miếu thờ đế vương lịch đại ở các địa phương, có khi hai ba sở miếu cùng thờ một triều đại, có khi một hạt mà thờ hai ba triều đại, xin cho từ sau kỳ xuân tế này, mỗi hạt đều hợp thờ một đàn.

Vua dụ khiến các triều đại cứ mỗi triều đều tế một đàn, duy họ Trịnh không dự lệ ấy.

Bộ Lại tâu dâng danh sách gia cấp các đại thần văn võ.

Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Điển lệ gia cấp là để ngụ ý khuyên răn. Nếu nhất khái cho cả những người lười biếng, không xứng chức vụ thì không phải là ý khuyên răn”. Sai đình thần bàn lại. Bọn Lễ bộ Phạm Đăng Hưng và Lê Đồng Lý vì làm việc sai lầm không được dự.

Lại dụ sai hai bộ Lại, Binh kê danh sách các quan viên văn võ lớn nhỏ tuỳ giá và các văn võ ở Bắc Thành có dự vào việc lễ bang giao, cho đình thần bàn xét, ai được việc thì thưởng, ai không được việc thì phạt.

Lấy Phó vệ uý Nguyễn Văn Tình quản Tả vệ dinh Long võ quân Thị nội.

Sai Quảng Bình và Thanh Hoa mộ người lập những hộ yến sào (mỗi người mỗi năm nộp thuế 8 lạng), tha cho thuế thân. Nhân lại định lệ thuyền yến hộ (yến hộ nào đinh số 40 người trở nên thì đóng 12 chiếc thuyền, hộ nào 30 người trở lên đóng 8 chiếc, hộ nào 20 người trở lên đóng 5 chiếc, hộ nào 10 người trở lên đóng 2 chiếc. Thuyền rộng 5 thước đến 6 thước 9 tấc, do quan sở tại cấp bài chỉ, chiếu lệ nộp thuế. Sai dịch đều được miễn cả. Hộ nào không đủ 10 người thì không ở lệ này).

Sai Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận quản lý Khâm thiên giám.

Bộ Lễ bàn và dâng nghi chú đại triều và thường triều. [Vua] chuẩn cho bắt đầu từ buổi thiết triều ngày 15 tháng 2. Hằng tháng, ngày mồng một và ngày rằm đặt đại triều ; các ngày 5, 10, 20, 25 đặt thường triều. Ngày đại triều thì hữu ty bày lỗ bộ và nghi vệ đại triều ở điện Thái Hoà. Vua ngự mũ cửu long, áo bào vàng, đai ngọc. Hoàng tử, hoàng thân và văn võ trăm quan đều mang áo mũ đại triều, theo ban chầu bái. Ngày thường triều thì đặt nghi vệ thường triều ở điện Cần Chính. Vua ngự khăn cửu long kiểu nhà Đường, áo tràng vạt sắc vàng kiểu nhà Minh, bổ tử thêu rồng vàng. Hoàng tử, hoàng thân và văn võ tứ phẩm trở lên đều mang áo mũ thường triều mà chầu bái. Được gọi lên điện cho ngồi và cho uống nước chè. Các nha môn có việc gì thì tâu.

Cấp thêm lương tháng cho thư lại vị nhập lưu ở Nội vụ phủ. (Mỗi người mỗi tháng được cấp 1 quan 5 tiền và 1 phương gạo). Dụ rằng : “Trẫm nghĩ bọn ngươi lương ít, không đủ nuôi đức thanh liêm, nay đã được ngoại lệ gia ân thì đều phải cố gắng, nếu còn tham nhũng hối lộ và không chăm chỉ chức vụ, sẽ thêm bậc mà trị tội”.

Bổ biền ở Thanh Hoa bắt được tướng giặc là Lê Văn Thông ở Nông Cống đem giết.

Sai bộ Lễ lựa chọn trong các đội tiểu hầu, ai là người cao tuổi biết âm nhạc thì cho dạy đội tiểu hầu nữ diễn tập cho thông thạo để hát chầu.

Sai Quảng Đức bắt dân và thợ luyện nấu các thứ ngói lưu ly.

Tháng 2, nước Vạn Tượng sai sứ đến Nghệ An dâng biểu xin truy dâng lễ tiến hương. Vua cho là việc quốc tang đã xong, cho miễn. Cho vua nước ấy và sứ giả bạc và lụa rồi bảo về.

Nước Vạn Tượng lại xin cho Man thuộc là Phọc Khâm được thu thuế ở động Động Dịch. Vua sai Thiêm sự Vũ Viết Trường đến hội với Trấn thần Nghệ An truyền họp tên Phọc Khâm và người Động Dịch để xét. Phọc Khâm thú rằng : “Trước kia nghe nói động Động Dịch thuộc về động Lạc Hoàn, nên đã bị Phì Chủ Phô sai đến động ấy đòi thuế. Nay tự biết là trái lệ, xin nhận tội”.

Lại gặp có việc hai sách Phá Băng, Xương Cụm thuộc đạo Cam Lộ cũng bị Phá Hạt Xà Bút (con vua nước Vạn Tượng) sai người đến đòi thuế. Việc tâu lên. Vua dụ vua nước Vạn Tượng rằng : “Động Dịch là dân biên của ta, đã ghi vào sổ sách. Phọc Khâm đã biết tội thì tạm rộng tha cho. Còn như các sách Man ở Cam Lộ thì là thần thuộc của triều ta, vẫn cung nộp thuế lệ hơn 200 năm nay, không có cái việc nước ngoài đến sách nhiễu thuế khoá bao giờ. Phá Hạt Xà Bút sao dám như vậy ? Duy nghĩ y mới mạo phạm một lần nên cũng rộng dung cho. Vương phải nghiêm cấm bọn chúng, từ nay phải tuân pháp luật, giữ cương giới, không được làm bậy, để nhờ cái phước của trẫm vỗ yên các bang”. Lại truyền dụ cho dinh thần Quảng Trị thông sức cho Sai trưởng bảy sách Cam Lộ đều được biết.

Bắt đầu duyệt tuyển ở năm trấn Bắc Thành (Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Hải Dương, Sơn Tây, Kinh Bắc, mỗi nơi một trường ; phủ Hoài Đức phụ vào trường Sơn Tây). Sai Tổng trấn Lê Chất quản lĩnh ấn vụ duyệt tuyển, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Công Tiệp, Thái thường Tự khanh Lê Đồng Lý, Hiệp trấn Nghệ An Ngô Bá Nhân, Hiệp trấn Sơn Nam thượng Vũ Xuân Cẩn, Cai bạ Bình Định Hoàng Văn Quyền, chia nhau đi các nơi phụng mệnh làm việc. Bọn Công Tiệp năm ngoái tuỳ giá được lưu lại ở Bắc Thành để làm việc này. Vua nghĩ bọn họ ở ngoài lâu ngày, cho mỗi người 100 lạng bạc và dụ rằng : “Bọn ngươi là chính do trẫm lựa chọn, cần phải cố gắng giữ công bằng trung thực, để xứng lòng trẫm đinh ninh dặn dò ba bốn lần. Nay ban cho như thế cũng đã đủ nuôi liêm. Nếu còn dụng tâm đen tối, cam làm ô trọc, thì dù không nghĩ đến báo đáp ơn trẫm, nhưng lại không nghĩ đến bản thân và gia đình sao ? Phàm những bọn quên ơn vô sỉ như thế, trẫm nhất định trị tội nặng để trừ tiệt cái tệ hối lộ. Khi dụ đến nên để luôn luôn ở trước mặt chỗ ngồi để kính cẩn tuân theo, chớ quên”.

Lại dụ Lê Chất rằng : việc dân chính buổi mới, công việc nên giản dị, miễn sao trừ bỏ thói tệ, chấn hưng điều lợi là được.

Bấy giờ có viên phủ lại ở Kinh Bắc là Man Kim Xán và viên trấn ty ở Sơn Nam hạ là Nguyễn Đình Cẩm đòi tiền của dân, Chất lập tức đem chém cho mọi người biết, rồi đem việc tâu lên. Vua cho là phải.

Khi tổng sách dâng lên, đinh số tăng nhiều. (Số đinh năm trấn và phủ Hoài Đức về năm Canh thìn có 190.226 người, năm Tân tỵ có 189.271 người, đến năm nay sổ tuyển lên tới 193.817 người). Vua thưởng bọn Lê Chất và Công Tiệp mỗi người gia một cấp và 1 tấm đoạn thêu mãng xà ; lại thêm cho Chất 2 tấm đoạn bát ty, bọn Công Tiệp mỗi người 1 tấm. Các trấn và phủ huyện thì giao cho bộ Lại nghị công : các Trấn thần là Nguyễn Văn Hiếu, Lê Công Lý, Lê Văn Tiến, Trần Thiên Tải, Nguyễn Kim Bảng, Lưu Thuyên, mỗi người đều được thưởng hai lần kỷ lục. Thuyên và Bảng vì trội hơn nên thưởng thêm mỗi người 30 lạng bạc và 10 tấm lụa. Các tri phủ, tri huyện, cai án, tri bạ, tham luận, mỗi người được thưởng một lần kỷ lục. Thư lại, cai tổng thì được thăng thụ và thực thụ theo bậc khác nhau. Duy viên Tuyên phủ sứ Hoài Đức là Phan Đức Quang vì không làm được việc, phạt 6 tháng lương. Bộ Lại vì nghị tâu rõ ràng được thưởng 30 lạng bạc.

Bộ Hộ tâu rằng : “Bắc Thành mới làm việc duyệt tuyển, những hạng lão nhiêu, nhiêu tật, lão hạng, tàn tật, xin cho chiếu theo lệ định từ Quảng Bình trở vào là thuế thân cho lão hạng và tàn tật được nộp bằng một nửa thuế của tráng hạng, còn hạng lão nhiêu, nhiêu tật thì cho miễn”. Vua y theo.

Thành thần Gia Định tâu rằng : “Gần đây những án cướp trong hạt phần nhiều là những hạng dân bần cùng lậu sổ, nên đã sức cho các trấn phàm xã nào số dân xin tục tuy ghi nhiều là hạng cùng cố, cũng đều phê chuẩn, đừng câu nệ cái lệ “10 đinh 1 cùng”. Năm ngoái, từ tháng 8 đến tháng 12, số dân mới tục cộng được 16.155 người (tráng đinh 12.436 người, cùng cố 3.719 người), xin miễn cho thuế thân năm ấy”.

Vua y lời tâu. Lại sắc rằng từ năm nay trở đi, những hạng dân cùng cố đã có sản nghiệp thì đem vào các hạng tráng, quân, dân, còn những người làm chưa đủ ăn thì vẫn cho miễn.

Quan Bắc Thành tâu rằng phủ lỵ phủ Quốc Oai thuộc Sơn Tây đóng ở Phượng Trì, địa thế chật hẹp, xin dời đến Trung Thuỵ là nơi rộng rãi cao ráo. Vua y cho (Phượng Trì, Trung Thuỵ đều là tên xã thuộc huyện Đan Phượng).

Ngày Bính tuất, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao, rước Thế tổ Cao hoàng đế lên phối hưởng.

Ngày Tân mão, vua ngự điện Thái Hoà nhận lễ mừng. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. Chiếu rằng : “Trẫm nghĩ Kinh Dịch nói “ân tiến” là làm sáng tỏ việc phụng sự để trọng lễ tế Trời, Kinh Thi ca tụng việc “dâng lễ” là nói tiến cúng để nêu lòng hiếu tôn cha mẹ. Như thế là đặt giáo hoá trước hết phải báo đáp từ gốc, mà tôn cha không gì bằng đem phối hưởng với Trời. Lớn lao thay Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, lấy vui hoà làm mối giềng, lấy thông minh làm khuôn phép. Khí thiêng non sông chung đúc, anh tài như Chu vương mở nghiệp khi xưa ; quân dân một đức một lòng, mưa lớn như Hạ hậu phục thù thuở trước. Dựng nghiệp đã trải qua nguy hiểm, mưu sâu vẫn giữ được vẹn toàn. Quân đến đâu, nhân dân vui mừng khắp cửa nhà, lòng mong người cũ ; căm quân giặc, tướng sĩ tranh xông pha tên đạn, cùng chí phục thù. Cờ kiếm ra uy trừ quân hung bạo ; bụi mù quét sạch khôi phục đất đai. Kiến thiết miếu xã thị triều((1) Tôn miếu, xã tắc, đô thị, triều đình.1), tô điểm quy mô buổi đầu rực rỡ ; sửa sang điển chương lễ nhạc, lưu truyền cơ sở muôn đời về sau. Trị nước gắng công, sớm hôm không hề nhàn rỗi ; nghiệp xưa giữ vững, mọi việc thận trọng thuỷ chung. Tưởng đến phép trời rủ truyền, con cháu thịnh vượng ; đức còn chuyển mạnh, cao cả vô cùng. Trẫm được nhờ để lại yên vui, nghiệp lớn. Việc tế tự thì theo Thành Chu điển lớn, tôn Hậu Tắc mà thân Văn vương ; việc tiến cúng thì tỏ lòng hiếu giữ nề, rước Hoàng khảo sánh cùng Thái tổ. Noi đường hay ấy, lại cử lễ to. Kính cẩn chọn ngày mồng 6 tháng này, sai quan kính cáo Trời Đất và Tôn miếu xã tắc ; ngày mồng 10 thì hợp tế Trời Đất ở đàn Nam Giao và rước thần vị Hoàng khảo Thế tổ Khai Thiên Hoằng Đạo Lập Kỷ Thuỳ Thống Thần Văn Thánh Võ Tuấn Đức Long Công Chí Nhân Đại Hiếu Cao hoàng đế lên phối hưởng, kể bắt đầu từ năm nay là năm Nhâm ngọ. Các đồ thờ nghi lễ đều theo như ngôi phối Thái tổ Gia dụ hoàng đế. Việc này chép làm hội điển, để lại vô cùng.

Bình ngọc dâng thờ, ca ngợi mệnh trời sinh dục ; đàn Giao chúc hỗ, đội ơn Thượng đế phù trì. Đã kính dâng tôn hiệu, để ban ơn khắp nơi. Vậy có 8 điều ân điển :

1. Các công hoàng đệ, hoàng tử và văn ban ở Kinh từ ngũ phẩm trở lên, ban yến một lần.

2. Văn tứ phẩm, võ tam phẩm trở lên ở Kinh và ở ngoài, cấp một lần kỷ lục.

3. Các thần kỳ ở thành dinh trấn đạo đã được ban tế trong khi Bắc tuần hồi loan đi qua, nay lại cho tế một lần nữa.

4. Các kỳ lão ở bốn dinh trực lệ 100 tuổi trở lên thì thưởng 3 lạng bạc, 1 tấm lụa ; 90 tuổi trở lên, thưởng 2 lạng bạc, 1 tấm vải ; 80 tuổi trở lên, thưởng 1 lạng bạc, 1 tấm vải ; 70 tuổi trở lên, thưởng 1 tấm vải.

5. Những người đã nộp quyển để dự sát hạch vào lớp cao đẳng ở Quốc tử giám từ năm Minh Mệnh thứ 2 trở về trước, thì các viên Tế tửu, Tư nghiệp cho gọi đến mà ra bài thi ở trước mặt, lấy trúng 100 tên, chia làm ba hạng ưu bình thứ, làm danh sách do bộ Lễ đề đạt để cho làm giám sinh, cấp cho tiền gạo theo thứ bậc khác nhau.

6. Những quan viên phạm sai lầm về việc công đã bị xử phạt bổng từ năm Minh Mệnh thứ 2 trở về trước, đều cho tha phạt.

7. Những quan viên có quân công đã về hưu trí ở quê quán mà hiện không có ai là thân nhân để tang một năm trở lên để nuôi nấng thì cho đến nha gần mà trình rõ, do các quan thành dinh trấn xét thực đề đạt lên mà cấp cho tiền gạo.

8. Các dinh trấn đạo Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên, Thanh Bình, đều cho đặt thêm chức Đốc học. ở các thành dinh trấn, mỗi phủ được đặt một Giáo thụ hàm Chánh thất phẩm, mỗi huyện được đặt một Huấn đạo hàm Chánh bát phẩm, để dạy bảo học sinh, mở mang văn hoá.

Ôi ! đức lớn mãi mãi sánh với trời, cao sáng dài lâu cùng phối ; chứng giám ở đây không hết phước, lên xuống rõ ràng không xa. Thần hưởng ở lòng thành, một mình ta không quên kế tự ; cầu phước để ban khắp, dân các ngươi được hưởng không nhàm”.

Ngày Quý tỵ, vua yết lăng Cơ Thánh((1) Lăng Hưng tổ Hiếu khang Phước Noãn.1) .

Ngày Giáp ngọ, yết lăng Thuỵ Khánh((2) Lăng vợ Hiếu khang Phước Noãn.

(3) Lăng Thế tổ Gia Long.2), lăng Thiên Thụ(3)

Sai Lang trung Hộ bộ Trương Thừa Huy đem các bộ ty đi thanh tra thành

Gia Định cùng các trấn Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận.

Lấy Hàn lâm viện Thị độc học sĩ Hoàng Văn Thịnh làm Thiêm sự Hộ bộ.

Miễn tiền đóng ấn và viết cáo sắc (lệ trước các chức tán quan và các thư lại vị nhập lưu, khi được cấp bằng sắc đều phải trả tiền đóng ấn và tiền viết, do Lại bộ, Thượng bảo, Thị thư và những biền binh canh giữ ấn quốc bảo chia nhau, đến nay bãi đi).

Đổi phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương làm phủ Bình Giang, phủ Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang ; lại đổi phủ Tam Đa, trấn Sơn Tây làm phủ Vĩnh Tường.

Hiệp trấn Thanh Hoa là Hoàng Văn Diễn vì ốm xin nghỉ việc và nói : “Xa bỏ phần mộ đã 17 năm nay, may được về làng thăm viếng thì bệnh sẽ tự khỏi”. Vua nói : “Há có cái lý về làng mà bệnh tật khỏi ngay. Thế rõ ràng là không có bệnh”. Không cho. Nhân bảo bộ Lại rằng : “Những quan chức lớn nhỏ cáo bệnh, cũng có người thực tình, cũng có người nhân có việc mà thoái thác, không thể không biết rõ”.

Định lại phẩm trật quan chức ở ty Cung phụng sơn lăng, Lang trung trật Chánh ngũ phẩm (trước Chánh tứ phẩm), Tư vụ trật Chánh thất phẩm (trước Chánh bát phẩm), Thư lại trật Chánh cửu phẩm (trước Tòng cửu phẩm).

Thuyền trưởng nước Xiêm là Hoàng Nghi Hữu nhân bị bão vào đậu thuyền ở Bình Định, xin vay 2.000 quan tiền công và 500 phương gạo. Vua chuẩn lời đình nghị cho vay.

Thuộc hạ trong phủ Thiệu Hoá công Chẩn là bọn Nguyễn Đăng Quy trá xưng là thị vệ đêm vào nhà dân bắt bạc, nhân cự đánh viên Tri huyện Vũ Văn Thục. Dinh thần Quảng Đức tâu. Vua sai đem chém. Chẩn sợ hãi xin nhận tội. Vua nói : “Biết công thực thà, nhưng quá nhu nhơ nên bọn thuộc hạ sinh nhờn”. Phủ thuộc Cai đội là Lê Văn Đắc bị tội trượng và cách chức.

Ngày Đinh dậu, tế Xuân ở Văn miếu. Vua thân đến làm lễ. Dụ bộ Lễ rằng : “Từ khi trẫm lên ngôi, thường vẫn muốn thân đến tế để tỏ chút lòng ngưỡng mộ, nhưng nghĩ còn đương cư tang chưa tiện cử hành. Nay đã hết quốc tang, trẫm thân đến làm lễ, phàm phẩm vật cúng tế và đồ thờ đều phải cho tinh khiết, các quan phân hiến bồi tế đều phải kính cẩn, để xứng cái ý tôn thầy trọng đạo của trẫm”.

Quảng Nam và Quảng Trị lâu không mưa, lúa ruộng tổn hại nhiều. Sai dinh thần khám tâu để liệu giảm thuế.

Thư lại ở bộ Công là bọn Nguyễn Bút giả tạo ấn tín đơn bằng để mạo lĩnh lương kho. Việc phát giác. Vua dụ bộ Hình rằng : “Ngay ở chốn Kinh thành mà dám làm càn không sợ như vậy thì biết ngày thường chúng nó làm bậy đến thế nào. Trẫm quyết không làm điều nhân từ nhu nhơ để cho đảng ác càng ngày càng quá, di luỵ đến người lương thiện”. Sai đem chém ngay ở chợ Đông. Lại sắc rằng từ nay phàm các vụ giả mạo ấn tín các nha có liên quan đến việc quân quốc quan trọng, cùng việc binh cơ lương tiền, đều theo đó mà nghĩ xử.

Hoãn việc cấm lưu hành tiền nguỵ hiệu [của Tây Sơn]. Khoảng đời Gia Long có chiếu tạm lưu hành tiền ấy trong 5 năm, từ Đinh sửu đến Tân tỵ, từ Nhâm ngọ về sau thời cấm hẳn. Đến nay bộ Hộ tâu lại. Vua dụ rằng : “Nhà nước ra mệnh lệnh là cần phải thi hành. Nay cái hạn cấm đã hết thì số tiền nguỵ còn lại trong dân gian đều thành vật vô dụng. Nghĩ rằng dân nhỏ không có bao nhiêu tiền nong mà đột ngột không tiêu dùng được thì sự ăn tiêu hằng ngày tất phải thiếu thốn. Vậy tạm hoãn cho một năm, phàm những tiền đồng nguỵ hiệu đều được đem nộp thuế hết. Ai xin đem nộp đổi thì đổi cho tiền mới chế (cứ 2 đồng tiền đồng nguỵ ăn 1 đồng tiền đồng mới chế) ; đến sang năm thì thôi. Việc mua bán đổi chác trong dân gian và chợ búa đều theo như hạn mà cấm”.

Đổi đội Từ phụng nhất làm ty Tả từ tế, đội Từ phụng nhị làm ty Hữu từ tế.

Xây đắp mặt tả Kinh thành (dài 566 trượng 5 thước). Sai Đô thống chế Tiền dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Vân trông coi công việc. Thưởng các quân hơn 67.900 quan.

Vua dụ bầy tôi rằng : “Kinh sư là nơi căn bản của nước. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta khi võ công cả định thì bắt đầu dựng đô thành, dần dần xây đắp thêm mãi, cho nên uy thanh trấn áp mọi nơi, để lại cơ nghiệp muôn đời cho con cháu ta. Duy về mặt tả còn là thành đất chưa xây gạch đá. Trẫm kính noi nghiệp lớn, rất để tâm làm sáng tỏ công nghiệp tiền nhân. Nay nước nhà đương nhàn rỗi, chính là lúc nên sửa sang việc ấy để làm nơi căn bản vững nước, bảo dân. Vậy hạ lệnh theo đúng quy thức mà xây đắp”. Sau thấy mưa xuân còn lạnh, binh lính phải lấy cát ở sông vất vả đáng thương, nên đặc biệt hạ lệnh cho đào lấy cát ở trên bãi, chỗ nào đào mất lúa rau của dân thì chiếu giá đền tiền. Lại định thì giờ làm việc (mặt trời mọc bắt đầu làm, mặt trời lặn thì nghỉ ; mưa gió cho tạm ngừng) và phái thái y đến trú ngay ở sở làm, ai ốm thì lấy thuốc công điều trị. Đến khi hoàn thành, thưởng cho quan binh và thợ thuyền hơn 52.200 quan. Đổng lý Nguyễn Văn Vân trở xuống đến suất đội đều được thưởng 5 tháng tiền bổng và 1 thứ kỷ lục. Các y sinh cũng chiếu công trạng mà phân hơn kém để định thưởng phạt.

Đắp thành trấn Hưng Hoá. Thành ở Trúc Phê (tên xã thuộc huyện Tam Nông), khuôn khổ cũ thấp hẹp. Trước vua đi Bắc tuần, sai viên giám thành đến ngắm địa thế để mở rộng thêm. Đến nay sai Thống quản thập cơ Trung quân là Nguyễn Khắc Tuấn trông coi 1.500 người các quân thuộc Bắc Thành đến ứng dịch. Nhà dân và đình miếu phía ngoài thành, chỗ nào cần dời đi nơi khác thì cấp tiền. Khi thành đắp xong, bọn giám tu và chuyên biện đều được thưởng tiền bổng và kỷ lục.

Bọn tướng giặc ở Bắc Thành là Vũ Đình Lục, nguỵ xưng quân dinh Trung khuông, Nguyễn Thế Chung, nguỵ xưng Thống lĩnh Sơn Nam thượng đạo, nhóm họp đồ đảng quấy nhiễu cướp bóc vùng Sơn Tây và Sơn Nam thượng hạ, chống cự quan quân trong mười mấy năm nay, dân bị hại không kể xiết. Vừa quản phủ ứng Hoà là Nguyễn Văn Quý đem quân đi tuần bắt, gặp Thế Chung ở Chương Đức, binh của giặc hơn 200 mà binh của Quý chỉ có 80, ít chẳng địch được nhiều, Quý hết sức đánh, tay đâm được mấy tên giặc rồi chết ở trận. Thành thần được tin báo, chia quân đi đuổi bắt. Thế Chung trốn về vùng Thiên Bản, hội với Đình Lục. Thành thần mật sai thổ hào ở Nam Chân là Đỗ Hữu Lực dùng kế dụ đến nhà bắt được. Lại sai Chưởng cơ Ngô Văn Vĩnh đem binh và voi đi bắt đảng giặc ở Từ Sơn, bắt và chém được rất nhiều. Việc tâu lên, vua cho Lê Chất làm việc trúng thời cơ, xuống dụ ngợi khen, cho Đỗ Hữu Lực làm Cai cơ, ban cho áo mũ Chánh ngũ phẩm, 2.000 quan tiền và 100 lạng bạc. Ba người con và cháu gọi bằng chú bác của Hữu Lực đều được bổ Chánh đội trưởng, theo trấn sai phái. Ngô Văn Vĩnh được thưởng 1 cấp quân công. Biền binh được thưởng 200 quan tiền. Quản phủ Nguyễn Văn Quý được truy tặng Vệ uý vệ Thái võ Tả quân, được cho 1 cây gấm Tống cẩm và 20 lạng bạc tuất. Đình Lục và Thế Chung bị giết, đem đầu đi bêu ở các trấn. Cha Thế Chung là Nguyễn Gia Phan (tiến sĩ triều Lê) vì không tri tình được khỏi tội.

chính biên

Đệ nhị kỷ - Quyển XIV

Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế

Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa xuân, tháng 3, vua đi săn ở núi Thế Giới. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Trẫm đi lần này, sớm đi tối về, người trên không có mối lo liên miên hằng tuần, người dưới thì có lòng trông hoan nghênh giúp đỡ, trẫm rất vui lòng. Những dân xã trẫm đi qua đều cho miễn 2 phần 10 thuế điền năm nay. Một đoạn điền thổ giáp đường quan La Chử mới bị nước lụt xói lở thì cho miễn thuế, sai dân bồi đắp và cho 1.500 quan tiền”.

Định lệ thuộc binh của các viên quản suất ở quân Thị trung Thị nội (Quân Thị trung : Vệ uý được 7 người, Phó vệ uý 5 người, Cai đội 3 người, Phó đội 2 người ; Quân Thị nội : Vệ uý được 6 người, Phó vệ uý 4 người, Cai đội 2 người, Phó đội, Chánh đội trưởng, Đội trưởng, Suất đội, đều 1 người), sai lấy phu thường ở các vệ đội mà bổ, sau có khuyết thì mộ ngoài sung vào. Những binh lính lệ tòng cấp trước thì đều cho về ngũ, không được sai việc riêng. Lại sắc rằng các quan ngoài khi ở lỵ sở có mộ thuộc binh thì khi đổi nơi khác phải lưu thuộc binh ấy lại cho thượng ty trong hạt, duy quan Kinh mang theo thuộc binh đi thú, thì khi về Kinh hoặc đổi đi nơi khác được mang theo đi.

Dựng viện Thuỵ tường.

Lấy Cai đội Thị nội là Lê Văn Nghĩa làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách, Cai đội Đặng Văn Đạt làm Phó vệ uý vệ Uy võ.

án phủ sứ Hoài Đức là Hoàng Văn Nhị chết. Cho một cây gấm Tống. Lấy Vệ uý vệ Trung bảo là Nguyễn Văn Phượng làm án phủ sứ Hoài Đức.

Chuẩn định từ nay các chương tấu về đình nghị đều xưng là bọn đình thần (trước xưng là bọn văn võ thần), những văn bằng truyền thị cũng xưng là đình thần (trước xưng là công đồng), đều đóng ấn công đồng (lệ trước, sớ sách về đình nghị chỉ đóng ấn quan phòng ở chỗ ký tên cuối giấy).

Thuyền bị nạn của nước Xiêm đậu vào hải phận An Hải (tên phường) thuộc Quảng Ngãi. Cấp cho tiền gạo rồi cho đi. Bọn trấn thần là Nguyễn Văn Soạn, Lê Đường Anh, vì trái lệ bắt dân lặn vớt của cho họ, bị phạt 6 tháng bổng.

Mỏ đồng Tụ Long ở Tuyên Quang sản nhiều đồng, hoá phu tập hợp đông. Người lĩnh trưng xin lĩnh 15.000 quan tiền công chiết trả bằng khối đồng đỏ 25.000 cân. Quan Bắc Thành tâu xin cho. Vua y cho.

Chưởng Hữu quân quận công Nguyễn Văn Nhân chết. Tặng Thái bảo, thuỵ là Trung Cẩn. Cho 1.000 quan tiền, 300 lạng bạc, 2 cây gấm chân kim((1) Chân kim : thứ gấm thêu bằng kim tuyến.1), 3 cây gấm Tống, 30 tấm lụa. Nghỉ chầu 3 ngày, sai quan đến dụ tế.

Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Nguyễn Văn Nhân là bậc đại thần huân cựu, là người trung thành cẩn hậu. Khi trẫm được tin ốm nặng, muốn thân tới thăm, nhưng nghĩ lễ vua tôi rất nghiêm, nếu cho phép nằm thì không dám yên tâm, mà gượng dậy thì lại mỏi mệt, cho nên trẫm thường sai hoàng tử đến thăm. Nay không may qua đời, thương tiếc vô cùng”. Lại nói : “Nhân bình nhật ăn mặc rất tiết kiệm, nay lễ tế điện trẫm muốn làm hậu”. Rồi đặc biệt sai xuất tiền kho, uỷ cho đội Thị thiện hằng ngày làm cỗ nấu để cúng. Đến hôm đám đưa về Gia Định, vua ngự giá đến nhà, thân rót rượu cúng. Cho 100 binh đội hữu sai đưa đi. Đến ngày an táng, lại nghỉ chầu một ngày. Cấp cho 10 người mộ phu.

Giặc trốn ở Kinh Bắc là Nguỵ tổng quản Thái họp đảng ở xã Cổ Biện, huyện Gia Lâm. Quan thành sai Phó vệ uý vệ Uy võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Lễ đem quân vây bắt. Giặc trổ ra. Lễ xông lên trận trước, bị trúng đạn chết. Cai đội Lê Văn Thi và Ngô Ngọc Kim cố sức đánh, chém được mấy đầu giặc, cướp được khí giới. Thái bèn chạy sang Sơn Tây, hợp đảng với nguỵ Thống lĩnh là Phan Hố. Quản phủ Vĩnh Tường là Trần Đình Dy, Vệ uý vệ Trung võ là Nguyễn Đức Niên, Phó vệ uý vệ Hùng võ là Phạm Văn Lượng, Quản cơ cơ Tả định là Hoàng Văn Truyền đều đem binh và voi đuổi đến xã Bồng Mạc, huyện An Lạc, đánh chém được tên Thái, bắt sống được tên Hố cùng bè đảng hơn 50 người. Việc tâu lên. Truy tặng Nguyễn Văn Lễ làm Vệ uý, cho 1 cây gấm Tống, lụa vải mỗi thứ đều 5 tấm và 30 lạng bạc, thưởng bọn Trần Đình Dy 6 người mỗi người 10 lạng bạc và quân công cấp kỷ theo thứ bậc khác nhau. Lại thưởng cho biền binh 300 quan tiền.

Triệu Phó đốc trấn Thanh Hoa là Phan Văn Thuý, Trấn thủ Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Soạn, Ký lục Quảng Nam là Trần Lợi Trinh, Cai bạ Quảng Trị là Nguyễn Cửu Khánh, Cai bạ Quảng Bình là Lương Tiến Tường vào yết kiến. Nhân sắc rằng từ nay đại quan các thành dinh trấn về Kinh chầu hầu, thì từ chức Tham hiệp trở lên cho dự những phiên đình nghị. Gặp khi làm việc thuộc về hạt mình mà cần phải lánh mặt thì cho phép lánh mặt.

Vua từng bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Bộ Lễ thì có điển lễ, bộ Hình thì có luật lệ, cần phải được người có học thức mới xứng đáng chức vụ. Nguyễn Khoa Minh viết chữ thì tốt nhưng ít học cho nên lâm sự nhiều việc không thông. Giá như những lúc việc công nhàn rỗi, chịu khó xem sách thì cũng tiến bộ, nhưng mà lười biếng đã quen”. Lại vời Lang trung Hình bộ là Nguyễn Công Duy bảo rằng : “Ngươi làm việc bên cạnh, trẫm đã biết qua. Bộ trưởng cho ngươi là cần cán, nên đề cử ngươi làm Tham hiệp. Vả Lê Bá Phẩm tuổi già hay quên, cần có ngươi giúp đỡ. Phàm bề tôi chỉ lo là vua không biết đến mình, nếu đã được biết thì nhất định sẽ được thăng tiến hiển vinh, sao lại chìm mãi ở chức Lang trung Thiêm sự !”.

Lấy cẩm thạch ở Quảng Nam.

Dời dựng Văn miếu trấn Phú Yên đến Xuân Sơn. Trấn thần thấy miếu cũ địa thế chật hẹp, gỗ ván đã mọt nát, xin dời về đây. Vua theo lời.

Định lệ đóng ấn của các nha. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Phàm dùng ấn tín là để đề phòng gian dối, ngăn cấm sự thay đổi. Xưa nay, bất luận quốc bảo hay ấn tín, phần nhiều đều đóng lên chữ năm nào. Nhưng theo lệ cũ của bản triều, ấn tín các nha môn đóng ra bên cạnh là ngụ ý tôn quân. Trẫm nghĩ quốc bảo đã đóng ở chữ năm nào thì ấn tín các nha môn lớn nhỏ cho phép được đóng lên chữ tháng nào, thế cũng đủ phân biệt tôn ty mà có thể phòng được cái tệ tẩy xoá”. Bèn sai đình thần bàn định điều lệ để ban hành (phàm ấn chương quan phòng và đồ ký do quan cấp thì đóng lên chữ tháng nào của niên hiệu. Như việc do hai ba nha hội bàn làm tập tâu thì cũng theo thứ bậc trên dưới của các nha mà đóng ở bên tả và bên hữu chữ tháng nào. Việc riêng văn ban hay riêng võ ban nghị tâu thì đóng ấn quan phòng và nơi ký tên ở cuối giấy, rồi dùng ấn công đồng mà đóng lên chữ tháng nào của niên hiệu, theo như lệ đình nghị.

Ngày Canh thân, ban đại yến cho hoàng tử, hoàng thân và văn võ từ Tam phẩm trở lên ở điện Cần Chính.

Trước là vua thấy lễ Thăng phối đã xong, muốn ban yến cho bầy tôi, bèn sai bộ Lễ đặt bài ca Bát dật, dạy nhạc công diễn tập. Đến ngày, vua ngự điện Cần Chính, hoàng thân Kiến An công Đài, hoàng trưởng tử và đại thần Nguyễn Đức Xuyên lần lượt dâng thọ. Múa bài Bát dật((1) Một điệu vũ nhạc thời phong kiến có tám hàng, mỗi hàng tám người, chỉ vua mới được dùng.1) ở sân (khi vua lên ngai, tấu bài nhạc Bảo thành, vũ sinh múa mộc và giáo. Dâng thọ lần thứ nhất, tấu bài Binh thành, múa bài Thanh hoa chi (cành hoa xanh). Dâng thọ lần thứ hai, tấu bài Doãn thành, múa bài Hồng hoa chi (cành hoa đỏ). Dâng thọ lần thứ ba, tấu bài Gia thành, múa bài Hoàng hoa chi (cành hoa vàng). Khi lễ xong thì tấu bài Khánh thành, múa bài Vũ thược (cầm lông chim và ống sáo). Lễ xong thưởng cho mọi người theo thứ bậc khác nhau (thưởng theo lệ, hoàng tử, hoàng thân 30 lạng bạc, quan Nhất phẩm 20 lạng, Tòng nhất phẩm 15 lạng, Nhị phẩm 10 lạng, Tòng nhị phẩm 8 lạng, Tam phẩm 7 lạng, Tòng tam phẩm 6 lạng. Thưởng thêm cho các hoàng tử, hoàng thân dự yến mỗi người 1 lạng vàng, các hoàng tử, hoàng thân đã dâng thọ 1 tấm nhiễu đỏ, 3 tấm sa màu và đại thần 1 tấm nhiễu đỏ, 2 tấm sa màu).

Ngày sau, ban yến cho quan tứ ngũ phẩm ở lầu Phú Văn (đặt phòng yến ở trong lầu ; thưởng quan Tứ phẩm 5 lạng bạc, Tòng tứ phẩm 4 lạng, Ngũ phẩm 3 lạng, Tòng ngũ phẩm 2 lạng). Diễn tuồng ở trước cửa lầu bảy ngày để thần dân cùng xem.

Ngày Nhâm tuất, vua ngự điện Thái Hoà, bầy tôi dâng biểu tạ.

Cải bổ hai đội Nội cần nhị và tam làm hai đội Tráng ngũ, Tráng lục trấn Bình Định (Binh số 2 đội cộng 87 người, mỗi người mỗi năm nộp 10 quan tiền miễn dịch, đến nay mới cải bổ cho lệ theo quân ngũ).

Truy xét công dẹp giặc ở nước Chân Lạp. Dụ rằng : “Trước đây tội thần((1) Người bề tôi có tội.1) Hoàng Công Lý phụng mệnh trấn thủ Gia Định, làm việc ngang trái để đến nỗi bọn nghịch nước Chân Lạp mưu nhòm ngó, giết chóc dân buôn và cất quân chống cự. Đến khi trẫm sai Lê Văn Duyệt vào trấn thủ, tuỳ cơ phân phái biền binh đi đánh bắt, không bao lâu mà bình định xong, báo tin thắng về triều. Tuy đã thi ân ban thưởng cho quân sĩ, nhưng nghĩ việc điều khiển chỉ huy là do mưu của người, triều đình nghị công thù lao há nên để sót. Vậy thưởng cho Lê Văn Duyệt gia một cấp quân công, những văn võ tòng chinh ai thực là có công lao thì cũng phải xét rõ đệ sách tâu lên để giao bộ nghị công”.

Sai bộ Lại tra xét Tri phủ tại chức lâu năm lấy 10 người đệ danh sách tâu lên để tuyên triệu về Kinh dẫn vào yết kiến.

Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên tâu rằng : “Lính ở các vệ cơ thuộc Tượng quân đều là lính mộ, có khi cha già con trẻ đồng thời ở trong hàng ngũ. Nay xin cho những người chưa đến 60 tuổi mà có thương tật hay đã 60 tuổi mà suy yếu thì ở Kinh do bộ Binh, ở ngoài do thượng ty xét thực thải ra, tạm miễn cho thuế thân và tạp dịch. Người nào 60 tuổi mà còn mạnh khoẻ thì vẫn cho lưu lại ngạch quân. Ghi làm lệ mãi mãi”. Vua theo lời.

Sửa miếu Triệu tổ((1) Miếu Nguyễn Kim.1).

Bắt đầu mở ân khoa thi Hội và định phép thi (trước hết đúc ấn Hội thí và dựng trường thi ở phía Nam trong kinh thành, chia làm nội trường, ngoại trường và hai vi giáp ất. Chiếu theo số người ứng thí mà dựng các nhà ở trong vi, có đánh số hiệu và treo thẻ tên. Những Hương cống các khoa trước và Hương cống triều Lê chưa ra làm quan đều cho được vào thi, do bộ Lễ làm danh sách đệ tâu. Các giám sinh đã sát hạch được dự thi thì do quan Quốc tử giám làm danh sách đệ tâu. Quan trường thì một Chánh chủ khảo, một Phó chủ khảo, tới khi sắp thi thì chọn không câu nệ phẩm trật cao thấp ; Tri cống cử 2 viên, dùng Tham tri sáu bộ, Đề điệu một chánh một phó, dùng Thiêm sự sáu bộ, đồng khảo 6 viên, dùng Hàn lâm tứ ngũ phẩm, giám di phong soạn hiệu((2) Coi việc rọc phách và biên số hiệu.2), giám đằng lục((3) Coi việc chép lại quyển thi.3), giám đốc học((4) Coi việc đọc soát lại quyển chép.4), mỗi chức đều một người, dùng Lang trung, Chủ sự sáu bộ ; chép quyển và viết bảng có 24 người, dùng Thư lại bát cửu phẩm ; Giám thí, Tuần sát 2 người, dùng Thị vệ nhị tam phẩm ; Giám thí nội liêm((5) Nội liêm : trường trong, nơi các đồng khảo chấm bài thi.5) và Tuần sát ngoại trường((6) Ngoại trường : trường ngoài, nơi các quan trường hội họp quyết định việc lấy đỗ.6) mỗi chức 4 người, dùng Phó vệ uý quân Thị trung và Thị nội. Đề thi kỳ thứ nhất năm đề kinh nghĩa, một đề truyện nghĩa ; kỳ thứ hai, chiếu chế biểu mỗi thứ đều một đề ; kỳ thứ ba một đề thơ ngũ ngôn cổ thể, một đề phú 8 vần ; kỳ thứ tư, một đề văn sách, về cổ văn hoặc 10 đoạn, về kim văn hoặc 3, 4 đoạn. Trong nhà thí viện đặt một cái án đỏ để những đầu bài vua ra. Những quyển văn viết mực của các cống sinh, giám sinh và những quyển son do thư lại chép ra, đều dùng giấy quan lệnh và in hồng cách((7) Hồng cách : đường kẻ đỏ ở trang giấy để viết chữ cho đều.7). Ngày vào trường, phía ngoài mỗi nhà thi có một võ sĩ đeo gươm đứng kiểm soát suốt ngày. Các cống sinh, giám sinh làm bài thi phải viết chân phương, không được viết thảo. Thu quyển thì cứ tối ngày là hết hạn. Các quan ngoại trường sau mỗi kỳ thu quyển thì lần lượt giao quyển thi cho các chức di phong soạn hiệu, đằng lục đối đọc. Xong rồi, quyển mực lưu lại ở thí viện, quyển son giao cho đồng khảo chấm. Mỗi quyển hai người hội chấm, chia làm bốn hạng ưu bình thứ liệt. Quan ngoại trường duyệt lại và định lấy hay dở. Số trúng trong ba kỳ đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đều đem tâu rồi yết bảng ở bên ngoài cửa Thể Nguyên. Đến kỳ đệ tứ thì dâng những quyển trúng để kính lấy số trúng cách, sau đó, làm danh sách đệ tâu và yết bảng ở lầu Phu Văn. Phàm sau khi yết bảng kỳ đệ tam, quan trường nào có anh em ruột hay con đẻ được trúng thì cho phép được lánh mặt [ở trường đệ tứ]. Quan trường và cống sinh, giám sinh nếu bị phát giác có sự tư thông hay nhờ cậy thì quan trường bị xử biếm chức hay bãi chức, cống giám sinh thì xử tội đồ. Những thư lại đằng lục đối đọc mà dụng tình thêm bớt hay thay đổi chữ hay câu cùng những người viết bảng, di phong soạn hiệu mà làm bậy, thì đều xử tội đồ. Những viên giám đằng lục đối đọc, giám di phong soạn hiệu, tuần sát ngoại trường, giám thí nội liêm mà làm bậy thì đều tuỳ nặng nhẹ mà luận tội.

Sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức sung Chủ khảo trường thi Hội, Hữu Tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới sung Phó chủ khảo, Thị trung Trực học sĩ Đinh Phiên và Tế tửu Quốc tử giám Vũ Xuân Biền sung Tri cống cử. Dụ rằng : “Khoa thi Hội này là khoa đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên rất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên bảo của trẫm”.

Khoa này, Hương cống, Giám sinh dự thí là 164 người. Các kỳ đệ nhất, đệ nhị, đệ tam đều do vua ra đề (khi ngự đề ban ra thì kỳ đài kéo cờ đỏ và bắn ra tiếng ống lệnh), kỳ đệ tứ thì vua sai quan trường ra đề. Kết quả lấy 5 quyển trúng cách dâng lên. Vua hiềm là ít, bảo rằng : “Hoàng khảo xưa chưa mở thi Hội, thực là vì trải qua loạn ly, học trò thất học, phải chờ khi giáo dục thành tài. Nay nước nhà đào tạo nhân tài đã lâu mà khoa thi chỉ trăm người lấy trúng được mười, mười người lấy trúng được một, dự tuyển chỉ được có thế thì sao xứng với ý tốt của trẫm kén chọn nhân tài”. Bèn sai lấy thêm. Thế rồi lấy trúng cách 8 người là : Hà Quyền, Trần Lê Hiệu, Nguyễn ý, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt.

Giáng bổ Nguyễn Văn Hưng làm Phó vệ uý quân Thần sách. Hưng trước lấy chức Thống chế lĩnh Trấn thủ Quảng Ngãi, hai lần bọn ác man tràn xuống các bảo ở biên giới bắt phụ nữ, giết quân lính, mà Hưng không kịp tâu ngay. Bộ Hình nghị xin giáng Hưng chức hàm Tam phẩm, nên bổ chức này. Viên đồng sự là Ký lục Nguyễn Viết Cơ bị xử phạt, lưu lại Kinh chờ bổ.

Lê Duy Thanh có tội bị cách chức. Thanh trước làm Hiệp trấn Sơn Nam thượng, vì tham nhũng, việc phát giác, giao cho tào Hình ở thành xét hỏi. Người nhà Thanh cùng ty thuộc ở trấn đều đã thú nhận, mà Thanh thì đã phải giải về Kinh trước. Lê Chất đem tội trạng tâu lên. Vua hạ lệnh cất chức, giao xuống bộ Hình xét trị. Khi thành án, phát phối đi Quảng Bình làm việc chuộc tội.

Vua từng nói chuyện với Nguyễn Hữu Thận về vấn đề bằng đảng ở nước Đại Thanh, nhân nói rằng : “Khi trẫm còn ở Tiềm để, triều thần ít người được yết kiến, duy có Lê Duy Thanh vì phụng mệnh đi xem đất sơn lăng, nên trẫm thường vời đến. Hoặc có kẻ cho là trẫm hậu với hắn thì chắc hắn cũng có tài gì nên mới được trẫm để ý. Khi trẫm mới nối ngôi thì bổ hắn ra làm quan ngoài là muốn thử xem có trị dân được không, chứ không phải là coi rẻ, kẻ không biết lại cho là trẫm dùng người có ý phân biệt kẻ Nam, người Bắc. Nhưng Nam - Bắc vốn là một nhà, ai chẳng là tôi con, trẫm đâu có kỳ thị. Kìa như nhà Đại Thanh dùng người không có phân biệt người Hán, người Mãn, huống Nam hà với Bắc hà, cùng ngôn ngữ, cùng văn tự, không ví như người Hán, người Mãn được”.

Đặt năm vệ Hộ vệ ở phủ các hoàng tử, tước công mỗi vệ 10 đội, mỗi đội 50 người. Vệ đặt một Phó vệ uý (trật Tòng tam phẩm) để coi công việc vệ, không thuộc quyền quản thúc của hoàng tử ; đội đặt một Cai đội hoặc Phó đội hoặc Chánh đội trưởng suất đội (phẩm trật cũng như các quân khác), lệ theo hoàng tử sai khiến. Lại hoàng tử đã ra Các đọc sách thì cho phép lập 15 người văn hàn để hầu bút nghiên.

Dồn các vệ đội Trinh võ, Thị trà, Bả cái và số văn hàn thừa làm hai vệ Trung hộ và Tiền hộ, nếu thiếu thì mộ thêm.

Chuẩn định từ nay những hồ sơ các vụ án ở Kinh và ở ngoài đều do bộ Hình xét nghĩ rồi tâu, duy có những án quan trọng giao xuống đình nghị thì do đình thần (lệ trước, bộ Hình xét nghị xong lại đệ cho đình thần) bàn lại. án nào nên bác phải xét rõ tình lý, đề tâu rành mạch để chờ chỉ.

Giảm một nửa thuế năm nay cho các dân Nùng, Mán ở các trấn Bắc Thành.

Dụ rằng : “Trẫm thương nuôi nhân dân, chỉ sợ có người còn sót. Dịp ban ơn trong cuộc Bắc tuần mùa đông năm ngoái, đã xuống chỉ tha trước 5 phần 10 thuế thân năm nay cho 11 trấn Bắc Thành. Song nghĩ những người Nùng, người Mán, người Hoa kiều, những phụ đạo [người Tày] và những người Nùng Lục Khu Lũng làm thuê, nguyên không có thuế thân để giảm, thì những người dân mọn ở nơi biên giới ấy còn tủi thân chưa được thấm nhuần ơn trạch. Vậy số bạc thuế tiền thuế đánh theo số người số bếp, số nhà năm nay đều cho giảm 5 phần 10, khiến những kẻ cùng dân hẻo lánh cũng đều được thấm ơn, để xứng với ý nhất thị đồng nhân của trẫm”.

Thành thần nhân tâu xin truy xá cả số thuế năm đầu [Minh Mệnh]. Vua nói : “Ân chiếu năm đầu đã nói rõ là xá thuế thân cho dân thực nạp((1) Thực nạp : thuế thân của dân nội tịch.1). Bọn nó quanh năm không phải sai dịch gì, chỉ phải nộp bạc tiền không thể ví với thuế thân, tiền đầu quan và tiền cước được, sao lại viện lệ xin miễn !” Không cho.

Bọn Cai đội Trần Hưng Chính, Trần Hưng Mỹ tâu xin mũ áo. Vua phê bảo rằng : “Bọn ngươi nếu hay kiềm chế thân tâm, không phạm lầm lỗi, thì chậm vài năm nữa sẽ ban cho phẩm cao lộc hậu, chẳng những một việc này”. Khiến chiếu theo phẩm trật mà sắm lấy.

Sai Bình Định mộ thêm đội Thái Hương [lấy hương], (mỗi đội 50 người).

Đặt thêm hai bảo của sáu cơ Kiên ở Quảng Ngãi (bảo cũ 115 người, mỗi bảo có 10 người lính thú). Đổi bổ chức Cai lân của 27 lân làm Chánh bát phẩm bách bộ, Phó lân làm Chánh cửu phẩm bách bộ, mỗi năm 4 kỳ bắt một nửa dân đi thao diễn.

Đổi ty Phương the ở thành Gia Định làm hộ Nam trừu (mỗi người mỗi năm nộp 15 thước trừu hoa nam khổ 7 tấc). Lai sai Bình Hoà mộ người lập hộ Nam trừu (mỗi người mỗi năm nộp 30 thước trừu hoa nam khổ 7 tấc), miễn cho thuế thân. Chuẩn định từ nay chức võ quan ở Kinh và ở ngoài có khuyết mà đề xin thăng bổ và những việc thuộc về binh chính thì những biểu văn đều do bộ Binh tâu lên. Ghi làm lệnh mãi mãi.

Định cách thưởng về việc sai phái giám thành (chia ra hai hạng khó và dễ : Sai đi nơi xa hoặc miền rừng núi, công việc hơi khó khăn là hạng nhất ; đi địa phương cận tiện, vùng đồng ruộng bằng phẳng, công việc hơi dễ là hạng nhì. Giám thành phó sứ được phái vào công việc hạng nhất thì mỗi tháng được cấp 10 quan tiền 10 phương gạo, vào hạng nhì thì cấp 8 quan tiền 8 phương gạo. Nhân viên am hiểu việc đo đạc, hoạ đồ và chỉ vạch quy thức thì hạng nhất được cấp 7 quan tiền 7 phương gạo, hạng nhì được cấp 6 quan tiền 6 phương gạo. Người theo đi giúp việc đo đạc thì hạng nhất 5 quan tiền 5 phương gạo, hạng nhì 4 quan tiền 4 phương gạo. Đều chiếu bổng hằng tháng mà cấp thêm như số).

Thự Tiền quân Trần Văn Năng dâng sớ cử Thư ký Lê Văn Liêm làm Tri phủ Ninh Giang. Khi dẫn vào bệ kiến, vua xét hỏi, Liêm đáp là ít học. Vua nói : “Chức Tri phủ giữ chính lệnh trong một phủ, không học thì không rõ luật lệ, lỡ khi xử đoán sai lầm thì pháp luật khó dung, như thế là làm hại chứ không phải là yêu”. Không cho. Nhân bảo các quan rằng : “Trong việc thăng bổ, trẫm muốn biết người thế nào nên sai dẫn yết kiến, nhưng như thế cũng chỉ là biết được một đôi phần mà thôi, còn suốt đời hay hay dở cũng chưa thể biết đúng được. Vả lại việc tiến dẫn nhân tài trẫm đã lấy triều đình làm tai mắt, há lại không tin sao ! Nếu việc gì trẫm cũng tự xét lấy mới là rõ ràng thì bề bộn lắm”.

Hạ lệnh từ dinh trực lệ Quảng Bình cho đến thành Gia Định từ nay có bổ Tri huyện thì chiếu văn phải thêm những chữ “Thôi đốc các việc lương tiền”. Ghi làm lệ mãi mãi. Còn những Tri huyện hiện tại chức thì cho cấp văn bằng công đồng để tuân theo mà phụng hành.

Định giá nhà nước mua diêm tiêu ở Bắc Thành (mỗi 100 cân diêm tiêu trị giá 29 quan, mỗi năm hạn mua 40.000 cân).

Thống lĩnh thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Thái bị kẻ cướp bắn chết. Vua được tin lấy làm thương, cho tuất 100 lạng bạc và 20 tấm lụa.

Chuẩn định từ nay, phàm các quan viên văn võ có tội bị giáng cấp, nếu có cấp thì giáng trừ đi, nếu không có cấp thì chiếu phẩm mà giáng trừ (như Chánh nhất phẩm gặp giáng một cấp mà không có cấp để trừ thì giáng làm Tòng nhất phẩm để trừ đi một cấp. Ngoài ra lấy đó mà suy). Những viên văn võ vị nhập lưu chưa có phẩm cấp mà gặp việc phải xử phân thì cứ chiếu luật xét nghĩ. Ghi làm lệnh.

Tháng 3 nhuận, sắc rằng từ nay gặp tháng nhuận thì những kỳ đại triều thường triều đều miễn. Ghi làm lệ mãi mãi.

Sai thuỷ quân chở 80.000 quan tiền ở kho Kinh đến Bình Định.

Trấn Bình Định, đầu mùa xuân lâu không mưa, lúa ruộng thiệt hại nhiều, đến nay trấn thần mới tâu báo thiên tai. Vua dụ rằng : “Thiên tai như lụt, hạn phải tâu báo trước, sao lại coi thường như vậy. Trẫm ngày đêm lo lắng, mong cho nhân dân khỏi khổ, há lại vì kẻ chăn dân hèn kém làm việc chậm trễ sai lầm mà thiếu ơn săn sóc thương xót của trẫm sao” ! Bèn hạ lệnh cho bộ Hộ xét tai nặng thì giảm cho 6 phần 10 thuế ruộng năm nay, tai nhẹ thì giảm 5 phần 10. Trấn thần Trương Phước Đặng và Nguyễn Văn Thục đều giáng 2 cấp lưu dùng. Thục không có cấp để trừ, nên giáng làm Công bộ Thiêm sự, hàm Chánh tứ phẩm, vẫn lưu làm việc trấn.

Nguyễn Cư Tuấn trước làm Cai bạ Quảng Trị, nhân có việc sách nhiễu hối lộ đến hơn 900 quan tiền, đến nay thành án, đáng xử tử. Vua cho là phạm tội trước khi có lệnh ân xá, gia ân miễn cho tội chết, xử tội lưu và chuẩn đổi làm đồ 6 năm, truy một nửa tang trả cho dân. Con Cư Tuấn là Cư Sĩ 14 tuổi xin thay hành dịch cho cha. Vua ngờ là có sự xúi bảo, sai nó đọc trầm tờ trạng, nó đọc không sai chữ nào. Bèn cho thay. Thế rồi lại cho người dò xét mấy lần, đều thấy Cư Sĩ đeo xiềng xích, không có vẻ hối hận gì cả. Vua khen, xuống chiếu dụ rằng : “Cư Tuấn là con công thần Nguyễn Cư Trinh, tuy Tuấn làm mất thanh danh gia đình, nhưng Cư Trinh thực có cháu xứng đáng. Trẫm nghĩ đến kẻ công thần và thương người con hiếu, vậy tha tội cho”.

Bỏ bớt viên chức thừa ở các phủ từ Quảng Bình về Nam. Dụ rằng : “Tri châu tri huyện là những chức như thú lệnh đời xưa, giữ quyền cai trị hàng trăm dặm, các việc dân chính đều là công việc chức phận. Gần đây, những viên châu huyện từ Quảng Bình về Nam chỉ chuyên việc xét xử kiện tụng, còn các việc lương tiền tổ chức và nhất thiết các việc sai dịch thì lệ vào các phân ty của bản phủ, như thế thì lệnh ra lắm cửa, không phân biệt kẻ trên người dưới, làm cho dân không biết mà theo. Trẫm từ khi lên ngôi, lo tìm phương pháp tốt chính sách hay về việc trị dân để lần lượt cử hành, nên đã xuống dụ sai các viên châu huyện phải đôn đốc việc lương tiền, trông coi việc sai dịch, để cho công việc nuôi dân đốc thuế quy về một nơi. Vậy các chức bản phủ cai huyện, ký huyện, cai thuộc, ký thuộc, phó tổng đều bãi hết ; các tổng thuộc chỉ đặt mỗi tổng một viên cai tổng để theo châu huyện sai phái. Làm lệ mãi mãi”.

Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất dâng biểu xin về Kinh chầu hầu. Vua dụ rằng : “Bắc Thành gần đây các địa phương chưa được yên tĩnh ; huống ngày nay việc dân chính thi hành đều là mới mẻ, nhân tình chưa hết nghi ngờ, cần phải có trọng thần huân vọng hết lòng thành thực công bằng đối với dân thì mới có thể yên ổn được. Khanh nên giúp trẫm đương trọng trách ấy, đợi có người thay thế sẽ triệu khanh về”. Vua lại được tin mẹ Chất ốm, cho con Chất là Lê Hậu đi trạm về thăm.

Chuẩn định những danh sách việc hình cuối năm của các thành dinh trấn, hạn đến trung tuần tháng hai năm sau đã phải đệ đến bộ Hình để bộ hợp thành tập tâu lên, làm trái thì tham hặc. Ghi làm lệnh. Lại sắc cho bộ Hình từ nay phàm gặp ngày cảnh mệnh((1) Ngày ngọ : trước kia gặp ngày này thì không làm việc án.1) đều cho được tâu việc án.

Rừng rú Thiên Quan (đạo) Thanh Bình lắm trộm cướp. Quản phủ Lê Tự mộ được hơn 60 người dân ngoại tịch, xin biên làm một đội, chia phiên và cấp lương để cho theo việc bắt trộm cướp. Trấn thần Thanh Hoa đem việc tâu lên. Vua y cho.

Dân Man cao ở nguồn Ô Da thuộc Quảng Nam ngầm giết dân Hán [Việt]. Dinh thần tâu lên. Vua dụ rằng : “Dân Dao Đồng((2) Người Dao, người Đồng : tức là người Mán.2) ở hạt ngươi chưa từng phản đối bao giờ, không như bọn ác man hung dữ ở Quảng Ngãi. Trước đây họ có giết người Hán thì xuống chỉ khiến phải đề phòng. Nay kẻ ác man lại dám làm như vậy thì bọn ngươi còn có thể gọi là xứng chức được chăng ? Nay nên lo trừng trị những kẻ ngoan ngạnh hung ác, rồi trù tính cách xếp đặt cho tốt về sau. Nếu còn cứ cẩu thả tắc trách, không chịu thi thố việc gì, tất giao cho bộ nghiêm xét không tha”. Dinh thần bèn họp bọn người Man đã quy thuận chịu thuế, sai họ hội ước với bọn người Man trung, tìm kế dụ bắt được bọn ác man là Đinh Chiết, Đinh Bốc đem giết. Sai phát 100 quan tiền kho, mua nhiều trâu rượu cá muối để hậu đãi mà khuyến khích họ.

Trấn thần Bình Thuận tâu nói hai con đường quan lộ Ma Ly, Phù My trong là khe ngoài là biển, xin bắt 300 dân trong hạt sửa cầu cống và đắp đường mới để tiện quan quân đi lại. Vua sai chi tiền gạo để cấp.

Chuẩn định từ nay những người được cấp cáo thân mà không phải là phẩm trật chức quan, như loại nhiêu ấm, nhiêu thân, thì chỉ cấp cho văn bằng của đình thần, không nên cấp chiếu sắc. Ghi làm lệ.

Tù phạm trấn Thanh Hoa (29 đứa) phá ngục. Biền binh thuộc trấn đuổi bắt giết, có người bị thương và chết. Trấn thần đem việc tâu lên. Vua dụ rằng : “Tù phạm nhiều như thế mà không chịu đề phòng trước, để đến nỗi chúng hành hung phá ngục, thì chức trách các ngươi để đâu. Nếu không làm tội những hạng quan hèn kém này thì sao tỏ bày pháp luật với thiên hạ được”. Bèn sai Cai đội Cẩm y là Hồ Văn Khuê và Chủ sự Hình bộ là Trương Văn Loan kịp đến tuyên chỉ rằng Đốc trấn Nguyễn Văn Ngoan, Hiệp trấn Hoàng Văn Diễn, Tham hiệp Hoàng Quốc Bảo đều bị lột mũ áo chờ xét. Những biền binh bị thương vong đều cấp cho bạc lạng. Kẻ nào xông đi trước đuổi bắt giết được tù phạm, sau khi xét rõ đều được thưởng. Phó đốc trấn Phan Văn Thuý đương chầu ở Kinh, vua đòi vào quở. Thuý dập đầu tạ tội. Sai trở về trấn ngay.

Lấy Tả Tham tri Lễ bộ hành Hiệp trấn Sơn Nam hạ là Bùi Đức Mân hành chức Hiệp trấn Thanh Hoa, Hiệp trấn Hưng Hoá là Trần Chính Đức làm Hiệp trấn Hưng Hoá, cựu Ký lục Quảng Ngãi là Nguyễn Viết Cơ hành chức Tham hiệp Lạng Sơn.

Vua ra cửa biển Thuận An. Định kỷ luật tuần tra dưới nước trên cạn cho các quân. Phàm vua đi tuần đến địa phương nào mà nghỉ chân lại thì ban ngày biền binh thuỷ bộ đều chia làm hai ban, một ban ứng trực, một ban nghỉ ngơi, thay đổi lẫn nhau. Khi đương trực mà quản quân không chịu lưu tâm tuần xét, để quân lính bỏ ban, xét ra thì trị tội nặng. Ban đêm thì đóng đại dinh ở trên bờ, chiếu lệ vây màn và đặt thành lưới. Lính vệ Cẩm y chia sắp hàng phía trong thành lưới, lính Thị trung Thị nội chia sắp hàng ở ngoài. Binh Thần sách thì chia làm bốn mặt, tuỳ theo địa thế rộng hẹp mà tuần tra trong ngoài trong vòng hơn một dặm. Dưới nước thì lấy thuyền Cẩm y sắp hàng ở phía ngoài, thuyền thuỷ binh sắp hàng ở phía trong, các thuyền rồng lanh nhẹ đều phòng vệ ở phía trước, phía sau thuyền ngự. Dưới nước thì lúc bắt đầu trống canh một, ở trên bộ thì lúc bắt đầu trống canh hai, ai không có bài mệnh vua thì không được đi qua địa phận canh phòng, làm trái thì lập tức bắt tâu lên. Biền binh canh phòng mà tư tình cố ý dung túng thì chiếu luật nghiêm xử. Các viên chưởng lãnh cũng phải luôn luôn đốc sức, nếu trễ nhác lười biếng thì theo tội nịch chức((1) Nịch chức : làm việc không hết chức vụ.1) nghĩ xử. Sắc từ nay phàm vua đi tuần trong kinh kỳ thì chiếu theo lệ ấy mà làm ; đi ở ngoài kinh kỳ thì tuân theo kỷ luật Bắc tuần.

Dời đắp thành trấn Sơn Tây.

Thành cũ ở xã Cam Giá (thuộc huyện Phước Lộc) bị sông lở. Ngày vua đi Bắc tuần, đã sai giám thành đi ngắm địa thế và cho dời đến hai xã Mai Trai và Thuần Nghệ (thuộc huyện Phước Lộc). Đến nay lấy 2.000 người các quân ở Bắc thành, uỷ cho Phó thống thập cơ Tả quân là Vũ Văn Thân trông coi công việc. Thành xong, thưởng cho các giám ty và chuyên biện mỗi người 5 tháng tiền bổng và một thứ kỷ lục.

Lấy Thị trung Trực học sĩ Đinh Phiên kiêm chức Thái thường Tự khanh, tham bồi công việc bộ Lễ.

Chuẩn định từ nay những sách tâu của sáu bộ, từ Lang trung trở lên đều phải ký tên, gọi là “hoa áp”.

Sai Chưởng cơ Thuỷ quân Tống Phước Lương trông coi việc chở sản vật ở Bắc Thành về Kinh. Sắc rằng từ nay biền binh chở của công ở Kinh phái đi các địa phương và chở những sản vật các địa phương về Kinh mà cả hai chuyến đi về đều có chở thì cấp thêm cho tiền gạo bằng một tháng lương ; nếu chỉ chở một chuyến thì cấp một nửa.

Nghệ An có động đất. Trấn thần báo cho bộ Lễ.

Vua nghe tin nói : “Địa phương có điều lạ, nên kịp tâu ngay để trẫm biết mà sợ hãi tu tỉnh, sao lại giấu giếm không nói ?”. Bèn sắc cho bộ tư về trấn bảo phải làm sớ tâu lên.

Trấn thần Bình Thuận tâu rằng số muối chứa ở kho đã nhiều, xin từ năm nay về sau cho dân được nộp thay thuế muối bằng tiền cho tiện. Vua y cho. Dụ cho các dinh trấn Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Hoà cũng theo lệ ấy cho nộp thay (một phương muối nộp thay bằng 2 tiền 30 đồng).

ở Gia Định lại phát bệnh dịch. Hạ lệnh hoãn các công dịch để cho dân nghỉ ngơi.

Định rõ điều lệ về cấp kỷ.

Vua cho rằng lệ cấp kỷ do Trịnh Hoài Đức bàn năm trước có chỗ chưa được rõ ràng, hạ lệnh cho đình thần bàn kỹ lại, rồi chuẩn định rằng phàm quan viên đáng được gia cấp về quân công, nghị tự, ân thưởng thì được ban chiếu sắc, được kỷ lục thì cấp văn bằng của triều đình. Như có thăng bổ thì quân công và cấp kỷ đều ghi theo, nghị tự thì tâu rõ để đợi chỉ, ân thưởng thì một cấp tính trả cho một lần kỷ lục, được bao nhiêu kỷ lục thì trừ hết đi. Còn các khoản khác thì vẫn theo nghị trước. Đến như các quan viên văn võ trong ngoài đã được gia cấp về ân thưởng và quân công từ năm Minh Mệnh thứ 1 mà nay đã thăng thụ rồi, thì đều cho cấp chiếu sắc cả.

Lấy Cai đội Cẩm y là Vũ Văn Từ làm Phó vệ uý vệ Dương võ quân Thần sách.

Vét đường lạch cửa Tư Dung. Sai Phó đô thống chế Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Trí trông coi 1.000 người các quân làm việc. Dụ rằng : “Nhà nước ta mở mang bờ cõi miền Nam, cho đến khôi phục Thần kinh, đều là do đường cảng ấy. Từ khi lạch cũ bị lấp và thành lạch mới cạn hẹp quanh co, ra vào rất khó. Nay lại theo lối cũ mà khai vét, vì nghĩ có phí tổn tạm thời mà được yên mãi, để lợi vô cùng cho nghìn muôn đời”. Lại sai bộ Lễ mang sắc đến dụ thần cửa biển Tư Dung và sắm lễ để tế.

Vua thấy thợ và sai dịch ở Nội vụ và Vũ Khố bớt xén của công, muốn trừ bỏ tệ ấy, mới bảo Nguyễn Hữu Thận rằng : “Trẫm nghĩ cách phòng gian không có phép nào hay hơn cả, chỉ dùng được người trông coi là được”. Lại bảo Trần Đăng Nghi và Hồ Hữu Thẩm rằng : “Trách nhiệm bọn ngươi là ở việc trông coi, phải cẩn thận đối với chức vụ, thường gia tâm kiểm xét để trừ cái thói sâu mọt đục khoét. Phàm chó thì giữ đêm, gà thì gáy sớm, há người lại không bằng vật sao !”.

Đặt 20 người từ phu cho Hà Hoa quận công, sai Trần Hưng Khanh mộ người sung vào.

ở Cao Bằng và Lạng Sơn giá gạo đắt, hạ lệnh hoãn thuế vụ hạ cho dân.

Chuẩn định lính mộ của các vệ đội ở Kinh, hạn mỗi vệ là 10 đội, mỗi đội là 50 người ; thừa thì cứ để như cũ, thiếu thì mộ thêm.

Chế bản nhạc tế ngũ hưởng ở các miếu (rước thần thì tấu bài Hàm hoà ; tuần rượu đầu [sơ hiến] tấu bài Thọ hoà (sau đổi làm Tường hoà) ; tuần rượu thứ hai [á hiến] tấu bài Dự hoà ; tuần rượu sau cùng [chung hiến] tấu bài Ninh hoà ; từ tạ thần thì tấu bài An hoà ; lễ xong thì tấu bài Ung hoà). Trước kia năm lễ tế hưởng và hai tiết Nguyên đán, Đoan dương thì tối hôm trước dùng nữ nhạc tiểu hầu. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Đội tiểu hầu hát xướng hình như trò đùa. Nay nhà nước nhàn hạ, chính phải sửa sang văn vật thêm lên. Vậy nên bàn chế các bản nhạc, khiến nhạc công hát để trở lại chính lễ. Duy điện Hoàng Nhân thì vẫn dùng nữ nhạc, cũng là ý theo cũ đấy”.

Cai bạ Bình Thuận là Nguyễn Văn Khiêm, trước đây làm bản sách tâu về việc cấp tuất cho người chết dịch, số người và số tiền không phù hợp, giao xuống bộ Hình nghị xử, phải cách chức.

Lấy Cai đội vệ Nội hầu là Tôn Thất Bằng làm Quản phủ Hà Trung.

Chuẩn cho các đội trưởng suất thập thực thụ ở các đội Trường trực, Thường trực vệ Cẩm y mà chưa có lệ bổng được chiếu phẩm mà chi bổng.

chính biên

Đệ nhị kỷ - Quyển XV

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, tế hạ hưởng.

Vua thấy nhạc mới hát lên đúng nhịp, thưởng sa và bạc cho nhạc sinh và ty viên bộ Lễ theo thứ bậc khác nhau. Lại sắc cho bộ Lễ từ nay hễ gặp lễ Giao Miếu và các lễ đại triều thường triều, thì hoàng tử, hoàng thân các quan văn võ, đều phải chầu lạy như lệ. Ai có việc thì ngày hôm trước báo cho bộ biết, nếu bỏ thiếu thì bộ Lễ tham hặc tâu lên.

Sai bộ Binh sửa lại sổ binh. (Phàm dinh vệ cơ đội các quân ở trong và ở ngoài, trước gọi các hiệu Trung bá, Tài bá, Uy bá, Hùng sơn, đều đổi làm binh mỗ, họ mỗ, tên mỗ. Cai hợp, thủ hợp thực thụ thì vẫn để chức hàm ; người quyền sai thì đổi cấp cho văn bằng của bộ, mỗi đội 1 người làm thư lại vị nhập lưu, thừa ra đều ghi làm binh. Quyền sai và thư hộp các cục tượng bách công đều ghi làm thợ. Văn hàn ở Chiêm hậu lại ty, Lệnh sử tàu, Chiêm hậu ở tả hữu thừa ty các địa phương, trước gọi là đô văn, đều đổi làm thư lại vị nhập lưu).

Làm lại chùa Thiên Tôn. Chùa ở xã Đâu Kinh dinh Quảng Trị, do Thái tông Hiếu triết hoàng đế((1) Thái tông Hiếu triết hoàng đế : Nguyễn Phước Tần.1) dựng lên. Trải qua loạn lạc chùa bị bỏ. Năm ngoái Bắc tuần, dân sở tại đem việc ấy tâu lên. Vua nhớ di tích xưa, sai dinh thần sửa chữa, bắt 100 thợ rừng lấy gỗ, cấp cho 300 quan tiền, 100 phương gạo, và tha thuế đinh điền một năm cho xã Đâu Kinh để sung làm việc ấy.

Đổi đội Điền liệp làm Liệp hộ, hộ 30 người, mộ dân ngoại tịch ở các dinh

trấn sung vào. Lại sai từ Quảng Nam trở vào đến Hà Tiên, Quảng Trị trở ra đến Thanh Bình, đều mộ người lập liệp hộ, mỗi hộ 50 người (mỗi người, mỗi năm nộp thuế ngà voi 15 cân ; như cả hộ mà thiếu 10 cân trở xuống thì mới cho tính giá nộp thay mỗi cân 8 tiền). Thuế thân và dao dịch đều miễn. Ai mộ được 30 người trở lên thì cho làm hộ trưởng (trật Tòng cửu phẩm).

Bắt đầu đúc tiền đồng lớn (nặng 1 đồng cân trở xuống, 9 phân 1 ly trở lên). Định phép chế lẫn đồng kẽm thiếc (phàm đúc tiền đồng lớn, cứ mỗi 100 cân dùng khối đồng đỏ 52 cân 4 lạng, kẽm 47 cân 8 lạng, thiếc 4 lạng. Đúc hạng tiền đồng 6 phân thì cứ mỗi 100 cân dùng tiền đồng nguỵ hiệu 52 cân, khối đồng đỏ 27 cân, kẽm 20 cân 14 lạng, thiếc 2 lạng).

Đúc súng đồng hạng trung hạng tiểu ở Vũ Khố. Sai thuộc ty của Văn thư phòng, hai bộ Hộ, Công và Vũ Khố kiểm xem. Nhân sắc từ nay về sau khi chế tạo đồ dùng bằng vàng bạc thì bộ Hộ, Văn thư phòng, Nội vụ và Vũ Khố đều phái nhân viên đến cân nghiệm, biên vào sổ chi tiêu tâu lên.

Sai bộ Lễ truyền dụ rằng Hương cống các khoa mà thi Hội không trúng cách, như có tình nguyện ở Giám học tập thì bổ làm Giám sinh, cấp cho lương lẫm ; ai muốn về quê hương cũng cho. Người nào chưa dự thi Hội thì do bộ tư đòi mùa thu này đến Kinh xét hạch, đúng thực thì vẫn tuân dụ chỉ cho theo sở nguyện. Sau đó xin toạ giám 27 người, cấp cho lương tháng (mỗi tháng 3 quan tiền, 2 phương gạo, 5 cân dầu). Dụ rằng : “Đó là ý trẫm săn sóc văn học, cốt cầu người thực dụng. Tế tửu, Tư nghiệp phải hết trách nhiệm làm thầy, hết lòng dạy bảo. Giám sinh các ngươi cũng phải dùi mài để được nên công, ngõ hầu không phụ ý tốt chấn hưng [văn học], gây dựng [nhân tài] của trẫm”.

Lấy thự Thư ký Quảng Trị là Vũ Tiến Huân làm Tham hiệp Sơn Nam thượng, Thiêm sự Hộ bộ là Bùi Phổ thự Ký lục Quảng Trị.

Lấy Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Ngô Tiến Đức làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất.

Triệu Phó trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Vĩnh vào yết kiến.

Chuẩn định từ nay bang thuyền hải vận ở Kinh hay ở ngoài, đi lại được bình yên thì quan sở tại mỗi năm một lần sửa lễ thái lao [trâu], và có đủ ca nhạc, để tế hai đền Thai Dương và Thuận An ở Quảng Đức và đền thần Liêu Lác ở Sơn Nam hạ. Ghi làm lệ mãi mãi.

Trấn Phú Yên, quan mua 5.000 cân sa nhân, lấy một chiếc thuyền lớn của thuỷ quân chở về Kinh nộp. Vua xem bản tâu, quở rằng : “Dùng thuyền lớn mà chỉ tải có thế, há hạt ngươi không có vật gì khác để giải nộp sao ? Vả lại đường biển vận tải khó nhọc, phải đợi mùa gió, thế mà lần này chở chưa xong lần sau lại chở, biền binh đã khổ về lặn lội, mà sóng gió ngoài biển đã chắc chắn đâu là không phải lo ! Sao lại khinh suất làm bậy như thế ! Huống chi trong sách tâu chữ “tấu” đài ở hàng thứ hai, mà chữ “công đồng” lại đài ở hàng thứ nhất, thế là lòng lại cho đình thần làm tôn à ? Điều đó không thể ví với sai lầm ở tờ di văn tầm thường được. Đều là bởi bọn ngươi lâm sự không quan tâm gì. Một việc như thế thì việc khác có thể biết được. Nếu không xử trị thì lấy gì mà răn bảo”. Bèn sai vệ Cẩm y mang bài vương mệnh kíp đi truyền chỉ đánh Trấn thủ Nguyễn Văn Tài 40 roi ; Ký lục Nguyễn Bá Uông thì bắt giải chức về Kinh giáng làm Thiêm sự Công bộ.

Nguyễn Văn Tài sau lại bắt hai chiếc thuyền của dân chở sản vật đến Kinh. Vua nói : “Khi trước mà chở cả vào thuyền công thì nhanh tiện biết chừng nào ? Sao đến nỗi lại phái thuyền tư !”. Hạ lệnh bắt thu 60 quan tiền công thuê cấp cho dân.

Lấy Ký lục Quảng Bình là Lê Văn Quảng làm Ký lục Phú Yên.

Tha thuế thân năm nay cho thợ những cuộc ở Vũ Khố và Nội vụ phủ (Nội vụ 387 người, Vũ Khố 3.466 người).

Định phép thi Điện (đúc ấn “Điện thí chi ấn”, và triện vuông nhỏ “Luân tài thịnh điển” đều bằng bạc. Một giám thí đại thần, dùng quan võ Chánh nhị phẩm trở lên, 4 quan độc quyển, 1 quan truyền lô, dùng quan văn Tam phẩm trở lên ; các quan thụ [nhận] quyển, di phong, thu chưởng [giữ quyển], ấn quyển [đóng dấu], điền bảng [viết bảng], đều 1 viên, dùng quan văn Tứ ngũ phẩm ; kinh dẫn cống sĩ 1 viên, dùng ty viên bộ Lễ ; chia cấp quyển thi kiêm biên chép 4 viên, dùng hành tẩu Văn thư phòng ; quan tuần la kiêm hộ bảng 4 viên, dùng quản vệ quân Thị trung Thị nội ; quan tuần sát 8 viên, dùng cai đội quân Thị trung Thị nội. Các chức ấy đều do hai bộ Lại, Binh làm sách tâu trước kỳ thi để đợi phê điểm. Quyển thi của Cống sĩ thì dùng giấy quan lệnh, kẻ đỏ. Đến ngày thi Điện, vua ra đề văn sách, hoặc cổ văn 10 đoạn, hoặc kim văn 5, 6 đoạn. Cống sĩ mang mũ áo, làm bài ở bàn thi và tả hữu vu, lấy chiều hôm làm hạn. Quan độc quyển hội duyệt rồi dâng vua xem để định đoạt giáp đệ thứ tự như : đệ nhất giáp đệ nhất danh, đệ nhị danh, đệ tam danh, đều cho tiến sĩ cập đệ ; đệ nhị giáp có bao nhiêu tên, đều cho tiến sĩ xuất thân ; đệ tam giáp bao nhiêu tên đều cho đồng tiến sĩ xuất thân, ban cấp mũ áo. Ngày hôm sau đặt đại triều nghi ở điện Thái Hoà để truyền lô xướng danh, treo bảng vàng ở lầu Phu Văn, ba ngày rồi đệ đến cất ở học đường Quốc tử giám. Sau khi phát bảng 2 ngày, ban yến ở công đường bộ Lễ, cho trâm và hoa lụa cùng cờ biển vinh quy. Ngày ban yến, các quan giám thí, độc quyển, thụ quyển kiêm duyệt quyển, kinh dẫn cống sĩ, truyền lô, tuần la kiêm hộ bảng, mỗi viên được ban 1 cái trâm và 1 cái hoa bạc ; các quan tuần sát, di phong, thu chưởng, điền bảng, ấn quyển, chia cấp quyển thi kiêm biên chép, cùng các tiến sĩ, mỗi viên được ban 1 cái trâm và 1 cái hoa lụa. Ai dự trúng tiến sĩ đệ nhất giáp thì cấp riêng trâm và hoa bằng chất bạc

mạ vàng. Ngày hôm sau, các tiến sĩ mới dâng tờ biểu tạ ơn ở trước cửa điện

Căn Nguyên, lại đến Quốc tử giám làm lễ Thích điện((1) Lễ Thích điện : lễ Khổng Tử.1). Bia đề tên tiến sĩ, dựng ở hai bên tả hữu ngoài cửa Văn miếu).

Thi Cống sĩ ở điện Cần Chính. Sai Thự tiền quân Trần Văn Năng sung chức Giám thí đại thần, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức, Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận, Hữu Tham tri Lại bộ Nguyễn Văn Hưng, thự Hữu Tham tri Hình bộ Nguyễn Huy Trinh đều sung độc quyển. Cho Nguyễn ý đậu Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân và bọn Lê Quang, Phan Hữu Tính, Hà Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Văn Khuê, Phan Bá Đạt và Trần Lê Hiệu 7 người đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.

Định trình hạn vinh quy của tiến sĩ. Bộ Lễ tâu rằng : “Năm nay mở khoa thi Tiến sĩ là thịnh điển buổi đầu, lại vâng ân tứ vinh quy, ban thưởng rất hậu. Người trúng tuyển được vẻ vang cả làng xóm, rạng rỡ cả gia đình, thật là phấn khởi cho sĩ phu, khuyến khích người hậu tiến. Xin cấp hạn cho ở quê 2 tháng, để cho thiên hạ đều biết ơn nhà vua trọng nho”. Vua y cho và gia ân cho trạm đưa về.

Định lại lệ triều tham tâu việc. Lệ trước, mỗi tháng đại triều 2 ngày, thường triều 4 ngày, đình nghị 4 ngày, ngày khác thì tâu việc. Vua thấy các quan triều tham sớm chiều nhiều lần, nhiều khi không làm việc ở công thự, hoặc đến chậm trễ lỡ việc, bèn sai sáu bộ châm chước bàn bạc, đều nói rằng mỗi tháng 10 ngày đại triều thường triều và đình nghị, xin định thêm 9 ngày tâu việc. (Mỗi tháng đại triều 2 ngày, mồng 1 và rằm ; thường triều 4 ngày, mồng 5, 25, 11, 21 ; tâu việc 9 ngày, mồng 3, 13, 23, mồng 7, 17, 27, mồng 9, 19, 29 ; đình nghị 4 ngày, mồng 2, 8, 16, 24). Ngày đại triều và thường triều mà có chỉ miễn triều thì cũng chiếu lệ thường tâu việc. Các ngày khác thì một viên Thiêm sự hoặc Lang trung thường trực ở triều phòng, đường quan thì hội ở công thự để làm việc. Nếu có việc khẩn trọng thì phải tâu ngay, không kể lệ này”. Lời nghị dâng lên, vua dụ rằng : “Trẫm muốn chính trị được thịnh, bộ viện các quan không bỏ trễ chức vụ, cho nên sai đình thần bàn tâu. Nay lời tâu cũng phải, chuẩn cho thi hành. Nếu chức quan ở bộ viện gặp ngày tâu việc mà không theo ban làm việc, ngày làm việc mà không đến công thự làm việc thì thượng ty cứ thực tham tâu. Nếu nể nang dung giấu mà để người khác tham hặc, hoặc bị trẫm biết, thì thượng ty cũng phải giao bộ bàn xử. Lại sau khi ban hành nghị này, bất luận quan tư lớn nhỏ, viên nào lười biếng, tạ thể không phải ngày tâu việc mà không làm việc ở công thự, ở nhà tư tiếp khách nói chuyện hão hay làm những chuyện xấu như uống rượu, xem tuồng, để đến bỏ trễ việc công, như thế thì ý tốt chỉnh đốn lại trở thành phép quá nhẹ, nhất định phải trừng trị nặng không tha. Trẫm đã đinh ninh răn bảo, bọn khanh phải kính theo chớ quên. Như trẫm có hơi thích an nhàn thì cũng phải nói thẳng để sửa, thế mới là vua tôi cùng nhau cố gắng, để cho chính lệnh thông suốt, nhân dân thuận hoà, phép trị sánh cùng thượng cổ, há chẳng tốt sao !”.

Một hôm vua vời Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận hỏi rằng : “Gần đây triều tham tâu việc, so với ngày trước thế nào ?”. Đức, Thận trả lời : “Trước kia thường ngày tâu việc, bọn thần lui triều thì đã mỏi mệt, cho nên công việc chứa chất nhiều. Nay tâu việc có ngày thì ngày thường được chuyên tâm làm việc, cho nên việc bộ hơi gọn”. Vua nói : “Trẫm nay tuổi đang mạnh mẽ, có thể cố gắng xét đoán các việc, chỉ sợ sau này mỏi mệt, không thể được như ngày nay. Xem ra thì người bề tôi không dám lười biếng, là vì sợ, chứ làm vua ngôi cao thế mạnh, ai cũng kính sợ, cho nên cái lòng trễ nải dễ sinh. Vậy thì bề tôi nên khuyên răn vua cho được trước sau như một là việc hay đấy”.

Bắt đầu chế cấp “Bài xanh đầu”((1) Chữ Hán là Lục đầu bài.1) cho các nha. Gặp ngày làm việc, thì một người nha thuộc thường trực ghi tên vào bài ấy, có việc gì phải tâu thì viết cả vào đấy dâng lên.

Ban quần áo mùa xuân cho quan Kinh, văn từ tứ phẩm, võ từ chánh đội trưởng trở lên, theo thứ bậc. Lệ trước quần áo mùa xuân đều cấp tiền, đến nay mới cho áo quần.

Bắt đầu đặt viên dịch ở kho súng, chủ sự, tư vụ đều 1 người, bát cửu phẩm thư lại đều 2 người, vị nhập lưu thư lại 14 người. Từ trước đến nay, số súng và đại bác ở kinh và ở ngoài đều do Thống chế Vũ Viết Bảo quản lĩnh, chưa đặt quan lại chuyên giữ sổ sách. Đến nay Viết Bảo xin, mới sai bộ Binh bàn đặt.

Chưởng cơ hành Trấn thủ Hưng Hoá là Hồ Văn Uẩn, Chưởng cơ Hữu quân thống quản Hùng Dũng thập cơ là Nguyễn Văn Hưng, đều vì tuổi già nghỉ việc. Lấy Vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách là Nguyễn Đức Niên làm Trấn thủ Hưng Hoá, Vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong quân Thị nội là Vũ Văn Châu thống quản Hùng dũng thập cơ thuộc Hữu quân.

Định lệ các nha phụng thủ bản phê chữ đỏ. Như bộ Lại phụng chỉ mà việc quan hệ đến bộ Hộ, thì bản phê chữ đỏ giao cho bộ Hộ, bộ Hộ sao chép đưa sang bộ Lại để lưu chiếu. Hoặc việc của bộ Lại tâu lên mà sai bộ Hộ thay vâng phê chuẩn, thì bản phê chữ đỏ giao bộ Lại, bộ Lại cũng sao chép đưa sang bộ Hộ để lưu chiếu. Hoặc bộ Lại phụng chỉ, việc quan hệ đến ba bộ Hộ, Lễ, Binh, mà là việc trọng ở bộ Lễ, thì bản phê chữ đỏ giao cho bộ Lễ, bộ Lễ cũng sao chép đưa sang ba bộ Lại, Hộ, Binh để lưu chiếu. Các việc khác cũng lấy thế mà suy. Các nha liên quan đến sớ sách của các địa phương thì giữ bản phê chữ đỏ, sao chép bản phó gửi đến lưu ở Văn thư phòng.

Sai Gia Định mộ lập đội Phượng du (mỗi đội 30 người, mỗi người hằng năm nộp thuế dầu 60 cân).

Quan Bắc Thành tâu nói rằng năm trấn nội của thành và phủ Hoài Đức, trước nhân tai dịch, xiêu tán mất 49 xã, nay mới trở về, tô thuế thiếu nhiều. Vua thương vì đau khổ, hạ lệnh tha hết.

Đặt đội Bảo trung. Vốn là người Quý hương ở Gia Định, con cháu lệ vào sổ binh dân của hạt thành có 53 người, vua sai thành thần trích đặt một đội gọi là đội Bảo trung, cho viên quản các Bính đội các trấn thuộc thành là Nguyễn Cửu An suất lĩnh.

Phó tướng Tiền quân là Mạc Văn Tô chết ; cho 200 quan tiền, và cấp 1 người mộ phu.

Giáng bổ Tham hiệp Cao Bằng là Phùng Khắc Tuân làm Tri bạ Hậu vệ dinh Hổ oai quân Thị nội. Trước là Khắc Tuân thiện tiện cho người sai dịch nước Thanh theo đường tắt đem văn thư đến (lệ phải theo cửa Bác Nẫm), lại phái binh trấn hướng dẫn, bắt người lấy của. Thành thần cho là làm việc phi lệ, tham hặc xin xét hỏi. Khi án xong, giáng 4 cấp đổi bổ chức này.

Đổi định lễ các lệ tiết khánh hạ, hoàng tử, hoàng thân, Tôn nhân phủ và văn võ dâng tiến lễ bằng bạc theo thứ bậc khác nhau. (Lễ mừng Hoàng thái hậu tiết Thánh thọ là 120 lạng, 2 tiết Nguyên đán, Đoan dương mỗi tiết 100 lạng ; lễ mừng Vua, ba tiết lớn Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương mỗi tiết 100 lạng ; lễ mừng Hoàng hậu, ba tiết lớn Thiên thu, Nguyên đán, Đoan dương đều 100 lạng ; lễ mừng hoàng tử, ba tiết Thiên xuân, Nguyên đán, Đoan dương đều 90 lạng. Hợp cộng 1.190 lạng, chia làm 20 phần : hoàng tử 3 phần, hoàng thân 4 phần, Tôn nhân phủ 1 phần, văn ban 4 phần, võ ban 8 phần). Các thành dinh trấn gặp tiết Thánh thọ thì uỷ quan dâng biểu mừng. Về ba tiết lớn ngự tiền thì dâng biểu mừng với các sản vật địa phương. (Gia Định, Bắc Thành, uỷ quan Tam tứ phẩm ; các dinh trấn thì uỷ quan phủ châu, huyện, nơi nào chưa đặt các chức ấy thì dùng tản viên((1) Tản viên : quan hư hàm, không có chức vụ.1) đi thay). Lệ cung tiền bạc trước kia đều miễn.

Vua dụ các đình thần rằng : “Trẫm vì kế hay cho Tôn Miếu Xã Tắc, muốn được người giỏi nên gia tâm kén chọn, không dám khinh suất làm bậy, cho nên ngôi Trung cung((2) Trung cung : Hoàng hậu.2) và ngôi Hoàng thái tử, chưa có sách lập, thì các lễ mừng của các quan dâng lên Hoàng hậu, Hoàng thái tử về các tiết Thiên thu, Thiên xuân, Nguyên đán, Đoan dương, đều nên đình chỉ, đợi sau này sách lập, các vị đã định sẽ chiếu lệ thi hành”.

Lại bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Xưa Hoàng khảo ta đã lập trẫm làm Hoàng thái tử rồi sau mới phong tước công cho các con. Trẫm xem điển nhà Thanh thì các con còn nhỏ đều đã phong vương. Nay trẫm muốn phong tước công cho các con, đợi khi trưởng thành, xét ai có đức tốt mới lập làm Hoàng thái tử cũng là phải”.

Tiết Vạn thọ. Vua ngự điện Thái Hoà nhận lễ mừng. Trước một ngày, ban yến cho văn võ từ Tam phẩm trở lên ở tả hữu vu điện Cần Chính. Ngày ấy lễ khánh hạ xong, lại ban yến một lần ; đến chiều hôm thì cho xem hát tuồng ở nhà Thanh Phong. Lại ngày hôm trước và ngày chính, các nha và công sở đều nghỉ việc, nhân đấy lấy làm lệ.

Thưởng cho nhạc vũ sinh đội Việt tường 200 quan tiền, cho thợ nội tạo 100 quan.

Sai Trung sứ đem các đồ thưởng cho Lê Văn Duyệt. Dụ rằng : “Khanh từ khi nhận mệnh vào trấn đến nay, các đại lễ khánh hạ chưa được về thăm hầu. Nay tiết Vạn thọ, lại vì biên cương chưa yên nên không triệu về, lòng trẫm lấy làm áy náy. Vậy đặc biệt cho đồ nội tạo, một cái ống điếu bằng pha lê bịt vàng, 1 chén ngọc liệu màu xuân thanh bịt vàng, 1 chén ngọc liệu màu mỡ cắt bịt vàng, 1 cái chậu pha lê, để tỏ ý trẫm quyến niệm càng lâu càng trọng”.

Chuẩn định từ nay, các thành dinh trấn chọn cử văn võ để bổ khuyết, như xin thực thụ hoặc thí sai, có quan hệ đến chức thủ thì trong tờ biểu phải liệt rõ quan hàm, họ tên, niên canh, quê quán, lý lịch, do bộ đề tâu, không được nhất khái tự báo.

Tướng giặc ở Hưng Hoá là Mạc Văn Cao họp đảng mưu khởi loạn. Thổ mục châu Văn Bàn là Nguyễn Bảo Cẩm và Lưu Trọng Chương đem thổ binh lừa bắt sống được tên Cao và đồ đảng đem nộp. Cho Bảo Cẩm và Trọng Chương làm Thổ tri phủ, và thưởng tiền cho binh đinh theo thứ bậc.

Định ngạch tượng cục ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, lấy số ngạch năm nay làm chuẩn. (Quảng Nam 2.051 người, Quảng Ngãi 893 người, Bình Định 925 người, Phú Yên 335 người, Bình Hoà 460 người, Bình Thuận 347 người). Hoặc số ít không đủ sai phái thì tâu xin mộ thêm.

Trấn thủ Bình Hoà là Mai Tiến Vạn tuổi già nghỉ việc ; cho theo lệ Vọng các, hằng năm chi toàn bổng.

Lấy Phó vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Hạnh làm Vệ uý ; đổi bổ cựu Vệ uý vệ Tương võ Trung quân là Phan Bá Phụng làm Phó vệ uý vệ Trung võ, Phó vệ uý vệ Trung võ là Nguyễn Văn Lộc làm Phó vệ uý vệ Ban trực hậu, Cai đội Cẩm y là Dương Công Trung làm Phó vệ uý vệ Tráng võ, Phó vệ uý vệ Minh võ là Chu Văn Quế làm Vệ uý vệ Tráng võ, Cai đội Thị nội là Nguyễn Hữu Thuyên làm Phó vệ uý vệ Minh võ.

Tháng 5, vua nghe thấy các quân dinh nhiều người hay sai quân làm việc riêng, dụ rằng : “Từ trước đến nay, binh ở Kinh và các quân Thanh Nghệ và Bắc Thành hằng năm gọi về Kinh, thì bị bọn quản suất xấu hám lợi riêng mà quấy nhiễu, hoặc sai dựng lợp cửa nhà, hoặc sai đi tìm kiếm gỗ lạt, lại trích đến vài mươi người để sai khiến ở nhà tư, đội củi, gánh nước, khiêng võng, chèo thuyền, thậm chí phục dịch cả về việc cát hung hôn táng của vợ con thân bằng, cho đến làm vườn mở phố, lại dám bắt cả binh lính cho người ta mượn để sai, các việc làm bậy tính không kể xiết. Từng không nghĩ binh dân đều là con nhỏ của triều đình, làm vua còn phải lượng sai dè dặt, thế mà làm bề tôi lại dám coi binh lính như kẻ thù, không chút thương yêu. Các việc về trước, trẫm bất tất xét kỹ. Nay vì bọn ngươi, ân cần bảo rõ, phải nên sửa đổi, bỏ hết lỗi trước, thì khi có việc mới thu được công hiệu sai khiến, mà khi vô sự cũng tránh khỏi lời kêu sai khiến bậy, các ngươi đã xứng đáng trách nhiệm được quân phụ uỷ thác, lại giữ được lộc vị cho thân gia, ích lợi cho bọn ngươi có phải là ít ỏi đâu !”.

Tết Đoan dương, vua đến cung Từ Thọ làm lễ mừng. Lễ xong, ngự ở điện Thái Hoà nhận mừng. Ngày hôm ấy, các nha và công sở đều nghỉ việc, hằng năm lấy làm lệ thường.

Thự Hữu thống chế Thị trung là Nguyễn Văn Tính chết. Tính có công Vọng Các, khi mới bị bệnh, vua sai trung sứ đến thăm, cho quế thượng phương. Đến khi chết, tặng Thống chế, thuỵ là Thành Cẩn ; cho 300 quan tiền, 2 cây gấm Tống, 30 tấm vải.

Đổi Tư thiện làm Lý thiện ty, Thị hành làm Lý thiện tả ty, Trung cần làm Lý thiện hữu ty.

Truy tặng thuộc nội Cai đội Thị trung là Nguyễn Văn Trúc làm Cai cơ Thị nội, cho 2 cây gấm Tống, 30 lạng bạc, 100 quan tiền, 20 tấm vải, vì có công lao cũ ở Tiềm để.

Tham hiệp Hưng Hoá là Trần Đình Tiến về đinh ưu, lấy Lang trung Hộ bộ giữ cục Bảo tuyền Bắc Thành là Trần Xác làm Tham hiệp Hưng Hoá.

Nguyễn Đăng Tuân và Lê Đồng Lý ở Lễ bộ dâng sớ cử Tri huyện Hải Lăng là Nguyễn Văn Nghị làm Chủ sự. Nghị trước lấy tư cách uỷ viên được dẫn yết kiến, vua xem lý lịch, thấy tại chức hơn mười năm, sai bộ Lại sát hạch rồi tâu lại. Vừa gặp bọn Đăng Tuân tâu cử, vua nói : “Nghị có thực là người khá chăng ? Phải đợi sát hạch tâu lên, trẫm sẽ quyết định, bọn ngươi sao được vội cử”. Bèn giục bộ Lại hạch. Nghị không thông luật văn nên bổ chức Tư vụ. Phạt bọn Đăng Tuân 6 tháng bổng.

Định lệ tra nghiệm các sở công tác. Phàm sửa đắp thành tường, đê đập, đường sá và xây dựng đền đài, kho tàng, nhà xưởng, đều có người giám tu và chuyên viên. Ngày làm xong, ở Kinh thì bộ Công và giám thành sứ, ở ngoài thì quan thành dinh trấn, sai người khám nghiệm, lấy tờ đoan kết hạn bảo cố ba năm. Trong hạn mà hỏng lở đổ nát thì bắt phải làm đền. Lại sắc từ nay xây dựng công trình lớn như đàn miếu cung điện, nếu không trọn vẹn, không đúng phép, và nhiều chỗ thấm dột sụt đổ thì viên chuyên biện bị trị tội theo luật. Giám tu thì tính hết cả công trình, nếu công nhiều lỗi ít, quan khám nghiệm xét thực tâu rõ, sẽ lượng mà thưởng cấp, công và lỗi ngang nhau thì đều miễn tội, công ít lỗi nhiều thì giao bộ bàn xử. Nếu đến nỗi sụt lở nghiêng đổ thì xử riêng nặng thêm.

Lấy Vệ uý Tả vệ, dinh Hổ oai quân Thị nội là Đỗ Quý làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Bình Hoà. Trước vua muốn dùng Quý làm trấn chức, vời hỏi rằng : “Ngươi có học không ?”. Quý tâu : “Thần lúc nhỏ gặp loạn thất học”. Vua nói : “Nguyễn Văn Phân cũng ít học, nay làm chức Lưu thủ ở Quảng Bình, trị dân hành chính cũng hơi khả quan, ngươi gắng sức mà làm, việc gì chả được”. Đến nay bèn sai làm chức ấy.

Truy phục nguyên hàm cho Ngô Văn Sở làm Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa ngoại, cho thuỵ là Trung Tráng. Sở trước có lỗi bị cách. Vua nghĩ là có công, nên đặc ân cho khai phục, lại cho gia đình 200 phương gạo.

Định quy thức cáo sắc phong tặng. (Chánh nhị phẩm trở lên, dùng đoạn bát ty Bắc sắc vàng, xung quanh thêu rồng mây, Tòng tam phẩm trở lên, dùng đoạn bát ty Nam, xung quanh thêu mây và giao. Trục sắc đều dùng ngà voi. Chánh tứ phẩm trở xuống, dùng giấy màu vàng rắc bạc. Bản phần hoàng((1) Phần hoàng : giấy màu vàng, dùng để sao đạo sắc truy tặng, làm lễ tuyên đọc đốt đi, gọi là phần hoàng.1) đều dùng giấy vàng).

Lấy Lang trung Vũ Khố là Nguyễn Công Đàm làm Thiêm sự Công bộ.

Lại lấy Quang lộc Tự khanh tham bồi Lễ bộ là Nguyễn Đăng Tuân làm Cai bạ trấn Quảng Nam.

Cai bạ Vĩnh Thanh là Lê Hy coi việc vận tải của công từ Gia Định đến Kinh. Vua khen là nhanh, thưởng cho một lần kỷ lục, và thưởng cho biền binh 1.500 quan tiền.

Sai Vệ uý Tuyển phong hữu quân Thần sách là Nguyễn Văn Thuỵ, Phó vệ uý vệ Trung võ là Phan Bá Phụng đem hơn 2.000 người các quân Thanh Nghệ và Bắc Thành đi thú Gia Định. Triệu thú binh trước về. Khi đến Kinh, vua thương đi thú lâu, thưởng thêm cho lương tiền 1 tháng và cho về đội ngũ.

Thành thần Gia Định tâu rằng : “Các kho ở hạt thành duy có kho An Bình có thăng bằng đồng, là chế từ thời quốc sơ (có khắc mấy chữ “Vĩnh Thịnh thập niên chế tạo”((1) Vĩnh Thịnh thập niên chế tạo : chế tạo năm Vĩnh Thịnh (Lê Dụ Tông) thứ 10.1) ), ngoài ra đều theo thức ấy mà làm bằng gỗ. Xin nhà nước cấp cho thăng mới để làm thường thức, còn thăng cũ thì nộp về Kinh”. Vua y theo.

Lấy Đội trưởng Tôn Thất Điêu làm Từ tế đại sứ Từ tế ty (trật Tòng tứ phẩm), cấp cho áo mũ đại triều.

Cho con Thống chế Vũ Viết Bảo là Vũ Viết Sĩ làm Hàn lâm Điển bạ, cùng với Tu soạn là Đặng Đức Thiệm và Trần Văn Thục đều sung hành tẩu Văn thư phòng.

Trước vua từng bảo thị thần rằng : “Con các quan văn võ, ta muốn cho ghi dùng hết để thừa ấm của cha. Song nghĩ trong đó chưa phải hiền tài hết cả, có kẻ làm nhục đến cha, nếu muốn dùng thì không thể không xét được”. Bèn sai Trịnh Hoài Đức xét hỏi bọn Sĩ để xem học hạnh thế nào, rồi có mệnh ấy.

ở ba trấn Tuyên Quang, Hưng Hoá, Yên Quảng gạo kém. Cho dân nộp thay thuế vụ hạ bằng tiền.

Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng sáu huyện châu ở hai phủ Thọ Xuân, Thiệu Hoá (Thọ Xuân, Lang Chánh, Quan Da, Tàm Châu, Quảng Địa và Thạch Thành) cách trấn đường xa, chở nộp thóc thuế rất khó, xin cho theo lệ nộp thay bằng tiền như huyện Cẩm Thuỷ. Vua y cho.

Định lệ tâu án cho Gia Định và Bắc Thành. Từ trước đến nay, hai thành tâu án, có khi do Tổng trấn, có khi do Hình tào, lại có khi do [Tổng trấn và Hình tào) hiệp nghị, việc làm bất nhất. Bộ Hình bàn tâu cho là hai thành đã đặt Tổng trấn, mọi việc đều coi cả mà định đoạt, còn Hình tào thì bổn phận là theo giúp, sao lại tự đề tâu. Vả lại Hình tào chuyên việc văn án, xét nghĩ phải trái chỉ nên theo ý xét định của Tổng trấn. Nếu lại hiệp bàn thì sợ không phải là theo ý nghĩa trách nhiệm chuyên nhất. Xin từ nay việc án ở hạt thành thì Hình tào xét nghĩ trước, mà chuyên do Tổng trấn xét chắc rồi làm án tâu lên. Đình thần bàn lại, cũng cho thế là phải. Vua nghe theo. Rồi cho rằng việc ký tên chung ở các án hiệp nghị thành Gia Định là việc nhân tuần từ lâu, nên vẫn cho theo cũ mà làm.

Ban bổng năm cho hoàng đệ là Quang và Mão. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Em trẫm Quang và Mão, hai người tuổi còn trẻ thơ, nếu vội phong cho tước công, thì e chưa hiểu việc đời, có khi người chưởng ấn không tốt, hoặc vì bọn tiểu nhân lừa dối, đến can tội lệ, thì lại không phải ý trẫm quyến niệm người thân. Vậy hằng năm cấp cho nửa số bổng thân công, lấy sang năm là năm Quý mùi bắt đầu. Lệ xưng hô phủ đệ thì theo như lệ thân công, đợi khi tuổi và đức đều tiến, thì sẽ sách phong”.

Đặt chức Học chính ở Quốc tử giám (trật Tòng lục phẩm), chuyên dạy các tôn sinh((1) Tôn sinh : học sinh tôn thất.1). Sai Tế tửu và Tư nghiệp kén chọn hai ba người có học hạnh bổ vào.

Định niên khoá duyệt tuyển. Các dinh trấn đạo tất cả 21 trường, chia làm ba khoá : Giáp Kỷ, Mậu Quý, Đinh Nhâm. Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nghệ An, Thanh Hoa, Thanh Bình, 8 trường ấy dùng năm Giáp, năm Kỷ ; Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh (Hà Tiên, Long Xuyên và Kiên Giang phụ vào Định Tường), 8 trường ấy dùng năm Mậu, năm Quý ; Sơn Nam thượng hạ, Hải Dương, Sơn Tây (Hoài Đức phụ vào), Kinh Bắc, 5 trường ấy dùng năm Đinh, năm Nhâm. Ghi làm lệ mãi mãi.

Vua thấy hai đội Nội hầu, Trung hầu đều là người tôn thất, sắc rằng sổ ngạch hằng năm do Tôn Thất Dịch duyệt phê làm bằng.

Bộ Hình tâu rằng : “Từ trước đến nay, nha môn xét hỏi việc hình gặp có án giám thủ lấy trộm của cho mình, hoặc một hai hạn đòi rồi trả số tang đã đủ mà vẫn cứ bản tội ấy mà xử, không y luật lệ mà giảm miễn, sợ không phải là theo ý lập pháp khoan thứ của luật văn”. Vua sai đình thần bàn lại, đều cho rằng lấy trộm cho mình, tội không thể trốn được. Nếu cứ theo lệ đúng hạn trả xong mà giảm bậc tha tội thì kẻ lấy trộm của công còn sợ gì. Vậy lệ này, nên bỏ đi. Vua nói : “Lời bàn của đình thần là phải. Duy khi tang ăn trộm từ 100 lạng trở xuống, mà trong hạn có thể bồi đủ thì tâu lên để phát lạc (cho qua chuyện)”.

chính biên

Đệ nhị Kỷ - Quyển XVI

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa hạ, tháng 6, cấp cho Nghệ An 6 chiếc thuyền hiệu.

Sai bọn Cai đội Hồ Văn Khuê, Điển bạ Lê Nguyên Đản, Phó phi kỵ uý Hoàng á Hắc đáp thuyền Đại trung bảo sang Quảng Đông tìm mua hàng hoá.

Cải thụ Chưởng cơ hành Trấn thủ Kinh Bắc là Đoàn Đức Luận làm Trấn thủ Kinh Bắc. Đức Luận vì mùa đông năm ngoái, sứ nước Thanh qua địa giới Bắc Ninh cung ứng không chu đáo, phải giáng ba cấp lưu dùng. Bộ Lại theo lệ tâu xin, lấy 1 cấp quân công được trước trừ cho 2 cấp, còn 1 cấp không thể trừ được thì xin giáng làm Trấn thủ. Đình thần bàn chữ lưu dụng đổi làm cải thụ thì phải. Vua y theo.

Cải thụ Nguyễn Văn Thục làm Ký lục trấn Bình Định, đeo chữ “giáng 2 cấp”.

Ngoài biển Hà Tiên thường có giặc biển Chà Và cướp bóc người buôn. Trấn thần nhiều lần phái biền binh dò bắt, ít khi bắt được. Vừa viên thủ ngự ở Phú Quốc, nghe nói giặc đóng ở biển, sai bọn thứ đội trưởng đội Phú cường Ngô Văn Đức và Nguyễn Văn Sương đem binh đi tuần bắt. Đức thác bệnh, Sương đi một mình, gặp giặc giao chiến chém được 3 đầu, lấy được một chiếc thuyền. Người đánh cá là Đặng Văn Từ cũng đem thuyền đánh cá ra tiếp ứng, chém được 4 đầu, bắt sống được 5 tên. Dư đảng giặc chạy đến bờ biển nước Chân Lạp, lại bị phiên dân bắt nộp. Thành thần Gia Định đem việc tâu lên, và xin đặc cách thưởng phạt để tỏ khuyên răn.

Vua đặc cách cho Nguyễn Văn Sương chức Cai đội ; Đội binh là Nguyễn Hiếu và Hoàng Minh xông lên giết giặc, được chức Đội trưởng. Thưởng cho Đặng Văn Từ 200 quan tiền, cho phiên dân 50 quan. Ngô Văn Đức dùng dằng rụt sợ phải chém để nêu gương.

Truy tặng Tham tán Nguyễn Đăng Trường làm Thượng thư Binh bộ. Đăng Trường là người làng Ưu Đàm, huyện Hương Trà, khảng khái có chí tiết. Năm Đinh dậu giặc Tây Sơn xâm phạm Sài Gòn, Đăng Trường bị giặc bắt, không chịu khuất phục mà chết. Đến nay cháu nội là Nguyễn Đăng Trinh đem việc tâu lên. Vua nói : “Trung tiết như thế, há để chìm mãi !”. Sai bộ Lễ ban tặng.

Cấp thêm lương tháng cho Hương cống làm Hành tẩu ở sáu bộ (trước cấp 2 quan tiền 2 phương gạo, nay thêm 1 quan tiền).

Đổi chức cai Tàu vụ làm quản lý Thương bạc sự vụ, chức cai Trường đà sự làm Tào chính. Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên vẫn quản lý Thương bạc sự vụ, Thượng thư Hình bộ Lê Bá Phẩm và Phó đô thống chế Thuỷ quân Phạm Văn Tường vẫn quản Tào chính.

Quan Bắc Thành đem hơn 3.000 đơn kiện của dân hạt năm ngoái đã xét bàn, tâu xin phát lạc.

Vua đều y theo. Nhân bảo thị thần rằng : “Trẫm đi Bắc tuần, xem xét địa phương, hỏi thăm phong tục, chính muốn biết hết ẩn tình của dân, cho nên binh dân thưa kiện đều cho nhận đơn, phàm việc thuộc Bắc Thành đều giao thành nghị xử tâu lên. Nay trong các đơn có nhiều cái nên bác, nhưng nếu người ta không biết bác vì lẽ gì thì sao chịu vui lòng thành phục ? Vậy bộ thần phải chuyển tư cho thành thần biết, phàm các đơn nên bác thì phải đòi nguyên đơn lấy lẽ phải trái ngay gian mà bảo, khiến cho họ đều tự phục”

 

ấm thụ cho Đỗ Văn Thọ là con thứ đích của công thần Vọng Các Cai cơ tặng Chưởng dinh là Đỗ Văn Hựu làm Phi kỵ uý. Trước người con trưởng đích của Hựu là Trung được ấm thụ chức Kỵ đô uý, Trung chết, Thọ xin thay anh tập ấm. Vua sai đình thần xét bàn rồi cho.

Cho thêm con Lê Văn Quân là Lê Văn Chính tiền gạo lương tháng (tiền 3 quan, gạo 3 phương).

Đầu đời Trung hưng, Quân làm Đô đốc bình tây chưởng Tiền quân doanh, khi bị tội, xấu hổ phẫn uất mà tự sát. Năm Gia Long thứ 16 [1817] truy lục cho con được cấp lương tháng. Đến nay Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt lại tâu xin cho tập ấm. Vua giao xuống đình thần bàn, đều nói : “Quân khi còn sống từng có lỗi, không dám khinh suất bàn xét, đợi chỉ định đoạt”. Vua dụ rằng : “Quân có khuyết điểm về tiết bề tôi, sao có thể lạm cho ân tập ấm. Song nghĩ đến công theo đi Vọng Các, ưu cấp lương tháng cho con cũng đủ rồi”.

Quảng Trị có sâu keo làm hại, dinh thần không báo, chỉ biên vào sổ nhật ký phong vũ. Vua biết tin quở mắng, giáng Cai bạ Nguyễn Hữu Khánh và Ký lục Bùi Phổ đều 1 cấp. Nhân sắc cho Khâm thiên giám từ nay các thành dinh trấn có dâng bản đồ nhật ký phong vũ, nếu có những tai nạn gió bão, mưa đá, hạn, lụt thì phải tóm lấy những điều lớn tâu lên.

Hiệp trấn Nghệ An là Ngô Bá Nhân và Tham hiệp Hưng Hoá là Trần Xác có tội bị giáng. Bọn Bá Nhân trước theo Tham tri Binh bộ Trần Minh Nghĩa để thanh tra phủ Nội vụ, không tìm ra được việc gì, sách tâu để lâu không dâng. Đến nay vua cần hỏi, Minh Nghĩa thác từ đun đẩy. Vua giận nói : “Việc đã ba năm, sao dám chậm trễ như thế !”. Mới sai trói Minh Nghĩa ở vệ Cẩm y. Sai bọn Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Phẩm, Trần Văn Tính, Lê Đồng Lý duyệt lại, xét ra rất nhiều việc bớt trộm và nhầm lẫn. Vua dụ rằng : “Phủ Nội vụ, là nơi tập trung của cải trong nước, kẻ sát hạch cần phải rạch ròi của cải và trừ sạch mối tệ thì mới xứng đáng trách nhiệm giao cho. Thế mà bọn Minh Nghĩa lại không sốt sắng việc công, trái lại, trước sau hồ đồ, một niềm che đậy mà thôi. Xem lại, quan viên hèn kém quên ơn hỏng việc như thế, nếu cứ vẫn cho chức cao lộc hậu thì lấy gì trừng giới kẻ hèn kém, mà nghiêm chỉnh được phép quan !. Ngô Bá Nhân và Trần Xác thì giải chức ngay đem về Kinh, giao cho đình thần nghiêm nghị”. Khi lời nghị dâng lên, Minh Nghĩa giáng 2 cấp lưu, Bá Nhân giáng làm Tham quan quân Thần sách, hàm Tòng tam phẩm, Xác giáng Cai bạ, hàm Tòng tứ phẩm, đều theo Hình bộ mà làm việc. Những người tuỳ biện là Thiêm sự Binh bộ Phan Văn Nguyên thì giáng làm Lang trung Vũ Khố, Lang trung Hộ bộ Phan Đình Liêu thì giáng làm Tri bạ vệ Ban trực hậu quân Thần sách ; còn dư đều bị giáng và xử trượng theo bậc khác nhau. Thưởng bọn Trịnh Hoài Đức 200 lạng bạc.

Bắt đầu đặt châu Hướng Hoá ở Quảng Trị, cho bốn nguồn sách((1) Nguồn cũng như tổng, sách cũng như làng.1) Viên Kiệu, Tầm Linh, Làng Tổng, Làng Sen của dân Man chịu thuế ở đạo Cam Lộ lệ thuộc theo. Trước là bọn Man chịu thuế đem phẩm vật (voi đực 4 thớt, ngà voi 8 cây, sừng tê 1 toà) đến đạo Cam Lộ nói đời trước vẫn nộp thuế thổ sản đã trải vài trăm năm, đến khi gặp loạn Tây Sơn, chính lệnh hà khắc, đòi bắt nặng nề, đến nỗi phải xiêu tán. Từ khi khắc phục Thần kinh, lại cung nộp như lệ. Năm Minh Mệnh thứ 1 [1820] muốn đem phương vật dâng nộp, nhưng xảy đói và dịch nên thôi. Nay thành khẩn đem dâng thổ sản, xin đến Kinh lạy mừng, để thoả lòng trông cậy. Dinh thần đề đạt lên. Vua nghĩ lòng thành khẩn, y cho. Khi đến cho vào yết kiến. Sai bộ Lễ đãi yến, cấp cho bạc và lụa, nhân sai lấy đất ấy làm châu, sắc cho năm người đàn anh làm tổng trưởng.

Cho hoàng tử thêm lộc hằng năm (200 quan tiền, 200 phương gạo).

Cấp cáo sắc phong tặng cho cha mẹ quan viên văn võ từ Tam phẩm trở lên.

Trước bộ Lễ bàn dâng sách phong tặng. Vua đặc biệt chuẩn định rằng, phàm cha mẹ các quan văn võ từ Tam phẩm trở lên dự được phong tặng thì cho kém con hai cấp. Sau khi ban ân, mà bị giáng điệu, còn ở hàng Tam phẩm trở lên, thì cha mẹ cũng theo chức hàm hiện tại của con mà tuỳ phẩm phong tặng. Nếu cha con vốn là văn giai, võ giai khác nhau thì phong tặng theo chức con ; duy nếu phẩm của cha cao hơn hoặc cùng phẩm thì thôi. Người có mẹ đích và mẹ đẻ mà chức của người cha lớn, thì phong tặng mẹ đích theo chức của cha, mẹ đẻ theo chức của con. Hạ lệnh viết cáo sắc ban cấp.

Định giá mua voi ở nước Chân Lạp (cao 4 thước trở lên giá 40 lạng, 5 thước trở lên 50 lạng, 6 thước trở lên 60 lạng).

Dựng thêm giải vũ dài ở 6 bộ (1 toà 29 gian).

Thành thần Gia Định tâu rằng : “Những quan chức ở thành hạt theo đi Vọng Các, trước đã nhận chỉ sai, chỉ truyền, mà chưa có chiếu sắc, sau khi chết, không lấy gì trình chiếu để lĩnh tiền tuất, xin đặc cách xét định ưu cấp”. Vua nói : “Gia Định là cơ sở buổi đầu của sự khôi phục, người truy tuỳ như bóng theo mây họp rất nhiều, phải nên đặc cách ban ơn, để tỏ hậu đạo. Phàm những chức danh ấy, nếu hiện ở phẩm cấp quan chế thì chiếu phẩm chỉ phát, nếu không dự phẩm cấp thì cho lấy thực trạng công lao lúc sinh tiền, chia làm ba bậc, bậc nhất tiền tuất 30 quan, bậc nhì 25 quan, bậc ba 20 quan, cho thành thần xét thực mà cấp cho”.

Hạ lệnh cho mộc hộ ở Nghệ An lấy nhiều gỗ ván lim nộp cho nhà nước, chiết trừ thuế gỗ rồi, nếu muốn bán thì trả tiền theo giá.

Thả các quân gọi ở Thanh, Nghệ, Thanh Bình và Bắc Thành về hàng ngũ, thưởng áo quần và bạc lạng theo thứ bậc khác nhau.

Nước Chân Lạp xin đong gạo ở Gia Định, thành thần tạm phát gạo kho bán cho. Việc đến tai vua. Vua sai truyền dụ rằng : “Một lần thì cho, lần sau phải đợi tâu”.

Quan Bắc Thành tâu rằng : “Từ trước đến nay, sửa chữa thuyền ghe thì bắt dân năm nội trấn đi lấy gỗ để nộp. Nghĩ dân đồng bằng không quen thuỷ thổ, nay xin thu tiền theo điền mẫu mà khoán mua để thay lực dịch”. Vua dụ hạ lệnh lấy tiền công mua, không phải thu góp ở dân.

Định lại điều cấm về cửa cung thành. (Phía ngoài năm cửa Đông An, Tây An, Gia Tường, Tường Loan, Nghi Phượng, hai bên tả hữu cách 5 trượng đều trồng hàng rào làm giới hạn. Nếu con trai lêu lổng đứng ở gần ngoài hàng rào, thác cớ có việc hướng vào trò chuyện với tỳ nữ trong cung thì không kể trai gái, đều xử 100 trượng ; bước qua hàng rào đùa bỡn với phụ nữ thì đều xử giảo giam hậu ; đến gần bên cửa nghển trông hoặc hỏi han cung tỳ về tình trạng nội cung, thì xử giảo quyết ngay ; nếu lại có tình gian thì xử nặng hơn mà trảm quyết. Người thủ vệ thất sát, nếu kẻ phạm ở ngoài hàng rào, thì xử kém kẻ phạm một bậc, trong hàng rào thì xử đồng tội ; biết mà nhận của cố ý dung túng thì xử nặng hơn. Lại trong cung cấm gặp có công tác gì, có chỉ gọi thị vệ và biền binh vào làm việc, cùng thái y vào nội thăm bệnh, thì viên nội giám tuyên triệu tất phải tay cầm bài vương mệnh thì người giữ cửa mới được cho vào, nếu không có bài mà thiện tiện cho vào thì dẫu có chỉ cũng phải tội mãn trượng, không có chỉ thì xử tử).

Cấp tiền vải cho tù phát phối ở Gia Định và Bắc Thành (mỗi người cấp 1 tấm vải, 2 quan tiền ; đến nơi đi đày, lại cấp 1 quan tiền ; vợ con đi theo, 16 tuổi trở lên thì cấp nửa tấm vải, 3 quan tiền, 15 tuổi trở xuống thì 2 quan tiền). Dụ rằng phàm tù phạm biết hối cải ở nơi đày chăm chỉ làm việc, không dám sai trái, thì cho đề tâu để cấp thêm tiền gạo, hoặc lượng khoan giảm cho. Nếu giữa đường và đến nơi đày mà cứ quen thói làm bậy, thiện tiện trốn đi, cùng là hành hung cướp bóc, thì chém ngay ở địa phương.

 

Thuộc binh ở phủ Thái Bình công là Kính đem lửa đốt nhà dân, bị người ta bắt được. Vua sai chém. Cai đội phủ thuộc bị 80 trượng ; thưởng cho người bắt kẻ phạm 50 quan tiền.

Chưởng cơ chánh trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn chết. Lấy Phó trấn là Nguyễn Văn Vĩnh làm Trấn thủ Thuận Thành, ban cho mũ áo Tam phẩm. Thuận Thành           sau đổi làm Thuận Thành        . Sai chế ấn quan phòng “Quản lý Thuận Thành” cấp cho.

Lấy Tôn Thất Bằng làm Từ tế sứ Từ tế ty kiêm quản các chi công tính((1) Công tính : họ xa của nhà vua,1), vẫn lãnh Quản phủ Hà Trung.

Đổi thuyền An Lão (30 người công tính) làm ty Từ tế, phục sự ở Nguyên miếu.

      Lấy Thự vệ uý Hậu vệ dinh Hổ oai quân Thị nội là Tôn Thất Tứ làm Vệ uý Tả vệ dinh Tiền phong, Cai cơ Tả dinh quân Thần sách là Nguyễn Văn Thìn làm Phó vệ uý vệ Định võ.

Lấy Thượng đạo Thanh Hoa là Hà Công Quỳnh làm Chánh trưởng chi chi Hậu hãn, Đặng Lưu Thân làm Chánh trưởng chi Tả chi (đều trật Tòng tứ phẩm), theo trấn sai phái. Các văn võ binh đinh các chi thượng đạo trước thuộc Hà Công Thái thì do trấn quản lĩnh, vẫn lưu làm việc quân ở đạo. Trấn thần xin cho Quỳnh được nối chức cha. Vua không cho, dụ rằng : “Xưa Hà Công Thái có công trung hưng cho nên sai quản lĩnh thượng đạo, cho được tuỳ nghĩ xử trí. Nay Thái đã chết, trẫm cho con là Quỳnh làm Chánh trưởng chi để giữ đất của mình cũng đủ đền công lao của cha rồi. Vả tài của Quỳnh không bằng Thái tất không thể khiến dân phục tình mà lại muốn nối hưởng đất đai của cha được sao ? Nên triệu hết tù trưởng các sách mà tuyên bảo đức ý của triều đình, khiến cho biết ngày nay đã thuộc về trấn, các việc đều được đạt lên. Việc quan hôn tang tế thì cứ cho theo phong tục ; việc kiện cáo thì có luật nhà nước. Nhân chọn lấy người dân chúng vẫn phục tâu xin cho chia nhau mà cai trị dân. Đó là việc biên cương quan trọng, phải xếp đặt cho khéo, chớ để lầm lỡ”.

Nước Chân Lạp sai sứ đến chầu, và dâng lễ phẩm chúc mừng việc Bắc tuần hồi loan. Hạ lệnh lưu lễ ấy để trừ vào lệ cống năm Quý mùi sau này, cho sứ giả ốc Nha Chiết Di mũ áo thường triều Tứ phẩm võ ban, ốc Nha Nã Đốc Biện mũ áo thường triều Lục phẩm và 100 quan tiền. Trước là thần dân Chân Lạp nhiều người oán vua Phiên, Lê Văn Duyệt sợ trong nước ấy có biến, sai Trần Nhật Vĩnh đến Kinh tâu thay. Vua đã rõ hết tình trạng. Đến nay nhân sứ Chân Lạp về, cho sắc thư dụ vua Phiên rằng : “Nhà ngươi đời giữ đất Phiên, hằng năm nộp cống, xem tấm lòng thành khẩn ấy, khá khen là ngươi kính thuận. Nước ngươi gần nay, chính thể dân tình, không kể việc lớn việc nhỏ, ta đều rõ hết. Vương phải cố gắng tự cường, xét sửa đức hạnh, lấy tín nghĩa ân lễ mà phủ dụ quan Phiên, lấy lòng yêu nuôi khoan nhân mà cai trị dân Phiên ; chớ làm sụp đổ cơ nghiệp của tiên tổ nhà ngươi, ngõ hầu trên báo đáp được ơn vun trồng của Hoàng khảo thế tổ Cao hoàng đế ta, mà không phụ tấm lòng yêu thương của trẫm”.

Vua nghe tin Bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ cùng vua Phiên không hợp ý muốn xin giải chức, dụ rằng : “Vỗ về nước Phiên thuộc, trị yên nơi biên cương, cần phải được người mới có thể tuyên bố oai đức của triều đình, để giữ vững bờ cõi của ta. Ngươi đối với các nước man Xiêm Lạp, nhân vật phong tục, núi sông chỗ hiểm chỗ bằng, đã quen thuộc lắm, cho nên giao cho ấn Bảo hộ Chân Lạp, coi việc ngoài biên, từ lâu đến nay, thực cũng xứng chức. Thế mà vua Phiên tính vốn ngu tối, xưa vì còn ít tuổi ưa nghe người xấu nên cùng ngươi từng có khi không hợp ý. Trẫm biết là lòng ngươi không yên, lấy cớ tuổi già mà cầu tránh trách nhiệm. Song nghĩ vua Phiên nay đã trưởng thành, được ngươi là người ngay thẳng, không nghĩ đến ác cảm cũ, mà cùng nhau mài giũa thấm thía, hoặc giả biết tự hối mà sửa chữa lỗi trước, có thể khiến thành người tốt mà còn trông cậy được. Huống chi, đại thế nước Phiên, tuy đã thanh bình, nhưng trong đó công việc liên miên phức tạp, chưa được đâu ra đấy. Ngươi nên trước hết lưu tâm về việc cần cấp của nước nhà, tuỳ nghi xếp đặt, cho được ổn thoả, hà tất bận lòng vì sự hiềm nhỏ”. Bèn sai đem cho một tấm đoạn mãng xà màu tương và đoạn lông màu hồng màu lam mỗi thứ hai tấm.

Lấy Cai bạ Trung quân là Trần Thái Tín làm Lang trung Binh bộ, theo Bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ làm việc biên cương.

Chuẩn định từ nay về sau sứ thần các nước Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng cùng cống man thuế man ở châu Hướng Hoá đạo Cam Lộ, đến Kinh mà gặp lễ tế Giao và Miếu hưởng thì đều cho phép chờ xa giá ở trước cửa Tả Đoan mà chiêm ngưỡng. Làm lệ mãi mãi.

Huỷ ấn của giặc Tây Sơn (bằng vàng nặng 1.048 lạng, 2 đồng 2 phân). Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Hoàng khảo ta xưa dẹp giặc Tây Sơn, thu được hết ấn nguỵ, nay ở kho hãy còn một quả. Trẫm nghĩ Hoàng khảo ta, công đức rực rỡ trong sử sách, không cần cái ấy, cũng đủ tỏ rõ võ công. Vả lại như đôn của nhà Thương, đỉnh của nhà Chu, truyền làm của báu cho đời thì được, chứ đây là vật tiếm nguỵ thì để lại làm gì. Vậy huỷ đi”.

Hạ lệnh cho các địa phương tìm hỏi những dân thọ trăm tuổi và những hiếu tử nghĩa phu mà tâu lên.

Dụ rằng : “Ta nghe trăm tuổi là kỳ, thật là điềm tốt của nước. Vua trọng người già thì dân không dám thờ ơ với cha mẹ, ấy là dạy dân biết hiếu vậy. Tôi trung con hiếu, đàn bà tiết liệt, đàn ông nghĩa khí, người có nước rất nên khuyến khích. Từ xưa kính trọng tuổi tác, ưu đãi bậc già, cất nhắc người hiếu, nêu khen người liêm, đều là để rèn luyện phong hoá cho dân, sáng tỏ trị giáo của nước, để dẫn cuộc đời đến chốn nhân thọ. Trẫm kính nối nghiệp lớn, mở rộng đạo trị, phàm là trung thần thì phong tước mà thờ cúng, là liệt nữ thì ban biển mà nêu khen, điển lệ có đủ. Nhưng còn những người thọ đến tuổi kỳ [trăm tuổi ] cùng là hiếu tử nghĩa phu thì được nêu thưởng, cái đạo dạy dân gây tục e còn chưa đủ. Từ nay, quan các thành dinh trấn đều phải dụng tâm tìm hỏi dân gian, có ai trăm tuổi trở lên, cùng là con hiếu thờ cha mẹ, có thực trạng rõ rệt, như tối hỏi, sớm thăm, đón trước ý muốn, noi theo chí hướng, sống nuôi thờ, chết chôn cất, hết đạo làm con, mà châu xã đều khen là hiếu, người nghĩa thì thấy lợi không động lòng, như bắt được vàng mà trả lại chủ, của không muốn có vì may, lợi không muốn được hú hoạ, từ hay nhận, lấy hay cho, đều là hợp nghĩa, già trẻ đều tin là liêm, thì đều cho hương lý kết trình quan sở tại, kể đủ thực trạng, làm sách tâu lên, do bộ Lễ đề đạt để chờ ban thưởng, để biểu dương điểm tốt thanh bình, chấn hưng thói tốt hiếu đễ, cho xứng cái ý thiết tha dạy bảo và sửa tục của trẫm”.

Sai bộ Lễ kê khai chức Tri phủ các địa phương, tại chức đủ 4 năm trở nên để tâu.

Vua bảo Trịnh Hoài Đức rằng : “Quan chức triều ta có quy chế, đủ niên hạn thì thăng bổ, thực là phép hay. Nhưng nay quan văn làm việc đủ 6 năm đều đã thăng thưởng, gặp khi triều đình kén chọn thì khó được người. Vậy những viên Tri phủ từ 4 năm trở lên nên gọi về Kinh dẫn yết kiến, để xem giỏi hay kém mà chọn dùng”.

Bọn Nguyễn Kim Truy tự nước Xiêm về. Vua hỏi việc nước Xiêm. Truy đáp : “Nước Xiêm gần nay mất mùa, gạo đắt dân đói. Phật vương không lấy thế làm lo, chỉ thờ đạo Phật thôi”. Vua mỉm cười. Kim Truy lại tâu nói : “Thần qua Hà Tiên, nghe tin giặc biển Chà Và thường ẩn hiện trên mặt biển, cướp bóc thuyền buôn”. Vua bèn sai truyền dụ cho Gia Định phái binh đi tuần bắt. Rồi bắt được 7 người. Thành cho là giết đám ruồi muỗi ấy cũng là vô ích, chi bằng tha cho về, bảo cho tù trưởng biết mà sợ phục. Sớ dâng vào. Vua cho là phải.

Đặt phu đàn Xã Tắc, lấy 10 người dân xã Phú Xuân, hợp cùng 15 người phu ở miếu Đô thành hoàng, sung việc thủ hộ.

Sai Thống chế Thuỷ quân là Phan Văn Tường coi đóng thuyền hiệu theo kiểu Tây dương.

Bộ Binh tâu rằng : “Năm Gia Long thứ 4 [1805] định lệ hễ quản suất các quân dinh có khuyết thì quan chưởng lĩnh cấp bằng thí sai, đợi 3 năm không lỗi thì tâu xin thực thụ. Nhưng các nha thường tính sai niên hạn, như thí sai từ tháng 12 năm Giáp tý đến tháng 1 năm Bính dần thì chỉ được 1 năm 2 tháng, mà đã viện làm 3 năm. Xin từ sau bắt đầu tính từ tháng được thí sai, đủ 36 tháng làm hạn. Lại năm Gia Long thứ 5 có lệ định lính giản tuổi 50 không thể theo việc quân được thì thải về, điền cấp người khác, song trong đó có nhiều người mạo tuổi, vậy xin phàm tuổi đến 50, xem thực là suy yếu thì mới cho về. Nếu sức lực còn mạnh thì vẫn phải lưu ngạch 5 năm. Ví thử chưa đủ hạn 5 năm mà già yếu không làm nổi việc thì cho theo lệ thải về, được miễn dao dịch và đợi kỳ duyệt tuyển”. Vua y lời tâu.

Cho con trai con gái Phước Long công được bổng hằng năm (con trai trưởng là Vĩnh mỗi năm 100 quan tiền, 60 phương gạo ; con thứ hai người, đều 60 quan tiền, 40 phương gạo ; con gái 13 người, đều 36 quan tiền, 36 phương gạo), dụ bộ Lễ rằng : “Phước Long công là bậc thân huân, Hoàng khảo ta ân lễ hậu đãi, cho được thế tước. Nay con là Vĩnh đáng tập tước hầu, nhưng tuổi còn trẻ thơ, đợi 15 tuổi trưởng thành sẽ nghị phong”.

Cho bọn Đội trưởng công tính Nguyễn Hữu Diêu 15 người, được chi bổng và quần áo mùa xuân theo Lục phẩm vẫn theo làm việc công ở Thanh Hoa và Bắc Thành.

Chuẩn định rằng các vệ cơ đội năm dinh Thần sách và các quân, binh lính có đủ số thì tri bạ thư lại mới được tâu xin bổ thụ. Ghi làm lệ.

Gọi Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Văn Lộc về Kinh. Lấy Thiêm sự Hình bộ biện lý Hình tào thành Gia Định là Trần Nhật Vĩnh làm Ký lục Vĩnh Thanh.

Lấy Phó đốc học thành Gia Định là Đoàn Khắc Cung làm Thiêm sự Công bộ.

Đổi chùa Long Ân làm chùa Sùng Ân (chùa ở Tây Hồ góc tây bắc Bắc Thành). Vua dụ rằng : “Chùa này là của công chúa Ngọc Tú (vợ Trịnh Tráng) tiên triều dựng. Khi Bắc tuần mùa đông năm ngoái từng đến xem, thấy bia chùa có chữ phạm huý Miếu hiệu nên đem bia ấy về Kinh sư, và làm bia khác thay vào để ghi việc”. Lại cho 200 lạng bạc, cấp biển ngạch và 2 người tự phu.

Hữu tham tri Hình bộ Ngô Đình Giới 70 tuổi xin về hưu. Vua dụ rằng : “Tuổi khanh tuy già mà sức còn khoẻ, có thể cố gắng dạy con em ta để xem thành hiệu”.

Hữu tham tri Lại bộ Nguyễn Văn Hưng dâng biểu xin nghỉ một năm về xếp việc nhà. Đặc cách cho nghỉ 6 tháng.

Mùa thu tháng 7, ngày mồng 1, tế thu hưởng. Ngày Bính tý, dựng bia lăng Trường Nguyên((1) Lăng Trường Nguyên : mộ Nguyễn Kim.1), bài văn bia rằng : “Lăng Trường Nguyên ở núi Triệu Tường, hạt Thanh Hoa, là nơi phần mộ của Triệu tổ Tĩnh hoàng đế ta((2) Triệu tổ Tĩnh hoàng đế : Nguyễn Kim.2). Tổ ta công lớn đời đời, đương khi nhà Lê suy vi, họ Mạc tiếm cướp, đã khảng khái xem việc đánh giặc phục thù làm trách nhiệm của mình, đứng đầu xướng nghĩa để khuông phù chính thống. Cơ nghiệp trung hưng của nhà Lê, đều là công của tổ ta. Năm Nguyên Hoà((3) Nguyên Hoà : niên hiệu Lê Trang Tông.3) thứ 14 [1546], hồn về cõi tiên, mới xây lăng ở núi này. Thế núi cao ngất, nhiều ngọn chập chồng ôm ở phía sau, các dải sông vòng quanh ở phía trước, núi Tam Điệp núi Trang Chư đối dựng hai bên tả hữu, thật là đất do khí linh tú đúc nên. Vì trời giúp người có đức, nên để dành cho đất ấy, cơ nghiệp ức muôn năm của nước ta, bắt đầu ở đây ra. Các thánh nối nhau hơn vài trăm năm, tuy núi sông cách trở, mà gió mây che chở, cây tùng cây thu vẫn xanh tốt một màu. Đến khi Thế tổ Cao hoàng đế ta, nương tựa đức tốt của tổ tiên, ứng lòng trời, thuận lòng người, trả được thù của Tôn Xã, giải được uất của thần người, thiên hạ dẹp yên, bèn dựng miếu ở Gia Miêu ngoại trang huyện Tống Sơn, truy tôn danh hiệu hoàng đế, đặt tên lăng là Trường Nguyên, để nêu rõ là phước ấm tích luỹ từ đấy. Ta là con nhỏ, nối theo nghiệp lớn, nghĩ đến đạo hiếu nối chí noi việc của tiền nhân, mùa thu năm Tân tỵ [1821] có việc đi Bắc tuần, bèn yết Nguyên miếu lạy sơn lăng. Xem ngắm non sông mà biết cảnh chung đúc thật lạ lùng, dò thăm gốc tích mà cảm công xây dựng đã bao thuở, bồi hồi ngắm nghía, lòng nghĩ đăm đăm, bèn khắc văn bia ở bên tả lăng để ghi nhớ, ngõ hầu phước trạch của Triệu tổ ta để lại về sau, lòng thành của Thế tổ ta nhớ tới đời trước, đều lưu truyền mãi mãi. Bèn làm bài minh rằng : Đất lớn chứa thiêng, sinh ra Triệu tổ. Vun đắp cương thường, nên rạng thánh võ. Nghĩa động quỷ thần, công truyền vũ trụ. Cõi trần rời bỏ, lăng ở Bái Trang. Non nước bao bọc, sầm uất tùng xanh. Khí thiêng họp nhóm, đời đời xương vinh. Mệnh trời đã giúp, con cháu tinh anh. Võ công dựng nước, bèn tìm gốc nguồn. Truy tôn dựng miếu, lăng gọi Trường Nguyên. Tân tỵ Bắc tuần, đến đây dừng lại. Trông ngắm non sông, nhớ đến gốc cỗi. Khắc chữ vào bia, lưu ức vạn tải”.

Hạ lệnh cho ba đội Tráng (Tráng nhất, Tráng nhị, Tráng tam) ở dinh Quảng Trị, mỗi năm một đội đến Kinh canh giữ các kho phủ Nội Vụ, lần lượt thay nhau.

Lưu thủ Quảng Ngãi hưu trí là Nguyễn Văn Toản đến Kinh yết kiến, thưởng cho quần áo và cho 100 quan tiền.

Lấy Cai bạ Nguyễn Kim Truy làm Hiệp trấn Nghệ An, Thiêm sự Binh bộ Vũ Du làm Tham hiệp Thanh Hoa.

Lấy Văn hàn ở Hậu quân là Bạch Xuân Nguyên làm Tri bạ chuyên giữ việc từ chương ở Bắc Thành, theo lời xin của Tổng trấn Lê Chất.

Chánh tuần hải đô dinh là Hoàng Trung Đồng tự xin về trước Gia Định, đi thuyền công tới Hạ Châu làm việc sai phái. Vua bảo lưu lại ở Kinh, đến kỳ sẽ phái thêm lính Kinh cùng đi. Trung Đồng lại từ chối là không thuộc đường đi Hạ Châu. Vua dụ rằng : “Trung Đồng trước sau miệng nói bất nhất, đều tự lòng hắn lúc đầu muốn mượn việc công sai xin về Gia Định mua hàng hoá riêng đem đi buôn bán để lợi cho mình. Nay thấy tự Kinh phái đi, không thoả lòng riêng, cho nên thoái thác che lấp thôi. Vả lại từ cửa biển Thuận An ra khơi đến Hạ Châu, bất quá hơn vài mươi ngày. Chức hắn làm tuần hải mà dám nói không thuộc đường, thì từ trước đến nay làm việc gì ! Huống chi Phó tuần hải là Thái Vân Quý từng đi nhiều lần, há thuộc hạ nay không còn một người nào sao ! Thảng hoặc hắn và viên biền ở đô dinh đều không thuộc rõ đường biển, thì chức tuần hải đặt ra, chẳng cũng là hư vị sao ?”. Sai bộ Binh hỏi Đặng á Dưỡng và Lâm á Bảo, thì đều xin phục vụ. Bèn giam Trung Đồng ở vệ Cẩm y, vài tháng rồi tha.

Định cấm chở riêng tiền nguỵ hiệu.

Vua thấy tiền nguỵ hiệu từ Quảng Trị trở vào Nam đã cấm dùng mà dân buôn lại nhiều kẻ đổi riêng để chuyên lợi, muốn nghiêm cấm, mới chuẩn định rằng, các thuyền công tư tự Kinh đi Quảng Nam cho đến Gia Định không được chở tiền nguỵ hiệu ấy. Làm trái thì xử tội vi chế, tang vật sung công. Duy chở đi Thanh, Nghệ trở ra Bắc thì không ở lệ cấm này.

Sửa lại chùa Long Quang.

Trấn thần Phú Yên thấy bọn ác man ở hai nguồn Hà Duy và Thạch Thành thường gây hoạ, tâu xin đóng giữ những nơi xung yếu : Hà Duy thì đặt ba bảo Thạch Lĩnh, ỷ Lô, Vân Trúc ; Thạch Thành thì đặt bảo Phước Sơn, đều lấy 20 người dân tiếp cận phụ giữ, chọn người giỏi giang và quen biết tình người Man trông coi, sai theo quản thủ để phòng giữ địa giới các nguồn Trà Vân, Trà Đính thuộc Bình Định. Quảng Ngãi cũng có ác man quấy nhiễu, trấn thần xin tha dao dịch cho 300 người dân tiếp cận để phụ theo các nguyên thủ mà phòng giữ. Vua đều y cho.

Bắt đầu chế sáu hạng đĩnh bạc, gửi cho cục Tạo tác ở Bắc Thành theo quy thức mà chế tạo. (Hạng nhất nặng 1 lạng, hạng nhì 5 đồng cân, hạng ba 4 đồng cân, hạng tư 3 đồng cân, hạng năm 2 đồng cân, hạng sáu 1 đồng cân. Tiền công và vật liệu, theo việc nhẹ nặng, đĩnh 1 lạng thì 30 đĩnh cấp 1 tiền, đĩnh 5 đồng cân thì 60 đĩnh cấp 1 tiền 30 đồng, đĩnh 4 đồng cân thì 75 đĩnh cấp 1 tiền 40 đồng, đĩnh 3 đồng cân thì 100 đĩnh cấp 2 tiền, đĩnh 2 đồng cân thì 150 đĩnh cấp 2 tiền 40 đồng, đĩnh 1 đồng cân thì 300 đĩnh cấp 4 tiền. Cho nhân dân nộp tiền lệ đánh dấu chữ, cứ mỗi 10 lạng bạc nộp 2 tiền, tuỳ sáu hạng đĩnh bạc chế ra lấy số tiền ấy cấp cho thợ, còn thừa thì nộp vào kho. Người dân đem bạc đến cục xin đúc, phải theo đúng thức mà chế tạo. Nếu đĩnh bạc đúc thành mà kém phân li thì thợ đúc bị xử theo luật “cắt xén vành tiền” gia thêm một bậc. Người quản thợ thất sát thì xử tội kém người thợ hai bậc. Ai dám đúc riêng thì xử theo luật “đúc tiền tư”. Ai pha lẫn đồng chì vào thì xử theo luật “làm vàng giả”.

Tổng đốc Manh Nha Hố (tên đất) nước Anh Cát Lợi là Hà Sĩ Định sai Cá La Khoa Thắc mang thư đến dâng phương vật (500 khẩu súng tay, một đôi đèn pha lê lớn). Thuyền đến Đà Nẵng. Dinh thần Quảng Nam dịch thư dâng lên. Trong thư chỉ xin thông thương, cũng như các ngoại quốc khác, không dám xin lập phố để ở. Sai đưa đến Kinh. Ca La Khoa Thắc thành khẩn xin yết kiến.

Vua nói : “Hắn là người của tổng đốc phái đi, không phải do mệnh của quốc vương”. Không cho. Những phẩm vật dâng biếu, cũng không nhận. Sai hữu ty bàn định điều lệ về việc các nước đến buôn, làm thư của Thương bạc bảo cho biết. (Người các phủ Quảng Châu, Thiều Châu, Nam Hùng, Huệ Châu, Triệu Khánh tỉnh Quảng Đông, người các tỉnh Phước Kiến, Chiết Giang cùng các nước Đông Dương, Tây Dương đến buôn ở Kinh, thuyền rộng từ 25 thước đến 14 thước, mỗi thước đánh thuế 84 quan tiền ; 13 thước đến 11 thước thì 54 quan ; 10 thước đến 9 thước thì 42 quan ; 8 thước đến 7 thước thì 21 quan. Đến buôn ở Quảng Nam, thuyền rộng từ 25 thước đến 14 thước, mỗi thước đánh thuế 112 quan ; 13 thước đến 11 thước thì 72 quan ; 10 thước đến 9 thước thì 56 quan ; 8 thước đến 7 thước thì 28 quan. Đến buôn ở Gia Định, thuyền từ 25 đến 14 thước, mỗi thước đánh thuế 140 quan ; 13 thước đến 11 thước thì 90 quan ; 10 thước đến 9 thước thì 70 quan ; 8 thước đến 7 thước thì 35 quan. Mua các hàng quý như đậu khấu, hồ tiêu, nhục quế, ngà voi, sừng tê, yến sào, gỗ vang, gỗ mun, gỗ hồng sắc, sa nhân mễ, sa nhân quả, đều cứ theo giá mua 100 quan thì đánh thuế 5 quan ; mua gỗ làm cột buồm, bánh lái, neo, gỗ ván, giá mua 100 quan thì đánh thuế 10 quan, không được dùng gỗ lim, gỗ kiền kiền. Đến như vàng bạc, đồng tiền, thóc, gạo, muối, kỳ nam, trầm hương và chở trộm nhân dân trai gái thì đều cấm. Phàm đến buôn ở Kinh, đã đánh thuế cảng rồi mà năm ấy lại đến Quảng Nam hoặc Gia Định thì vẫn được miễn thuế. Đến buôn ở Quảng Nam mà lại đến Gia Định, hoặc đến buôn ở Gia Định mà lại đến Quảng Nam thì cũng theo lệ ấy. Duy có mua đến vật quý và gỗ lạt thì đều chiếu lệ nộp thuế. Còn các thuế như muốn nộp bằng bạc phiến thì cứ mỗi phiến nặng 7 đồng cân 2 phần tính trừ giá tiền 1 quan 5 tiền ; bạc trung bình mỗi lạng trừ giá 2 quan 8 tiền. Nộp toàn bạc toàn tiền, hoặc nửa bạc nửa tiền, hoặc mấy phần bạc, mấy phần tiền, đều cho cả). Thưởng cấp cho rồi bảo về (thưởng Tổng đốc Hà Sĩ Định ngà voi 3 đôi, quế 10 cân, kỳ nam, trầm hương đều 5 cân, sừng tê bịt vàng 4 toà, đường phèn 300 cân ; thưởng Cá La Khoa Thắc, ngà voi 1 đôi, quế 2 cân, sừng tê 1 toà, trầm hương 2 cân ; thưởng người trong thuyền, bò, dê, lợn, đều 10 con, gà vịt đều 100 con, gạo trắng, gạo đỏ đều 50 bao, gạo nếp 20 bao. Các thứ thưởng cho viên tổng đốc thì Cá La Khoa Thắc từ không dám lĩnh).

Sét đánh nhà Di Luân ở Quốc tử giám. Sắc cho bộ Lễ truyền chỉ cho Tế tửu, Tư nghiệp và bọn giám sinh đều tự xét sửa mình. Nhà bị hư hỏng thì bộ Công phải sửa chữa. Lại sai dựng nhà riêng cho giám thần ở, còn nhà Di Luân cùng phòng giám sinh thì cấm đàn bà con gái không được qua lại.

Định lệ phát trạm cho Bưu chính. ống trạm của các nha ở Kinh phát đệ đi các địa phương, việc thường thì bộ Binh 3 ngày một lần phát, việc khẩn lắm hoặc khẩn vừa thì không kể hạn ấy. Cuối tháng làm sách tâu lên.

Phó thống thập cơ Kính tiệp Tiền quân ở Bắc Thành là Bùi Văn Nguyên chết. Cho 1 cây gấm Tống và 5 tấm lụa.

Bọn tập ấm Chánh đội trưởng Nguyễn Hữu Tài (con cháu Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến) và Đội trưởng Đào Duy Thanh (con cháu Nội tán Đào Duy Từ) có đơn kêu rằng ở hai xã Bồ Đề và Tùng Châu (thuộc phủ Quy Nhân) có 19 mẫu ruộng của tổ để lại, sau cuộc loạn bị tịch thu vào quan trại, xin cấp trở lại làm ruộng thế nghiệp để nộp thuế. Vua dụ bộ Hộ rằng : “Tiên tổ chúng là công thần khai quốc, công nghiệp rõ, chính nên suy ân cho đến con cháu đời sau. Huống chi ruộng ấy tiên triều đã ngự phê làm ruộng tư rồi. Vậy thì bỏ ở ngạch trại đi, trả ruộng cho chúng”.

Đổi định số viên chức ở hai thừa ty và các thành dinh trấn. Ngạch cũ thành Gia Định 138 người, tăng làm 160 người (Ba phòng Lại, Binh, Hình thuộc Tả thừa ty và ba phòng Hộ, Lễ, Công thuộc Hữu thừa ty, mỗi phòng một người câu kê ; phòng Lại, bát cửu phẩm thư lại đều 1 người, vị nhập lưu 15 người ; phòng Binh, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 25 ; phòng Hình, bát phẩm 1, cửu phẩm 3, vị nhập lưu 30 ; phòng Hộ, bát phẩm 1, cửu phẩm 5, vị nhập lưu 35 ; phòng Lễ, bát cửu phẩm đều 1, vị nhập lưu 10 ; phòng Công, bát cửu phẩm đều 2, vị nhập lưu 25). Bắc Thành 436 người, giảm làm 314 người (Tả hữu thừa ty, câu kê đều 2 người ; phòng Lại, bát cửu phẩm thư lại đều 1, vị nhập lưu 30 ; phòng Binh, bát phẩm 3, cửu phẩm 6, vị nhập lưu 50 ; phòng Hình, bát phẩm 3, cửu phẩm 5, vị nhập lưu 60 ; phòng Hộ, bát phẩm 3, cửu phẩm 5, vị nhập lưu 70 ; phòng Lễ, bát cửu phẩm đều 1, vị nhập lưu 20 ; phòng Công, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 50). Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Biên Hòa, 60 người, đều tăng làm 74 người (Tả thừa ty, câu kê 1 ; Hữu thừa ty, câu kê 2 ; phòng Lại, cửu phẩm thư lại 1, vị nhập lưu 5 ; phòng Binh, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 10 ; phòng Hình, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 15 ; phòng Hộ, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 15 ; phòng Lễ, cửu phẩm 1, vị nhập lưu 5 ; phòng Công, cửu phẩm 1, vị nhập lưu 10). Quảng Nam, Bình Định, 138 người, giảm làm 118 người (Tả hữu thừa ty, câu kê đều 1 ; phòng Lại, cửu phẩm thư lại 2, vị nhập lưu 10 ; phòng Binh, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 15 ; phòng Hình, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 25 ; phòng Hộ, bát cửu phẩm đều 2, vị nhập lưu 25 ; phòng Lễ, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 10 ; phòng Công, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 15). Phiên An, Định Tường 118 người, giảm làm 108 người (Tả hữu thừa ty, câu kê đều 1 ; phòng Lại, cửu phẩm thư lại 2, vị nhập lưu 9 ; phòng Binh, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 13 ; phòng Hình, bát phẩm 1, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 23 ; phòng Hộ, bát cửu phẩm đều 2, vị nhập lưu 23 ; phòng Lễ, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 8 ; phòng Công, cửu phẩm 2, vị nhập lưu 14). Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn Nam hạ đều 138 người. Quảng Đức, Sơn Nam thượng, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Vĩnh Thanh đều 118 người. Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Quảng, Cao Bằng, Hưng Hoá đều 60 người. Đạo Thanh Bình 50 người. Hà Tiên 46 người. Các nơi ấy vẫn theo ngạch cũ. Cai hợp thực thụ trước, thì đổi bổ chánh bát phẩm thư lại ; thủ hợp đổi bổ chánh cửu phẩm thư lại.

Sai 60 người lính vệ Chấn uy dinh Thần cơ và đội Cường nhất, đóng giữ bảo Ai Lao, đạo Cam Lộ.

Nghệ An đại hạn.

Tháng 8, ngày Nhâm dần, yết lăng Thiên Thụ((1) Lăng Thiên Thụ : lăng Gia Long, ở núi Thụ Sơn, xã Định Môn, huyện Hương Trà.1).

Sai phái thêm biền binh canh giữ cung thành, hoàng thành và kinh thành. Định làm lệnh. (Quân Thị trung giữ sáu cửa Hưng Khánh, Gia Tường, Đông An, Tây An, Tường Loan, Nghị Phượng của cung thành, mỗi cửa đều 1 viên quan võ, 20 người lính ; quân Thị nội giữ năm cửa Tả Đoan, Hữu Đoan, Hiển Nhân, Chương Đức, Địa Bình của hoàng thành, mỗi cửa đều 1 viên quan võ, 30 người lính ; các quân Thần sách giữ mười cửa Thể Nguyên, Quảng Đức, Chính Nam, Đông Nam, Chính Đông, Đông Bắc, Chính Bắc, Tây Bắc, Chính Tây, Tây Nam của Kinh thành, mỗi cửa đều 1 viên quan võ, 30 người lính ; hai cửa Thái Bình, Trường Định của Kinh thành, mỗi cửa đều 1 viên quan võ, 20 người lính).

Sai trấn Quảng Nam dựng công quán ở cửa biển Đà Nẵng để dự bị nơi trú trọ cho quan viên sai đi việc công.

Lấy Vệ uý vệ Tả nhất quân Thị trung là Trần Văn Cường làm Vệ uý vệ Tiền nhị, kiêm thự ấn vụ Hữu thống chế Hữu dực quân Thị trung, Vệ uý Nguyễn Văn Nguyên làm Vệ uý vệ Tiền nhất, Vệ uý Nguyễn Văn Quyền làm Vệ uý vệ Tả nhất, vẫn kiêm lĩnh các đội túc trực vệ Cẩm y, Vệ uý vệ Nội hầu Nguyễn Hữu Khâm làm Vệ uý vệ Hữu nhất, quân Thị trung.

Sai Tả thống chế quân Thị trung là Tôn Thất Dịch kiêm quản vệ Nội hầu.

Sai Thiêm sự Công bộ Nguyễn ức giám đốc công việc Nội tạo, cấp cho ấn đồ ký Nội tạo bằng ngà.

Miễn việc dự đình nghị cho Thống chế Thuỷ quân Phạm Văn Tường. Vua dụ đình thần rằng : “Phạm Văn Tường không học, vì hắn làm việc lâu ngày có chút công lao, nên thăng lên đến Nhị phẩm. Trước cho là quan to thì được dự hàng bàn chính trị trong triều, nhưng không khỏi khi lâm sự thì chỉ tuỳ theo mọi người mà khen chê. Nếu mắc vào lại nghị mà tha thì bỏ pháp luật, mà làm tội thì không biết gì. Vậy từ nay gặp đình nghị thì miễn cho không dự”.

Người Man Cam Khoái ở Thuận Thành quấy nhiễu dân biên thuỳ. Trấn thần Bình Thuận phái lính cơ Thuận nghĩa hội bắt, quân Man nghe biết, chạy trốn xa nên rút quân về.

      Cấp tiền gạo cho tăng chúng chùa Thiên Mụ. (Mỗi tháng cấp 60 quan tiền, 50 phương gạo đỏ, 5 phương gạo trắng và 6 thăng muối). Sai mộ 30 người làm tự phu, tha cho dao dịch.

Từ tế sứ Từ tế ty lĩnh Quản phủ Hà Trung là Tôn Thất Bằng làm sách tâu rằng có 6 người công tính là bọn Nguyễn Hữu Khuê xin ghi vào ngạch. Vua y cho. Nhân sắc rằng con cháu các chi công tính, khi tuổi trưởng thành thì viên Từ tế sứ tra rõ phổ hệ, soạn thành danh sách ; ở Bắc Thành thì do Binh tào, ở Thanh Hoa thì do trấn thần tục ghi vào ngạch.

Gọi Ký lục Quảng Nam là Trần Lợi Trinh, Cai bạ Quảng Bình là Lương Tiến Tường, Ký lục Quảng Ngãi là Vũ Huy Đạt vào yết kiến.

Sai Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên mộ dân ngoại tịch ở bốn dinh và các trấn sung bổ vào số lính khuyết ở ba vệ Thị tượng quân Thị nội.

ở Thanh Hoa có thuyền bị nạn của người buôn nước Thanh là Lâm Trường Thịnh đậu ở cửa biển Y Bích. Thủ ngự là Phan Văn Lý dung túng cho dân cướp hàng hoá. Lại có Ngô Văn Thiệu người phủ Hà Trung, vì có người oán vu cho đốt nhà mưu lấy của, Tri phủ là Đỗ Xuân Thái cố ý khép vào tội, Thiệu chết ở nhà giam. Hai việc ấy kêu đến Kinh. Vua sai Thiêm sự Hình bộ là Vũ Viết Trường và Lang trung là Nguyễn Công Duy đến tra hỏi, họ đều lấy ý riêng mà định án. Vua dụ rằng : “Trẫm nghĩ hai vụ án ấy chi tiết rườm rà, phải nên triệt để tra rõ, để cho việc như nước cạn lòi đá, lúa cỏ phân biệt. Ngờ đâu bọn hắn, kiến thức mơ hồ, xử đoán chỉ toàn bằng vào đoán chừng, thì làm sao phục được lòng người”. Bèn giao xuống đình thần xét hỏi lại. Hai người đều bị lột bỏ mũ áo, mặc áo xanh đợi xét. Trường sợ tội, tự thắt cổ chết. Bộ Hình tâu lên. Vua nói : “Tội hắn không đến nỗi chết, sao kiến thức kém cỏi quá thế”. Sai cấp cho tiền tuất. Sau đình thần thẩm án tâu lên. Phan Văn Lý tội lưu, chuẩn cho đồ ; Đỗ Xuân Thái trảm giam hậu ; Nguyễn Công Duy thì được giảm tội chết, phát đi sung quân.

Cho Thổ ty châu Lang Chánh, trấn Thanh Hoa là Lê Phi Ba làm Hộ trưởng quế hộ (trật Tòng cửu phẩm). Một trăm người quế hộ, từ khi Hà Công Thái chết, không người cai quản, trấn thần đề cử Phi Ba, bèn cho chức ấy.

Dựng cung Trường Ninh.

Sai thành Gia Định cấp áo quần cho binh hai cơ Thanh Thuận và An Thuận. Binh hai cơ ấy nhiều người theo đường thượng đạo trốn về. Vua nghe biết, sắc cho trấn thần Thanh Nghệ tra bắt, chém trước tâu sau.

Tổng trấn Bắc Thành là Lê Chất lại dâng biểu xin về Kinh chầu hầu, nhân thể được về thăm mẹ. Vua dụ rằng : “Khanh lần trước dâng biểu xin, đã giáng đặc chỉ dụ bảo đinh ninh. Nay lại dâng biểu trình bày, lời lẽ ân cần, ta biết rõ. Nhưng nghĩ khanh là đại thần công lao danh vọng, chuyên trấn nơi quan trọng, mà các việc binh dân nơi ấy lại rất bận rộn, có được người kinh lý thì mới có thể giữ được yên ổn. Huống chi ngày Bắc tuần giao cho đơn trạng dân kêu, các việc phần nhiều chưa làm xong. Phải nên gắng lưu lại xếp đặt cho ổn đáng, đợi sang năm sẽ xuống dụ chỉ cho về Kinh, cũng đủ yên ủi tấm lòng thành thực luyến vua, nhớ mẹ của khanh”. Phát đồ nội tạo một cái chén sắc mỡ cắt bịt vàng, một ống điếu pha lê bịt vàng, phái người đem cho.

chính biên

Đệ nhị Kỷ - Quyển XVII

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa thu, tháng 9. Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức dâng một bộ Lịch đại kỷ nguyên và một bộ Khang tế lục.

Nước Xiêm La sai bọn Sá Chiết Sa Nê đem quốc thư và phẩm vật đến cáo tang vua thứ ba nước ấy. Đình thần bàn, đều nói : “Vua thứ ba nước Xiêm khi lập lên chưa từng thấy báo, nay gửi thư cáo phó, thật không ra sao. Duy nước ta cùng nước Xiêm tình láng giềng giao hiếu đã lâu, họ đã có lời báo, nghĩa không nên cự. Xin theo việc cũ năm Gia Long thứ 6, sai sứ đi phúng”.

Vua đặc biệt hạ lệnh nhân có sứ giả họ đến đưa cho đồ tặng phúng và bảo về (tặng Phật vương Xiêm 20 cân quế, 10 cân trầm hương, lụa vải đều 200 tấm ; phúng vua thứ ba 50 tấm lụa đỏ, 100 tấm vải vàng, 100 cân sáp ong, 1.200 cân đường cát).

Tư nghiệp Quốc tử giám là Phan Bảo Đĩnh già yếu xin nghỉ việc. Cho 30 lạng bạc.

Lấy Khâm sai cai cơ Nguyễn Đức Triệu làm Quản đạo đạo Quang Hoá kiêm quản hai phủ Thuận Thành và Quang Phong.

Đổi danh hiệu đồn điền ở bốn phủ thành Gia Định. Tân Bình đổi là Gia Bình hiệu (3 hiệu, 22 trại, nhân số 750 người) ; Phước Long đổi là Gia Phước hiệu (1 hiệu, 4 trại, nhân số 138 người) ; Định Viễn đổi là Gia Viễn hiệu (14 hiệu, 142 trại, nhân số 6.174 người) ; Kiên An đổi là Gia An hiệu (8 hiệu, 79 trại, nhân số 2.641 người). Đầu đời Gia Long, các trại đồn điền biệt nạp lấy tên huyện hay tên tổng sở tại để gọi, số đinh chỉ ghi vào sổ thuế. Đến nay thành thần biên chế thành từng hiệu, xin đặt lại tên, ghi theo ngạch binh. Vua y cho. Chánh phó đốc suất 48 người đều được miễn thuế thân, tiền đầu quan cùng thóc sưu.

Cho các Tiến sĩ Nguyễn ý làm Hàn lâm viện Tu soạn, Lê Quang, Phan Hữu Tính, Hà Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khê, Phan Bá Đạt, Trần Lê Hiệu làm Biên tu. Sau thành lệ. Hiệu cáo có mẹ già, xin ở nhà trọn việc nuôi mẹ. Vua y cho. ý không bao lâu thì chết.

Đặt cơ Định man ở Quảng Trị, cơ có 10 đội, lấy xã dân phụ cận ở đạo Cam Lộ và 370 người viên binh thuộc đạo ấy cùng bảo Ai Lao để sung bổ. Binh chia làm ba ban, 1 ban đóng giữ, 2 ban nghỉ ngơi. Đương ban thì mỗi người được cấp lương gạo 1 phương. Mỗi tháng một lần thay đổi. Gọi lính thú các đội Chấn uy và Cường nhất về.

Trấn thần Nghệ An tâu nói rằng hơn 500 người đinh xã Phước Lộc huyện Hương Sơn thuộc hạt biệt nạp gỗ lim, gần đây vì điêu tàn, xin đổi cho chịu binh dao mà tha cho thuế thiếu. Vua hạ lệnh theo sổ đinh mà kén binh như lệ, tha cho một nửa thuế thiếu.

Trịnh Hoài Đức dâng sớ cho rằng là nước nhà dẫu yên, nhưng không thể quên việc chiến trận : “Thế tổ Cao hoàng đế ta khi mới đánh dẹp, từ thị vệ cấm binh đến các quân dinh đã có chưởng lĩnh, phó tướng lại có chánh dinh phó dinh, chánh vệ phó vệ, chánh cơ phó cơ. Khi thường thì phó viên thay công việc khó nhọc của chánh viên, khi có việc thì phó viên chia trách nhiệm ngự địch với chánh viên, cho nên giữ tất vững, đánh tất được, mới có thể được công to, giúp nên đại định. Từ khi yên tĩnh về sau, các cựu thần công lao và túc tướng tài giỏi, có người già yếu hay hưu trí ; có người tật bệnh hay chết mất, đến nỗi các chức chánh phó ở cửa quân thường khuyết. Nay tuy là thủ thành thì dùng văn, cố nhiên không cần đến quân lữ, song có văn sự tất có võ bị, xin ở trong đám coi binh chăn dân chọn lấy người tướng cũ cần lao, chuyển đổi cất lên làm chánh viên, hoặc châm chước bỏ bớt, hoặc ghi sổ thuyên bổ, quyết đoán ở tự lòng thánh, lần lượt cử hành, để bổ sung vào quân túc vệ, khiến cho danh vị định sẵn, quân lính tập rèn, thì trên dưới cùng yên, mà binh là binh có quy chế, tướng là tướng có tài năng. Nếu đợi có công lao chứa chất mà sau mới cất nhắc, sợ vạn nhất có việc, vội vàng sung bổ, đã vị tất được người mà chậm không kịp việc”.

Vua phê bảo rằng : “Sự lý trình bày, xưa nay dẫu khác, song điều phải cũng có thể lựa chọn mà thi hành được”.

Cấp tiền vốn công cho các hộ làm đường ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Gặp Quảng Ngãi giá gạo hơi cao, các đường hộ đều xin lĩnh thóc. Dinh thần tâu xin cho họ. Lại nói rằng trong dân gian gạo đắt là vì nhà giàu tích trữ để cầu giá cao nên đến nỗi thế. Nay đem thóc nhà nước chia phát cho dân thì thóc tích trữ ấy không có thể do đâu mà nắm lợi ở chợ được, ngõ hầu giá gạo có thể hơi bình ổn. Tưởng đó cũng là một thuật nhân quyền nghi đấy. Vua y cho. Sai phát 15.000 hộc thóc (mỗi hộc thóc trị giá 1 quan tiền).

Kinh sư lụt to, nhiều nhà dân đổ lụi. Vua sai dinh thần Quảng Đức chẩn cấp. Binh lính chết đuối được cấp thêm 3 quan tiền tuất. Nhân sắc rằng phàm trong dinh vệ cơ đội các quan ở Kinh, nhân có việc công sai mà gặp thuỷ hỏa tai thương mà chết thì ở trong Kinh thành do giám thành sứ, ở ngoài do dinh thần Quảng Đức đem việc tâu lên để gia cấp tiền tuất. Định làm lệ mãi mãi.

Quảng Bình, Quảng Trị cũng mưa lụt, dân chết đuối và nhà cửa trâu cày trôi mất, đều được cấp tuất.

Thổ dân Hưng Hoá là Lý Khai Ba nổi loạn. Khai Ba người động Cam Đường, châu Thuỷ Vĩ, trước lấy tà thuật mê hoặc lòng người, dân Man theo nhiều, mới ngầm mưu làm phản, nguỵ xưng là Lý hoàng, cùng với bọn người nước Thanh là Mã Triều Châu, người Man là Vương Vĩnh Phát, rủ nhau họp đồ đảng đến vài nghìn người, cướp động Vũ Lao, giết Cai đội Đặng Văn Ba mà chiếm giữ bảo Trấn Hà((1) Trấn Hà : nay là Bảo Hà.1).

Trấn thủ Hưng Hoá là Nguyễn Đức Niên nghe báo đem binh đánh. Giặc bỏ bảo chạy. Lại họp hơn nghìn người đốt phá phố Bảo Thắng((2) Bảo Thắng : nay là Phố Lu.2) và vây bảo. Viên Chiêu thảo đồng tri là Điêu Quốc Thể cáo cấp với thành. Thành thần lập tức sai Chưởng cơ thống quản thập cơ Chấn định là Nguyễn Khắc Tuân lĩnh 1.000 binh theo bờ phía bắc sông Thao, cùng Nguyễn Đức Niên lĩnh 1.000 binh theo bờ phía nam đều tiến và gửi hịch cho Trấn thủ Tuyên Quang là Đào Văn Thành đem 1.000 binh đến động Cáo Niên sách ứng. Lại sai Tuyên uý sứ châu Chiêu Tấn là Điêu Quốc Thuyên, Phòng ngự đồng tri là Cầm Nhân Nguyên, Tuyên uý sứ châu Vị Xuyên là Nguyễn Thế Nga đều đem binh của châu chia đường ngăn đánh. Việc tâu lên. Vua sai đình thần truyền dụ rằng : “Giặc ấy rủ rê dân Man, đã thành đám lớn. Bọn lãnh binh Nguyễn Khắc Tuân phải tuỳ cơ hội tiễu, sao cho một trận quét sạch sào huyệt, bắt được cừ khôi, không nên chia ra nhiều ngả mà chia nhỏ sức quân đi. Thổ tù như Điêu Quốc Thuyên, Nguyễn Thế Nga, và các tù trưởng có tiếng trong các tổng sách các châu Văn Bàn, Thuỷ Vĩ thì đều sai đem thổ binh theo quân đánh dẹp. Người nào có công thì khen thưởng ; nếu trông ngóng chần chờ thì lấy quân pháp mà xử. Những dân ngu Mán, Thổ bị chúng lừa dối mà theo, nếu biết hối cải sửa mình về với triều đình thì cũng gia ân không trị tội. Những binh dân Mán, Thổ mà bắt sống được chính yếu phạm là Lý Khai Ba thì cho quan hàm Chánh ngũ phẩm và thưởng 400 lạng bạc, giết chết được thì cho quan hàm Lục phẩm và thưởng 300 lạng bạc, bắt được thứ yếu phạm cũng đều lượng thưởng hậu. Kế hoạch biên sự và tình hình quân sự thì Lê Chất, ngươi vốn là quen thạo, trẫm bất quá dặn bảo một hai điều mà thôi, phải cẩn thận vào”. Chất nhân xin tha tù quân lưu hơn 200 người quê ở Gia Định cho đi trước ra sức chuộc tội. Vua y cho. Sai cấp quần áo tiền gạo và dụ rằng sau khi yên việc sẽ bổ cho vào quân ngũ (động Vũ Lao, động Cáo Niên, bảo Bảo Thắng đều thuộc châu Thuỷ Vĩ, bảo Trấn Hà thuộc châu Văn Bàn).

Dựng thêm kho tạm ở bốn trấn Sơn Nam thượng hạ, Hải Dương, Kinh Bắc, chi tiền hơn 9.000 quan. Thành thần xin chiếu số ruộng của dân mà thu. Vua không cho góp, sai phát tiền kho để làm.

Chuẩn cho viên biền các vệ đội mộ binh ở Gia Định và các quản cơ suất đội các cơ đội ở năm trấn thuộc thành hạt đều được chiểu phẩm chi bổng.

Huyện Nông Cống, trấn Thanh Hoa nhiều trộm cướp. Trấn thần xin đặt hai bảo ở miền rừng núi xã An Nẫm, phái binh đóng giữ. Vua y cho.

Cho vợ con Nguyễn Văn Phú là Phó vệ uý công thần Vọng Các được lương tiền hằng tháng.

Bắt đầu đặt ở trạm Kinh 1 cai trạm và 20 phu trạm, lấy dân xã An Cựu bổ vào để ứng trực công đường bộ Binh. Có công văn công hoá thì đệ đi, tự Kinh thành vào trong đến trạm An Nông, ra ngoài đến trạm Thượng An, hằng tháng trạm cấp tiền 1 quan gạo 1 phương, phu trạm chia hai ban, đương ban mỗi người cấp 1 phương gạo.

Đổi định tên các trạm từ Quảng Đức trở vào đến Hà Tiên trở ra đến Sơn Nam. (Quảng Đức 6 trạm : Đức Phước, Đức Thọ, Đức Cao, Đức Nông, Đức An, Đức Mỹ. Quảng Trị 4 trạm : Trị Xá, Trị An, Trị Cao, Trị Lập. Quảng Bình 6 trạm : Quảng Lộc, Quảng Xá, Quảng Ninh, Quảng Cao, Quảng Khê, Quảng An. Nghệ An 11 trạm : An Thần, An Sa, An Lạc, An Khê, An Đan, An Liêu, An Dưỡng, An Kim, An Hương, An Luỹ, An Quỳnh. Thanh Hoa 5 trạm : Thanh Khoa, Thanh Xá, Thanh Thái, Thanh Sơn, Thanh Cao. Ninh Bình 2 trạm : Ninh Du, Ninh Đa. Sơn Nam 5 trạm : Sơn Phú, Sơn Cầu, Sơn Khoái, Sơn Hồi, Sơn Mai. Quảng Nam 7 trạm : Nam Chân, Nam Hoa, Nam Giản, Nam Phước, Nam Ngọc, Nam Kỳ, Nam Vân. Quảng Ngãi 5 trạm : Ngãi Bình, Ngãi Lộc, Ngãi Mỹ, Ngãi Sơn, Ngãi Quán. Bình Định 6 trạm : Bình Đê, Bình Trung, Bình Dương, Bình Sơn, Bình An, Bình Điền. Phú Yên 6 trạm : Phú Bình, Phú Khê, Phú Đường, Phú Tân, Phú Vinh, Phú Đê. Bình Hoà 11 trạm : Hoà Phú, Hòa Mã, Hoà Lãng, Hoà Hoàng, Hoà Mỹ, Hoà Cát, Hoà Thịnh, Hoà Tấn, Hoà Du, Hoà Duân, Hòa Thuận. Bình Thuận 16 trạm : Thuận Lai, Thuận Mai, Thuận Trinh, Thuận Lãng, Thuận Hảo, Thuận Võng, Thuận Phú, Thuận Động, Thuận Sơn, Thuận Tỉnh, Thuận Phan, Thuận Nguyên, Thuận Lâm, Thuận Trình, Thuận Dung, Thuận Phương. Biên Hoà 5 trạm : Biên Thuận, Biên Thịnh,

Biên Long, Biên Phước, Biên Lễ. Phiên An 4 trạm : Phiên Cẩm, Phiên Nhân, Phiên Tân, Phiên Lộc. Định Tường 3 trạm : Định Tân, Định Hoà, Định An. Vĩnh Thanh 3 trạm : Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Vĩnh Giai. Hà Tiên 2 trạm : Kiên Giang, Hà Tiên. Nam Hoa sau đổi là Nam ổ. Thuận Dung sau đổi là Thuận Phước).

Bình Định và Quảng Nam gạo đắt. Sai bọn Thiêm sự Nguyễn Công Đàm, Hoàng Nghĩa Thao đi hội đồng với quan dinh trấn phát thóc kho, Bình Định 1.000 hộc, Quảng Nam 12.000 hộc, giảm giá bán ra (1 hộc thóc giá 1 quan tiền), cho mỗi người 21 lạng bạc. Sắc rằng từ sau quan Kinh có sai đi việc công thì lượng cho lộ phí, để nuôi đức thanh liêm.

Chuẩn định từ nay có phái bộ ty đem ban cấp chiếu dụ sắc mệnh cho các địa phương thì đều tuỳ đường sá xa gần mà thưởng tiền theo thứ bậc khác nhau (thành Gia Định 10 quan ; Bình Thuận 8 quan ; Bình Hoà 7 quan ; Bắc Thành, Phú Yên 6 quan ; Bình Định, Thanh Hoa, Ninh Bình 5 quan ; Quảng Ngãi, Nghệ An 4 quan ; Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình 3 quan. Sau đổi định : Gia Định, Bắc Thành 5 quan ; Thanh Hoa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Ninh Bình 4 quan ; Quảng Trị 2 quan). Hoặc có thị vệ cùng với bộ ty mang đi thì cũng theo lệ ấy.

Sai bộ Hình xét tội trạng những tù phạm về kỳ thu thẩm, chia làm hai sách, tình chân và hoãn quyết((1) Tình chân : tình thực đáng tội.

     Hoãn quyết : hoãn hành hình.1) mà tâu lên. Vua duyệt xem, phê bảo : Tù phạm đáng xử quyết thì bắt giam. Có tên trọng phạm là Trần Hung kỳ thu năm ngoái kêu oan, giao tra xét án chưa tâu lên, bộ Hình nhân thế ghi lầm vào sách tình chân. Lại có tù hoãn quyết là Lê Nhị bỏ sót không đăng để xét, Lê Bá Phẩm và Nguyễn Huy Trinh tự giác nêu ra xin chịu tội. Giao xuống đình thần bàn xử. Xin đều giáng bốn cấp đổi đi nơi khác.

Vua dụ rằng : “Nhà nước minh việc hình để giúp giáo Hoá, cho nên đặt ra bộ Hình, thì tất cả các án phải nghiên cứu rõ ràng cẩn thận, phân biệt tội trạng, đình nghị tâu lên, trẫm mới có thể nắm mức chung mà xét đoán. Nếu có việc chưa xác đáng, tình có thể tha, không khai vào sách tâu thì trẫm biết đâu mà rửa oan được. Phỏng có một kẻ nào không được ơn, phải ngậm oan trong ngục, đến nỗi phạm hoà khí của trời, thì ai chịu lỗi ấy. Trẫm mới nghĩ đến đấy đã thấy rùng mình rồi. án Trần Hung và Lê Nhị, may mà biết sớm, không thế thì kẻ vô tội đã bị chết oan, kẻ có tội lại được may sống. Kẻ có tội giả sử được chậm giết cũng không hại lắm, mà kẻ vô tội trót đã bị hình mà chết thì có sống lại được đâu ! Tội của bộ Hình đã bất tất nói, mà trẫm cũng chẳng khỏi lỗi bất minh. Làm tôi con mà để lo cho vua cha thì tội còn nói sao đây ? Lời bàn của đình thần thực là xác đáng, không phải nghiêm khắc đâu. Nhưng nghĩ còn biết phát giác ra sớm cũng đáng thương tình. Vậy gia ân đổi làm giáng một cấp lưu để bắt gắng sức sau này. Đều phải đập ngực ghi nhớ, biết đau đớn mà tỉnh ngộ lỗi trước. Nếu quen nhờn với ơn mà điềm nhiên không xấu hổ, không cố gắng, thì trẫm cũng không thể che chở mãi bọn ngươi được”.

Chuẩn định từ nay ngày đình nghị thì đơn trạng của dân kiện cáo, việc nên tâu hay nên bác, theo từng khoản biên lược ra, một bản giao Văn thư phòng để có hỏi đến, một bản để ở bộ Lại để chấp chiếu. Việc đã bác mà kêu lại thì đem sự trạng tâu lên. Lại sắc rằng từ nay có ai đón xa giá tâu bày thì người ấy giữ lại ở tả vệ để có hỏi đến, lời nói có thể dùng thì ghi mà dùng, nói bậy không thực thì trừng trị.

Trấn thần Thanh Hoa tâu rằng công việc ở trấn bề bộn, nên đã họp hết biền binh quân Thần sách để phân phái, xin cấp cho lương tháng. Vua nói : “Binh có phiên thứ thay nhau cho đều sự khó nhọc. Nay lại thiện tiện đòi ra toàn số, đó có phải là ý nuôi binh của triều đình đâu ?” Dụ sai theo thực số chia làm ba ban mà chi lương, bắt đầu từ mồng 1 tháng 10.

Phía ngoài thành Thanh Hoa thất hoả, cháy lan hơn 90 nhà. Trấn thần phát thóc kho hơn 100 hộc viện lệ năm Gia Long (năm Gia Long thứ 10, chuẩn định các địa phương gặp có tai thương, dân cư đói túng, đáng khẩn cấp phát chẩn thì một mặt tâu lên, một mặt lượng phát gạo kho chuẩn cấp), phát chẩn trước rồi sau tâu.

Vua nói : “Lệ ấy là nói những tai thương cấp bách. Hạt ngươi chỉ là việc nhà dân thất hoả, sao lại nhận lầm mà viện lệ tự tiện cấp tứ. Song việc làm là do săn sóc dân tạm miễn nghị”.

Trước đây nhân dân ở bốn thôn phường ấp, ấp Động Hải, Cảnh Dương, Hữu Hùng, Trung Hùng thuộc Quảng Bình thất hoả, cháy lan hơn 280 nhà, có 2 người chết, dinh thần đem việc tâu lên, chuẩn cấp tiền tuất mỗi người 3 quan. Đến nay nhân trấn Thanh Hoa báo việc phát chẩn, vua hỏi đến việc trước, bộ Hộ tâu rằng : “Khoảng năm Gia Long, dân hạt ấy cũng có thất hoả hơn 500 nhà, đã nhờ ơn Thế tổ Cao hoàng đế ta cấp cho 500 quan tiền và 500 phương gạo”. Vua nói : “Chính hay ơn hậu như thế, phải nên giữ làm gia pháp, nhưng trẫm hồi ấy chỉ giữ lễ hầu cơm, không dự chính sự, nên không biết rõ. Ngày nọ Quảng Bình báo tai mà đình thần và bộ Hộ không đem việc ấy tâu bày, đến nỗi dân kỳ phụ mà không được ơn ban xuống”. Lập tức sai dinh thần phát 1.000 quan tiền và 300 phương gạo để truy cấp.

Dụ rằng : “Từ sau gặp việc ấy, bất luận là đặc chỉ cách ngoại, dù án đã xong rồi mà thấy có ích lợi cho quan lại binh dân thì các nha môn cứ tâu lên, không được làm thinh”. Xã Cổ Thành ở Quảng Trị hồi đầu mùa hạ cũng có hoả hoạn, cháy lan hơn 90 hộ, sai truy cấp 300 quan tiền.

Mùa đông, tháng 10, mồng 1, tế đông hưởng.

Chuẩn định từ nay phàm phủ huyện thuộc hạt các thành dinh trấn có khuyết mà không có người đồng sự kiêm lý thì chọn viên nào giỏi việc cho quyền nhiếp ấn vụ. Làm lệnh mãi mãi.

Định Viễn công là Bính gọi thợ mũ để chế mũ con hát. Người thợ vì mưa lụt không đến, công giận bắt đánh. Thiêm sự Nội vụ là Hồ Hữu Thẩm đem việc tâu lên. Vua gọi quở rằng : “Em nay 26 tuổi không còn nhỏ bé nữa, sao không bỏ cái tính trẻ con để đến đức thành nhân, cứ cam tự xử ngu dại hết sức như thế. Em còn nhớ năm trước bắt con người ta làm con hát bị Hoàng khảo quở không ? Ngày ấy anh van khóc hết sức xin cho, Hoàng khảo vẫn không vì tình riêng mà bỏ phép công, rốt cuộc em bị đánh roi. Nay em có tội, trong anh em có ai xin cho đâu. Ví thử có người xin, anh thương mà tha thì phép công làm sao ? Há chẳng là làm nặng thêm tội cho anh ư ? Nếu theo luật mà trị thì tình xương thịt làm sao ? Há chẳng làm đau lòng cho anh ư ? ấy đều là anh chẳng dạy được em, trên đã đắc tội với Liệt thánh cùng Hoàng khảo, dưới lại đắc tội với thần dân, lưu trong sử sách, nghìn đời về sau sẽ cho anh là người thế nào ? Vả anh có ngày nay là Hoàng khảo để lại nghiệp rất lớn, giao cho việc rất khó, cho nên sợ lo nơm nớp, không dám khinh thường chút nào, là vì nghĩ rằng làm vua, ngôi càng cao thì thân càng nguy vậy. Em thử nghĩ xem. Phàm hoàng thân quốc thích, đã không khó nhọc về chính sự, chỉ lấy thi thư làm vui, thì càng phải kính giữ phép tắc, chớ để mất tiếng hay. Nếu lại kiêu ngạo phóng túng, lấy thế lấn người, thì trăm họ hỏng hết, còn phú quý với ai ? Huống chi em làm mũ con hát là việc vô ích mà bách người ta giữa lúc mưa lụt thì có nên không ? Lỗi lần này anh tạm tha cho, nếu lại còn như thế thì tự có phép công, cuối cùng không thể lấy tình riêng anh em mà bỏ phép công của nước. Em nay huyết khí chưa định, nên chưa biết nghĩ thôi. Sau nên biết tự ức chế thì sẽ khỏi tội lỗi mà giữ được phú quý. Đến khi bốn năm mươi tuổi, nghĩ lại lời nói của anh, mới biết là thương nhau đến thế nào”.

Công cúi đầu tạ tội. Bèn sai Thống chế Vũ Viết Bảo đánh mắng cai đội thuộc phủ để răn cái tội không biết căn ngăn. Nhân sắc cho bộ Lại chọn người cai đội lâu năm có hạnh kiểm làm phó trưởng sử để giúp đỡ.

Vua lại bảo Hàn lâm Thừa chỉ Hoàng Quýnh rằng : “Các hoàng tử sang năm sẽ ra Các đọc sách, nên truyền chỉ cho Trịnh Hoài Đức chọn cử 8 người làm bạn độc. Tuy không được người đại hiền để đương chức sư phó, cũng phải lấy người lòng ngay thẳng nết đứng đắn mới được”. Quýnh tâu rằng trước sung chức trực học chỉ chuyên việc văn học mà thôi, xin cho được trông coi phủ thuộc, ai có lỗi thì trừng trị, như thế bọn tiểu nhân không dám rủ rê làm điều trái nữa. Vua cho là phải.

Trích bổ dân huyện Nga Sơn, trấn Thanh Hoa làm thuộc lệ để phục sự ở Nguyên miếu. Trước là dân Quý hương 84 người sung bổ thuộc lệ, gần đây vì tai dịch ngày điêu hao dần, họ tâu xin bắt thêm dân phụ cận cùng phục dịch. Vua sai trấn thần bàn cho ổn đáng tâu lên. Bàn rằng Quý hương là căn bản xây nền, nên có phân biệt với dân thường để tỏ rõ quý tiện, xin lấy đinh số 82 người ở 9 xã thôn 2 tổng Phi Lai, Cao Vịnh thuộc huyện Nga Sơn tiếp giáp Quý huyện (đều là dân bất mãn((1) Dân bất mãn : dân chưa đủ số ngạch để thành suất.1) và dân mới về) bổ làm thuộc lệ, tha cho tạp dịch, do Đội trưởng Quý hương là Nguyễn Đình Chức cai quản. Khi gặp các tiết lễ miếu hưởng, cùng các tạp dịch cắt cỏ, dọn dẹp sửa sang nơi miếu vũ, thì bắt đến phục dịch, xong việc thả về. Dân Quý hương thì sai theo ty Từ tế phụng giữ việc thờ cúng. Vua y theo.

Trấn Nghệ An gạo đắt. Sai bọn Thiêm sự Nguyễn Công Đàm, Lưu Đình Luyện, Lang trung Lê Vạn Công, hội đồng với trấn thần chia đi các kho Kỳ Lân, Hà Trung, Tiên Lý, phát 30.000 hộc thóc bán cho dân.

Định lệ ngày Đông chí đình việc hành hình.

Dụ rằng : “Trẫm yêu nuôi dân, trong việc ngục tụng hình danh thường vẫn có ý kính mệnh thương dân, giữ phép cẩn thận. Gián hoặc có bọn hung ác làm bậy phạm tội mà phép nước khó lòng dung thứ, bất đắc dĩ, phải dùng hình thì chỉ mong dùng hình để khỏi phải dùng binh. Nhưng nghĩ tiết Đông chí khí nhất dương mới sinh, chính là lúc trời đất phát dục, muôn vật bắt đầu, cùng với tháng trọng xuân tế

Nam Giao là điển lớn kính trời tôn tổ, nên phải vâng theo đạo trời mà rộng mở lòng nhân. Vậy hạ lệnh cho các nha môn coi việc hình, có văn án tội chém hay giảo đáng xử quyết thì trước Đông chí 3 ngày và sau tế Giao 10 ngày đều đình hành hình, để thể đức hiếu sinh của trời. Nếu tình tiết nặng hơn phải quyết hình ngay thì không theo lệ ấy”. Lại thấy từ trước đến nay các địa phương sau khi quyết tình thì tâu lên vua hay tư về bộ không nhất trí, sai bộ Hình thông sức đều phải tâu lên.

Nguyễn Bá Xuyến có tội bị cách chức. Bá Xuyến trước làm Trấn thủ Cao Bằng, cùng Hiệp trấn Trần Văn Thái phạm tội tham tang. Đến nay án của thành nghị tội đồ. Vua nói : “Bá Xuyến là người Bắc, đầu đời trung hưng, đường xa nghìn dặm, mà tìm đến Gia Định để dâng lòng thành lại gắng sức đi trận, mình mang thương nặng chặt tay, vì công trước ấy có thể giảm tội”. Bá Xuyến bèn được cách chức. Thái thì đã chết, truy thu bằng sắc.

Bàn việc xây đắp thành Quảng Bình.

Vua từng bảo thị thần rằng : “Khoảng năm Gia Long, thành ấy đã từng sửa đắp, mà buổi đầu làm tạm, chưa dùng gạch đá. Trẫm nghĩ Quảng Bình phía nam gần kinh kỳ, phía bắc có Hoành Sơn, là nơi rất xung yếu, thành trì không thể không làm cho kiên cố. Vậy bàn sang năm làm”. Bèn sắc cho các đình thần thuê dân lấy đá núi, một đống đá (vuông 1 trượng, cao 2 thước 5 tấc) cấp cho 15 quan tiền.

Định lệ cấm ra vào Văn thư phòng. Phàm quan viên Chánh nhị phẩm trở lên và người có chỉ mới được cho ra vào. Ngoài ra, vô cố thiện tiện ra vào, Tứ phẩm trở lên phạt bổng 3 tháng, Ngũ phẩm trở xuống đánh 30 roi, chức nhàn tản thì đánh 50 roi ; nhân thế mà tiết lậu việc quan trọng cơ mật thì trị tội nặng hơn.

Đổi bổ nguyên Khâm sai chưởng cơ vệ uý vệ Hữu bảo nhị là Phạm Văn Lý làm Chưởng cơ hành chức vệ uý vệ Tiền bảo nhị. Đầu đời Gia Long đổi Hữu quân làm Tiền quân, các vệ đội Tiền bảo Tiền sai sở thuộc gián hoặc có bọn quản suất được chiếu ban hay giấy phó của công đồng hãy còn mang hiệu cũ Hữu quân. Đến nay thự Tiền quân Trần Văn Năng trình bày, bèn đổi bổ như thế.

Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chăn đưa thư đến Gia Định, xin đem binh dân nước ấy để hợp sức tiếp tục đào đường sông Vĩnh Tế. Lê Văn Duyệt đem việc tâu lên. Vua xuống dụ khen ngợi. Sai Duyệt làm quy hoạch trước. Duyệt tâu xin phát hơn 39.000 người binh dân ở thành và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường cùng đồn Uy viễn, với hơn 16.000 người binh dân nước Chân Lạp, chia làm ba phiên, để mùa xuân sang năm khởi công, đầu hạ thì xong. Vua y cho.

Dụ rằng : “Đường sông Vĩnh Tế liền với một lộ tân cương, xe thuyền được lợi rất nhiều. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta mưu sâu tính kỹ, để ý đến việc biên cương, buổi đầu đã một lần đào, công việc chưa xong. Trẫm noi theo chí trước, dốc lo làm sao một lần khó nhọc để thong thả lâu dài, khanh nên tính toán thế nào, hẹn ngày tâu công, để xứng ý trẫm. Vả chăng sông ấy không phải lợi cho Chân Lạp, vua Phiên xin thế vị tất là do thực tình. Ngày nào dụ đến nơi, họ tất sẽ có lời ngăn trở. Song việc làm quả quyết thì nên, dùng dằng thì hỏng. Trẫm đã định trước, họ không đáng kể”.

Thống chế dinh Thần cơ quân Thị nội là Vũ Viết Bảo tâu rằng : “Ba đội nhất nhị tam của vệ Chấn uy đóng thú ở Bình Hoà, đội tứ đóng thú ở Bình Thuận, đội thập nhất đóng thú ở Phú Yên, xin hạ lệnh cho đóng thú lâu và mộ những người lậu tịch ở bốn dinh trực lệ để điền bổ vào ngạch cũ của các đội”. Vua y cho.

Chuẩn định từ nay các chức văn võ ở các dinh vệ cơ đội của các quân trong ngoài và ty phòng của bộ viện đã được thực thụ mà thiện tiện bỏ trốn, thì thống quản và thượng ty tâu lên để tước ngạch đi. Nếu biết ra thú, xin ra sức làm việc, thì cho phép trình bày duyên cớ bỏ trốn và ngày tháng lâu chóng, đợi chỉ định đoạt.

Cấp thêm triện ngà cho Nội vụ phủ, Vũ Khố, Tào chính, Thương bạc, các tào Hộ, Binh, Hình, Công ở Gia Định, các tào Hộ, Binh, Hình ở Bắc Thành và quốc vương Chân Lạp.

Bộ Lễ tâu rằng : “ấn tín của các nha môn trong ngoài hết thảy là do quan cấp, duy có ấn chương dấu mực của quản binh chức võ vẫn còn khắc riêng. Nay xin xét cấp cho ấn quan phòng và đồ ký, phàm các chương tấu văn thư và việc chi lĩnh lương tiền, nhất thiết việc công, đều cho dùng ấn ấy, việc tư thì đều cấm”. Vua y theo.

Lấy Phó vệ uý quân Thần sách là Nguyễn Văn Hưng hành chức Quản cơ cơ Định man kiêm quản đạo Cam Lộ.

Thổ phỉ trấn Hưng Hoá là Lý Khai Ba nghe tin quan quân đuổi bắt, sai đồ đảng chiếm giữ chỗ hiểm yếu để chống cự. Trấn thủ Nguyễn Đức Niên sai thổ Tri huyện Văn Chấn là Cầm Nhân Bình đem 200 binh làm tiền đạo. Giặc dựa chỗ hiểm, đặt phục binh. Nhân Bình bị chúng bắn chết. Đức Niên lại phái Phó quản cơ cơ Tả chấn là Nguyễn Văn Đạo dẫn binh đánh tiếp, chém được vài đầu. Giặc lui chạy. Vừa Đức Niên bị bệnh, lại đóng quân ở bảo Trấn Hà, Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuấn tiếp đến Trấn Hà, chia quân đi nã. Thành thần nghe tin, phái thêm Quản phủ phủ Quốc Oai là Phạm Bá Hùng, Phó vệ uý vệ Phấn võ là Lê Văn Túc đem 1.000 binh án giữ đất ấy mà giục Nguyễn Khắc Tuấn tiến đánh động Cam Đường.

Định thêm điển lệ tế Giao tế Miếu và Triều hạ.

Bộ Lễ tâu rằng : “Cái đạo thanh âm cùng thông với chính sự. Chuông trống là đồ nhạc, dùng ở Giao Miếu và Triều đình là để phát động các âm mà hoà các nhịp điệu. Xét xem lễ điển nước Thanh, các đại lễ hưởng tự, khánh hạ, khi xa giá vua ra vào đều có đánh chuông, đánh trống, nay xin châm chước mà bổ thêm vào”. Vua y lời tâu. (Tế lớn Nam Giao : Trước 1 ngày, hữu ty chuẩn bị lỗ bộ đại giá. Đến giờ, vua lên kiệu ra cửa Hữu Túc, điện Càn Nguyên nổi chuông nổi trống. Kiệu đi, nghiêm đường. Đến cửa Hữu Đoan phát chín tiếng ống lệnh. Quan thủ thành, mặc phẩm phục quỳ đưa. Khi kiệu qua sông đến bờ nam, chuông trống ngừng. Đến cửa bắc của đàn, quan bồi tế mặc phẩm phục quỳ đón. ở Trai cung nổi chuông. Giá đến Trai cung thì chuông ngừng. Đến ngày tế, trước khi mặt trời mọc 7 khắc, Khâm thiên giám báo giờ. ở Trai cung nổi chuông. Khi kiệu đến cửa tây của đàn, chuông ngừng. Vua lên đàn làm lễ. Lễ xong, về Trai cung. Các quan làm lễ khánh thành. Khi kiệu trở về, ở Trai cung nổi chuông. Đến cửa bắc của đàn, các quan quỳ đưa. Chuông ngừng. Đến cửa Thể Nguyên, phát chín tiếng ống lệnh. ở điện Càn Nguyên nổi chuông nổi trống. Đến cửa Tả Đoan, quan thủ thành quỳ đón. Đến cửa

Túc Môn, chuông trống ngừng. Tế hưởng các miếu : Canh năm ngày hôm ấy, sau khi nổi ba hồi trống và ống lệnh, hữu ty sắp sẵn lỗ bộ pháp giá. Gửi lời tâu lên : “Trong nghiêm ngoài biện”. Vua lên kiệu ra cửa Túc Môn. Điện Càn Nguyên nổi chuông trống. Kiệu đi, nghiêm đường. Phát năm tiếng ống lệnh. Đến cửa miếu, chuông trống ngừng. Đến miếu làm lễ. Lễ xong, kiệu trở về. Điện Càn Nguyên nổi chuông trống, phát năm tiếng ống lệnh. Đến cửa Túc Môn, chuông trống ngừng. Đại lễ các tiết Vạn thọ, Chính đán, Đoan dương : Canh năm ngày hôm ấy, sau khi nổi ba hồi trống, và phát ống lệnh, hữu ty đặt đại triều nghi ở sân điện Thái Hoà, đặt thường triều nghi ở sân điện Cần Chính. Gửi lời tâu lên : “Trong nghiêm ngoài biện”. Thị vệ rước kiệu vào. Điện Cần Chính nổi chuông trống. Vua lên kiệu. Nghiêm đường. Phát chín tiếng ống lệnh. Vua ngự lên ngai, chuông trống ngừng. Các quan làm lễ khánh hạ. Phàm gặp các đại lễ Khai ấn, Mệnh tướng ban cờ mao tiết, Xuất quân, Thệ trai, đều như thế).

Cấp cho trạm Kinh và sáu trạm ở Quảng Đức mỗi trạm 2 con ngựa công, tiền làm chuồng ngựa đều 10 quan.

Sai Hàn lâm viện chưởng viện Hoàng Kim Hoán hiệp lý công việc bộ Lại.

Lấy Trấn thủ Định Tường là Nguyễn Văn Phong làm Trấn thủ Biên Hoà, Chưởng cơ Hữu quân là Nguyễn Văn Tuyên làm Trấn thủ Định Tường.

Kinh sư gạo đắt, vua bảo Nguyễn Hữu Thận rằng : “Trẫm muốn phát thóc kho ra để bán thì thế nào”. Đáp rằng : “Nay dẫu đói kém, song sau khi gặt mùa thu còn đỡ. Chỉ sợ khi đông xuân tiếp nhau lại đói hơn nữa. Xin đợi đến kỳ ấy phát thóc để đỡ cấp bách cho dân”. Vua nói : “Như thế thì cho các quan lĩnh lương trước, khiến cho gạo bán tung ra thì giá gạo sẽ hạ”. Bèn dụ cho văn võ ở Kinh từ Thất phẩm trở lên lĩnh trước gạo bổng kỳ tháng giêng sang năm.

ấm thụ cháu Khai quốc công thần Trấn thủ Tống Phước Trị là Tống Phước Khả, cháu Chưởng dinh Nội tả Tống Hữu Thanh là Tống Hữu Tuân làm Thứ đội trưởng để coi giữ việc thờ.

Sai trấn Tuyên Quang chia thổ binh hiệu Hùng nhất thuộc trấn (146 người) làm ba đội nhất nhị tam, chọn đặt cai đội để trông coi.

Phú Yên mưa lụt, bãi cát ở bên cửa biển cũ Phú Sơn vỡ thành cửa biển mới (từ bờ phía bắc cửa mới đến bờ phía nam rộng 24 trượng, 7 thước, sâu 1 trượng 1 thước 1 tấc, dài 64 trượng 5 thước, cách cửa cũ 1.010 trượng).

chính biên

Đệ nhị Kỷ - Quyển XVIII

Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế

 

Nhâm ngọ, năm Minh Mệnh thứ 3 [1822], mùa đông, tháng 11. Chuẩn cho cai đội, chánh đội trưởng, đội trưởng ở các quân dinh, ai được thực thụ suất đội thì đều chiếu phẩm chi bổng.

Đốc học phủ Hoài Đức là Lê Huy Du vì già yếu xin hưu. Vua y cho. Hàn lâm viện Thị độc Cao Huy Diệu cũng lấy bệnh xin về làng, giáng bổ làm Phó đốc học Hoài Đức.

Ban nhật kỳ treo đèn và cấm giới cho trong ngoài. (Tiết Thánh thọ : đêm hôm ấy, nhà quan và dân ở Kinh thành và trong trị sở các thành dinh trấn đều treo đèn ở trên cổng. Trước một vài ngày và ngày chính cấm xử hình và sát sinh. Tiết Vạn thọ, trước ba ngày và ngày chính treo đèn 4 đêm ; 4 ngày ấy cấm xử hình và sát sinh. Tiết Thiên thu : đêm hôm ấy treo đèn. Tế Nam Giao, Miếu hưởng, Xã Tắc và hai kỳ tế xuân thu ở Văn Miếu, trước một ngày cấm xử hình và sát sinh. Các ngày kỵ ở Tôn lăng, trước một ngày đều cấm xử hình và sát sinh, duy có các tôn lăng Trường Nguyên, Trường Cơ, Trường Diễn, Trường Diên, Trường Hưng, Trường Mậu, Trường Thanh, Trường Phong, Trường Thái, Trường Thiệu, Cơ Thánh, Thuỵ Thánh, Thiên Thụ, thì ngày chính cấm yến tiệc, xướng ca và mặc quần áo màu đỏ tía. Phàm những ngày cấm giới mà nhà quan hay dân có việc hiếu phải sát sinh thì không ở lệ cấm).

Bộ Lễ tâu nói : “Từ trước đến nay, hai kỳ tế xuân thu, ở các từ đường viên tẩm((1) Từ đường viên tẩm : nhà thờ các ông hoàng.1) có lệ nhạc công ở Thanh Nghệ phải ứng trực, đường sá xa xôi, phiền phí cũng nhiều. Nay xin lấy các đội nữ nhạc tiểu hầu thay vào”. Vua y lời tâu.

Hai trấn Hải Dương, Kinh Bắc vào khoảng mùa thu mưa dầm, thóc thu hoạch kém. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Địa phương ấy không may có tai, nay nếu bắt nộp thuế bằng thóc thì thí nghiệm phần nhiều không trúng thức, kẻ sai dịch sâu mọt làm khó dễ, há chẳng làm cho dân ta lại khổ thêm sao ! Vậy thuế vụ đông này cho phép nộp thay bằng tiền mà giảm giá cho”.

Đổi cơ Hùng tiệp ở Lạng Sơn làm cơ Lạng Sơn. Thổ binh ở Lạng Sơn trước đặt làm 7 hiệu của cơ Hùng tiệp cùng 2 hiệu giữ cửa Nam Quan và cửa Du Thôn, mỗi hiệu 2 đội, tất cả 18 đội ; đến nay sai đổi tên cơ, cứ số lính hiện tại là 424 người dồn làm 3 hiệu Trung, Tiền, Hậu, mỗi hiệu 3 đội, cùng một hiệu giữ cửa quan, đặt quản cơ, phó quản cơ và trưởng hiệu, cai đội để trông coi. Cho thổ ty ở Lạng Sơn là Chánh thủ hiệu Nguyễn Đình Minh làm Phòng ngự sứ, đóng giữ cửa Nam Quan, Phó thủ hiệu là Nguyễn Đình ái làm Phòng ngự đồng tri, giữ cửa Du Thôn.

Đổi định cho các chức thư ký, cai án, tri bạ các thành dinh trấn trật Tòng lục phẩm (trước Tòng ngũ phẩm), chức câu kê trật Chánh thất phẩm (trước Tòng lục phẩm).

Sai Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Nhật Vĩnh lấy bản chức theo làm việc ở thành Gia Định ; lấy Cai bạ Định Tường là Nguyễn Đình Thịnh làm Ký lục Vĩnh Thanh, Thiêm sự Binh bộ biện lý công việc lương tiền bảo Châu Đốc là Nguyễn Đức Hội làm Thự cai bạ Định Tường, Thiêm sự Công bộ là Đoàn Khắc Cung biện lý công việc lương tiền bảo Châu Đốc.

Ban áo mùa đông cho hoàng tử, hoàng thân và văn võ Chánh tứ phẩm trở lên.

Ngày Đông chí, cho yến các quan ở điện Cần Chính.

Bọn đường quan bộ Lễ là Phạm Đăng Hưng, Đinh Phiên, Lê Đồng Lý và thuộc ty là Đặng Đình Dương, Lưu Đình Luyện cùng nguyên tham bồi Nguyễn Đăng Tuân đều mắc tội bị bãi chức. Trước bộ Lễ tâu sách phong tặng cha mẹ quan viên nhiều chỗ sai trái. Cha của Lý có dính việc nguỵ cũng liệt lẫn vào. Đình thần vạch việc ấy để tham hặc. Lý bị cách chức bắt hỏi ; bọn Đăng Hưng, đều bị giải chức đợi xét. Vừa gặp Quảng Nam đói kém, vua nhân sai bọn Đăng Hưng, Đăng Tuân, Đinh Phiên, Đình Luyện đi hội với dinh thần phát thóc kho ra bán. Dụ rằng : “Bọn ngươi làm việc phong tặng có trái với chỉ, tội chối sao được, nhưng chưa rõ là việc tham tang sai phép nên tạm cho mang tội đi làm việc. Nếu biết giữ công gắng sức để cho ơn huệ khắp đến nhà nghèo thì tội sẽ giảm bớt. Không được thế thì xử nặng”.

Bọn Đăng Hưng đến nơi, tâu rằng lệ lính trạm không có lương tháng, đói ăn không khác gì dân, xin cũng cho mua thóc. Lại xét được Lý trưởng Đặng Văn Diên lĩnh thóc bán cho riêng mình, xin chém để răn mọi người. Vua đều y theo.

Chuẩn định từ nay quan lại can án bị cách chức thì thu hết bằng sắc, bị giáng lưu hoặc điều bổ đi nơi khác thì thu bằng sắc trên phẩm bị giáng. Lại những nhân viên bị giáng đổi đi nơi khác mà được cấp phẩm phục thì cũng chiếu phẩm phục của chức bị giáng, hãy giống thì được cho lưu dùng, nếu khác thì truy trả lại. Bị giáng lưu thì miễn đòi phẩm phục.

Định thuế quan các sở Khả Lưu, Lương Trường, Bùi Xá ở Nghệ An (các sở Khả Lưu, Lương Trường, Bùi Xá cùng một dòng sông, một sở đã đánh thuế thì các sở kia đều miễn).

Quan Bắc Thành tâu rằng : “Ba mỏ Phước Sơn, Nhân Sơn, Bông Ngân ở Thái Nguyên chất bạc kém sút, lĩnh trưng nhiều người khổ vì phải bồi thường, đặc cách cho lượng giảm thuế (Phước Sơn, Nhân Sơn mỗi năm đều nộp 400 lạng, giảm 100 lạng ; Bông Ngân 350 lạng, giảm 80 lạng).

Đổi bảo Tiên Lý ở Nghệ An làm thành phủ Diễn Châu, bảo Hà Trung làm thành phủ Hà Hoa, bảo Đại Nại làm thành huyện Thạch Hà.

Lại lấy Trần Đình Tiến làm Tham hiệp Hưng Hoá (Tiến trước ở Hưng Hoá về đinh ưu, đến nay hết hạn về Kinh, lại bổ chức ấy).

Sai Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Thượng thư Lại bộ Trịnh Hoài Đức kiêm lĩnh Thượng thư Lễ bộ. Vua dụ rằng : “Bộ Lễ gần đây việc làm nhiều điều sai lầm, khanh là người lão luyện từng trải, nên vì trẫm chia lo, hết sức chớ phụ ơn tri ngộ”.

Dinh thần Quảng Nam tâu rằng : “Số dân thuộc bảo ở năm nguồn Cu Đê, Lỗ Đông, Ô Da, Thu Bồn, Chiên Đàn chỉ có 70 người, đi tuần xét không khắp được, xin ở các xã thôn dọc biên giới nơi nào gần sách man lượng lấy hơn 90 người, trừ miễn dao dịch, theo địa phận mà phòng giữ. Lại nguồn Hữu Bang, phía nam tiếp với man nguồn Đà Bồng ở Quảng Ngãi, xin cũng đặt chức Thủ ngự, trích 20 người dân phụ cận làm thuộc lệ”. Vua y lời tâu.

Dinh thần Quảng Nam tâu rằng khoảng tháng 9 tháng 10 mưa nhiều, đường quan lộ nhiều chỗ lở khuyết, xin nhân gạo đắt phát 300 người dân trong hạt sửa chữa mà cho ăn. Vua y theo, sai cấp 900 hộc thóc.

Các quân Thanh, Nghệ và Bắc Thành lưu thú ở Gia Định, lại chuẩn cho thành thần phát tiền kho chia cấp mỗi người 5 quan ; áo quần cấp riêng mà miễn lệ dân sở tại nộp tiền phụ dưỡng và áo quần.

Sai Thiêm sự Hộ bộ là Hoàng Văn Thịnh đem ty thuộc các bộ đi đổng lý việc thanh tra các trấn Bắc Thành.

Thành thần Gia Định tâu xin lượng phát hơn 17.600 người binh dân hai trấn Phiên An và Biên Hoà, mỗi 500 người dồn làm một toán, mỗi toán 10 đội, mỗi đội 4 thập, chia làm ba phiên, đào lấy đá ong để dự bị việc đắp thành.

Vua nghĩ công trình nặng nhọc, dụ sai ưu cấp cho tiền gạo (toán trưởng mỗi tháng 5 quan, đội trưởng 4 quan, thập trưởng 3 quan 5 tiền, binh dân 3 quan, đều 1 phương gạo) và răn bảo phải dè dặt sức dân, chớ đốc thúc nghiêm nhặt mà nhọc dân.

Sai Chưởng cơ Tiền quân là Phạm Văn Lý quản lĩnh hơn 500 người biền binh và 10 thớt voi, các vệ Tiền phong, Hổ oai, Thị tượng, Tiền bảo, Hữu bảo, Hùng cự, đi thú Bắc Thành. Lại điều hơn 2.500 người biền binh quân Thần sách ở Thanh Nghệ đi Bắc Thành để thay thú.

Quảng Đức và Quảng Trị gạo đắt. Sai bọn Tu soạn Đặng Đức Thiệm, Biên tu Hà Quyền, hiệp cùng dinh thần Quảng Đức phát ra bán 15.000 hộc thóc ; bọn Biên tu Ngô Thế Mỹ, Nguyễn Duy Phiên hiệp cùng dinh thần Quảng Trị phát ra bán 10.000 hộc thóc. Có người lính ở kho Kinh là Đặng Văn Khuê đong thóc để phát mỗi hộc kém vài cáp. Vua liền sai chém. Dụ đình thần rằng : “ở dưới bánh xe ta mà lính kho dám cố ý làm tệ, bớt của người để béo cho mình, xử đến trọng hình cũng còn thừa tội. Nay Quảng Trị, Quảng Nam cũng có phát thóc, nghĩ bọn tham lam sâu mọt nơi nào chẳng có, phải truyền dụ nghiêm cấm”.

Lại sắc rằng thuyền tư ở các địa phương, không kể lớn bé, nếu có thể từ trong tháng 1 sang năm trở về trước tải đầy thóc gạo lên Kinh mà bán thì được miễn trừ tệ thuế và lệ chở công năm ấy.

Vua thấy từ trước đến nay, các sắc chương sớ văn thư các nha, chữ năm tháng ngày ở chỗ niên hiệu đều dùng chữ đơn, sắc từ nay phải dùng chữ kép (như chữ nhất         phải viết     , chữ nhị         phải viết           ) để phòng sự thay đổi.

Bãi việc lấy đá ở Quảng Bình. Lang trung Lê Vạn Công từ Nghệ An về, vua gọi hỏi : “Ngươi qua Quảng Bình có nghe thấy việc dân gian lấy đá không ?”. Đáp : “Thần nghe dinh thần tính nhân khẩu, lượng chia 7 đinh lấy một đống đá, thuê khoán thì phải tiền 8, 9, 10 quan”. Vua lặng nghĩ hồi lâu, nói : “ấy là lỗi người phụng mệnh thi hành. Ngày trước trẫm hai ba lần trù tính, sai quan tự thuê người làm. Nay lại bắt dân lấy thì dân chịu sao nổi”. Lập tức sai thị vệ chạy ngựa nhanh đến hỏi, quả nhiên như thế. Bèn bãi việc ấy, mà phạt bọn dinh thần là Nguyễn Văn Phân, Lương Tiến Tường. Thưởng Vạn Công 10 lạng bạc. Dụ rằng : “Vạn Công theo chỉ đi phát thóc bán, đã không thẹn với chức vụ, mà khi qua Quảng Bình lại hỏi biết sự đau khổ của dân gian, trước mặt ta tâu bày minh bạch, thực đáng khen ngợi, đặc ân thưởng cho để nêu khen người nói thẳng. Các quan chức lớn nhỏ mà giữ được lòng công bình ngay thẳng, thấy đích việc đau khổ của nhân dân làng xóm thì lập tức tâu bày, trẫm tất xét kỹ, chọn điều phải mà thi hành, nếu thực có ích lợi thì sẽ lập tức gia ân nêu thưởng. Nếu góp nhặt lời nói phao việc vu vơ thì phải chia xét hay dở, đã có phép nước, các ngươi nên cẩn thận”.

Tiết Thánh thọ. Vua đến cung Từ Thọ làm lễ khánh hạ (vàng 20 lạng, bạc 200 lạng).

Lấy Hàn lâm viện Kiểm thảo Nguyễn Danh Giáp làm Giám phó Khâm thiên giám. Giáp từng trình bày lịch pháp, xin theo “Đại Thanh tinh lịch” mà làm lịch “thất chính((1) Thất chính : mặt trời, mặt trăng, các sao Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.1) kinh vĩ((2) Kinh vĩ : độ dọc và độ ngang của địa cầu.2)” để xét nghiệm hành độ lấn phạm của năm vì sao((3) Năm vì sao : Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.3), chép rõ sự thực vào sử sách để truyền cho đời sau. Lại xét phép cũ ở sách “Hiệp kỷ biện phương” chế tạo trâu xuân((4) Xuân ngưu : theo lệ, tháng 11, Tư thiên giám đưa cách thức nặn trâu xuân bằng đất, giao cho bộ Công làm. Khi xong thì chiều hôm trước “lập xuân” một ngày, đem trâu ấy đến đàn Đông Hà làm lễ tế Thần nông (theo Lịch triều hiến chương - Lễ nghi chí).4) ban hành trong nước để chỉ rõ tiết làm ruộng sớm hay muộn. Lại làm theo phép hay của người xưa, nặn con trâu đất để trừ khí rét. Vua khen, bèn bổ cho chức ấy.

Đặt ty Cẩn tín ở Nội tạo, sai bọn giám đốc Nguyễn ức và Trần Văn Hiệu mộ người sung vào.

Trấn thần Nghệ An tâu rằng : “Mùa thu này mưa ít, ba phủ Đức Quang, Anh Đô, Diễn Châu thóc lúa hại nhiều, thóc thuế vụ đông thiếu hơn 18.000 hộc, xin cho dân nộp thay bằng tiền”. Vua dụ sai theo số cho n