Video
Công đức
Giới Thiệu Chung

MỘT NGƯỜI CON CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN ĐÔNG TÁC HÀ NỘI (VIẾT VỀ CỤ THIỀU CHỬU NGUYỄN HỮU KHA NHÂN 69 NĂM NGÀY KỴ 16 THÁNG 6 NĂM GIÁP NGỌ (15/7/1954))

Ngày đăng: 24/07/2023
Tóm tắt:

MỘT NGƯỜI CON CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN ĐÔNG TÁC HÀ NỘI (VIẾT VỀ CỤ THIỀU CHỬU NGUYỄN HỮU KHA NHÂN 69 NĂM NGÀY KỴ 16 THÁNG 6 NĂM GIÁP NGỌ (15/7/1954))

Nội dung:

Cụ Thiều Chửu (19021954), tên thật Nguyễn Hữu Kha, hiệu Tịnh Liễu, Lạc Khổ. Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác cũ, nay thuộc quận Đống ĐaHà Nội. Thân phụ của cụ là Nguyễn Hữu Cầu, quen gọi là cụ cử Đông Tác, từng tham gia phong trào Đông Kinh nghĩa thục nên bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo. Cụ nội của cụ là ông nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý.

Cụ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người cha và anh ruột là Giáo sư Nguyễn Hữu Tảo. Cụ là nhà văn hóa, dịch giả và cư sĩ Việt Nam, tác giả cuốn Hán Việt tự điển và nhiều bộ sách về Phật giáo nổi tiếng khác. Năm 1945, cụ được Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với tư cách là Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội nhưng cụ từ chối để tiếp tục việc giảng dạy cho các lớp Phật giáo, cùng Cô nhi, theo con đường tu trì lợi tha mà mình đã chọn. (Theo Phật học Từ điển: Lợi là ích lợi, tha là người khác. Lợi tha là làm tất cả những gì có ích lợi cho người và vật.(https://giacngo.vn/)).

Vì sao Cụ Hữu Kha không kế tục truyền thống văn nhân của gia tộc mà chọn con đường làm một cư sĩ khổ hạnh suốt đời chỉ lo cứu giúp người cùng khổ? Hãy nhớ lại một câu các Phật Tử hay nhắc tới: “Có một người sinh ra trên thế gian này là vì hạnh phúc của muôn người…”

Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sống trong những năm tháng cực khổ của thời thơ ấu khiến cụ ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ cứu người của đạo Phật. Với thiên tư và ý chí tự lực vươn lên, cụ đã có một căn bản về Hán học, thông thạo tiếng Pháp, Anh, Nhật và tự nguyện làm một cư sĩ, tích cực tham gia công tác từ thiện xã hội và hoằng dương Phật pháp

Đạo phật hay Phật giáo là một tôn giáo mang tính duy lý và vô thần hướng đến nhận thức chân lý hay còn gọi là giác ngộ giúp con người được giải thoát. Phật giáo là một hệ thống triết học mang tính khai sáng nhằm hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ.

Đạo Phật giải thích mọi sự việc đều là sự biểu hiện của luật nhân quả. Nghĩa là mọi sự việc đều là kết quả từ nguyên nhân trước đó. Sự việc đó chính nó lại là một nguyên nhân của kết quả sau này. Nhân quả tương tác theo luật tương ứng: nhân nào thì quả nấy, quan hệ nhân quả là xuyên suốt thời gian chứ không chỉ trong một kiếp sống. Chính điều này đã dạy con người ta nên làm việc thiện, việc có đức, không nên làm điều ác để không phải gặp quả xấu và đã làm con người ta biết cái phải sợ. Sợ để biết sống đúng mực, sợ để biết trân trọng những gì đáng quý trong cuộc đời, sợ để biết cẩn trọng hơn.

Trong suốt cuộc đời của mình từ tuổi thơ đến khi trở thành cư sĩ bén duyên với Phật giáo, cụ lấy hiệu là Thiều Chửu, có nghĩa là cái chổi quét bụi, thể hiện rõ tâm nguyện của mình là "cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình". Ngoài ra, "hàng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẩn đục bởi phiền não vô minh che lấp". Cụ không trở thành tu sĩ mà chỉ là một cư sĩ, tu tại gia. Vai trò của cư sĩ Phật Giáo được dân ta nói tới trong câu ca Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa lưu truyền bao đời nay.

Với niềm tin và nghị lực làm việc phi thường, cụ đã để lại cho đời một sự nghiệp trước tác về Phật học, làm giầu cho thư tịch và văn hoá đất nước. Cụ thực sự là một tấm gương về lao động sáng tạo, đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong ký ức của nhiều người.

Cụ góp công lớn trong sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934). Sau khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập năm 1934 và ra báo Đuốc tuệ, cụ nhận lời làm quản lý và biên tập cho tờ báo. Cụ cũng tham gia thành lập Hội truyền bá quốc ngữ vào năm 1938 để nâng cao dân trí.

Năm 1936, cụ cùng bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyển) đồng sáng lập Hội Tế Sinh và làm Tổng Thư ký Hội. Ngay năm sau Hội lao vào cứu giúp nạn nhân trận lụt Đinh Sửu.(https://vi.wikipedia.org/)

 Theo trang https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02 có viết: Sau đợt ấy, Hội trưởng Hội Phật Giáo hai lần bảo cụ khai thành tích để làm sớ xin vua Bảo Đại ban phẩm hàm, nhưng cụ trả lời: “Tôi chỉ thích làm người bạch đinh thôi… Nếu cứ ép tôi xin phẩm hàm, tôi sẽ lên rừng ở”.

Thời gian xảy ra nạn đói đầu năm 1945, chiều nào cụ và các đồng chí cũng nấu cơm nắm vài trăm nắm nhờ anh em Hướng đạo sinh đạp xe đem đi dúi vào tay từng người ăn xin dọc đường. Tối tối cụ đốt lửa ở sân chùa Quán Sứ cho họ đến sưởi. Khi người đói nhiều quá, cụ nấu cháo phát chẩn; trong 93 ngày liền nấu hết 3 tấn gạo, phát được 38.600 bữa cháo. Khi người chết đầy đường, cụ cùng anh em suốt ngày đi khuân xác về chôn, đổ đồng mỗi ngày cụ chôn 15 xác cho tới khi chật hết hai sào đất ở Am Tế Độ, việc này khiến ông bị ốm suýt chết…

Có lẽ vì biết cụ có tâm và có tài tổ chức cứu tế mà Hồ Chủ Tịch từng mời cụ làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Cách mạng lâm thời 1945, nhưng cụ khước từ với lý do để tiếp tục làm Phật sự. Sau đó, khi lại được mời làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, cụ cũng xin kiếu. (https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02)

Cụ kể: "Chính vì chung một chí nguyện chịu khổ sở nhọc nhằn để giúp đỡ đồng bào, cả đời không ăn ngon mặc đẹp, không ai có gia đình riêng, nên chúng tôi được nhiều người tin lắm. Rất nghèo mà tiền bao nhiêu cũng có".

Năm 1941, khi trường Phật học Phổ Quang được mở, cụ đảm nhận việc dạy chữ Hán, giảng kinh và chủ trì các khóa lễ mà nhiều học viên sau này trở thành các bậc tu hành có uy tín như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhà sư Trần Việt Quang sau là đại tá quân đội, Ni sư Đàm Ánh một nhà từ thiện có tiếng.

Năm 1946 cụ cùng một lớp học tăng ni và một số trẻ mồ côi hội Tế Sinh đi theo kháng chiến chống Pháp, tham gia lao động sản xuất, giáo dục, viết và dịch sách.

Trong Cải cách ruộng đất, cụ bị đội cải cách ruộng đất ở xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên quy là địa chủ và xỉa xói mắng nhiếc nhiều giờ, vu cho đủ các tội ác. Cụ đã tự trầm vào Ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ (ngày 15 tháng 7 năm 1954) tại sông Cầu tỉnh Thái Nguyên. Trước khi mất, Cụ thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, thư dặn dò các học trò mình phấn đấu theo kháng chiến chống Pháp đến cùng, và viết lời kết bản Tự bạch (cũng gửi Hồ chủ tịch) như sau:

Cái án "mạc tu hữu" (tức vu cáo, cụ viết bằng chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”.

Cụ mất đi đã để lại một bộ Trước tác đồ sộ với 93 tác phẩm viết và dịch. Ngoài bộ Hán Việt tự điển có giá trị vượt thời gian, cụ còn dịch 14 bộ kinh căn bản của đạo Phật như Kinh Di Đà, Thủy Sám, Địa Tạng, Kim Cương Bát Nhã, Viên Giác, Pháp Hoa, Dược Sư, Phả Môn, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Lễ Sáu Phương, Lục Tổ Đàn Kinh, Khóa Hư. Các sách dịch khác của cụ có thể kể: Vì sao tôi tin Phật giáo, Phật học cương yếu, Tây du ký...

Cụ cũng viết các sách về Phật học như Sự tích Phật tổ diễn caNhòm qua cửa PhậtCải tà quy chínhKhóa tụng hàng ngàyCon đường Phật học thế kỷ 20.

Năm 1943, cụ soạn cuốn Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính, chủ yếu dùng triết lý Phật học để giải thích. Cụ coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật chứ không chỉ là một tác phẩm văn chương.

Tác phẩm cuối cùng của cụ là Con đường học Phật ở thế kỷ 20 xuất bản năm 1952. Đây là tác phẩm viết bằng máu và nước mắt như lời học giả Vũ Tuấn Sán, thể hiện quan điểm của một Phật Tử chân chính, tiên tiến, yêu nước, kiên quyết vạch mặt một số Tăng sĩ vùng địch chiếm mưu mô thần bí hóa đạo Phật, qua đó làm nhụt tinh thần kháng chiến của dân tộc.

Cụ Thiều Chửu suốt đời lo việc dạy học cho đồng bào. Hồi làm ở hiệu thuốc Ngã Tư Sở, hàng tuần cụ dành ba buổi tối đến chùa Sở (nay gọi là chùa Phúc Khánh) dạy các nhà sư học chữ Hán. Thời gian ở hiệu sách Hòa Ký và nhà in Đuốc Tuệ, tối nào cụ cũng dạy chữ Hán, Quốc ngữ, cách trí, sử ký, địa dư cho đồng nghiệp.

Năm 1938 cụ cùng học giả Nguyễn Văn Tố và mấy người nữa đồng sáng lập Hội Truyền Bá Quốc Ngữ và hăng say làm mọi việc Hội phân công. Hồi tản cư kháng chiến, tới đâu cụ cũng mở trường dạy chữ cho trẻ em và người lớn; bà con Phúc Yên, Thái Nguyên ngày ấy đều biết tiếng cụ.

Phật học là một hệ thống triết lý-tín ngưỡng đồ sộ nhằm tìm con đường giải thoát nhân loại khỏi mối quan tâm cuối cùng – cái chết.

Người ta thường nghĩ các tôn giáo đều có tính chất thần bí, không hợp với khoa học. Lạ thay, ngay từ năm 1946 cụ từng khẳng định học thuật của nhà Phật có giá trị như khoa học mà lại còn hơn thế nữa. Cụ nghiệm ra điều đó từ chỗ thấy Phật Tổ chưa bao giờ thần bí suy tôn một đấng tối cao sáng tạo ra vũ trụ và có khả năng giải thích mọi sự vật. Cụ dự đoán: Khi khoa học phát triển cao, “các tôn giáo có lập trường thần bí tất sẽ bị đào thải. Thế giới ngày nay không ai không tin khoa học… Lập trường của Phật Giáo trăm phần trăm đúng với cái đích của nhân loại tiến hóa tột bực sẽ tới, lẽ tự nhiên Phật Giáo sẽ không bị đào thải, trái lại càng rực rỡ quang vinh.”

Có lẽ cụ là một trong số rất ít người cùng thời ngày ấy hiểu được rằng đạo Phật có bản chất khoa học. Nhà bác học Einstein cũng nói đạo Phật không trái với khoa học, vì thế có thể đóng vai trò “một tôn giáo vũ trụ (a cosmic religion) và nó bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học (It embraces science as well as goes beyond science)”. Einstein còn nói: “Đạo Phật bắt đầu tại nơi khoa học kết thúc (Buddhism begins where Science ends)”.

Qua đây ta hiểu vì sao cụ lại tin đạo Phật đến thế và kịch liệt chống hoạt động mê tín dị đoan của một số tăng sĩ.

Mặt khác cụ lại nhận xét: trong thực tế, vì các Phật Tử ngày nay làm sai hẳn nguyên tắc của Phật nên đạo Phật “nhất định sẽ bị đào thải nếu ta không mau trở lại cái bản lai diện mục [bộ mặt vốn có] của Phật Giáo“.

Cụ chủ trương hoạt động tín ngưỡng là ở trong tâm mỗi người chứ không nhất thiết phải vào chùa tu hành. Một vài quan điểm của cụ thật sự cấp tiến, như chủ trương trả lại chùa cho dân làm trường học, thư viện, nhà dưỡng lão; Tăng sĩ phải lao động tự nuôi mình…Đặc biệt, tư tưởng Phật Giáo Nhân Dân của cụ rất đáng để nghiên cứu, áp dụng. (https://nghiencuuquocte.org/2019/05/02). (Còn nữa)

Hà Nội, ngày 24/7/2023

Ts. Nguyễn Văn Kiệm – Chủ tịch HĐHNVN


Trích nguồn: Nguyễn Kiệm

Thư viện ảnh