Video
Công đức
Giới Thiệu Chung

NHÂN KỶ NIỆM 136 NĂM NGÀY SINH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH –NGUYỄN ÁI QUỐC 19/5/1890- 19/5/2026 VÀ HĐHNVN NHẬN ĐƯỢC THƯ MỜI CUỘC HỘI THẢO VỀ NGƯỜI VỚI VĂN HÓA HĐHNVN CÓ BÀI VIẾT VỀ LẨY KIỀU CỦA NGƯỜI

Ngày đăng: 19/05/2026
Tóm tắt:

NHÂN KỶ NIỆM 136 NĂM NGÀY SINH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH –NGUYỄN ÁI QUỐC 19/5/1890- 19/5/2026 VÀ HĐHNVN NHẬN ĐƯỢC THƯ MỜI CUỘC HỘI THẢO VỀ NGƯỜI VỚI VĂN HÓA HĐHNVN CÓ BÀI VIẾT VỀ LẨY KIỀU CỦA NGƯỜI

Nội dung:

Lẩy Kiều là một thú chơi văn hóa và nghệ thuật giao tiếp đặc trưng của người Việt. Đây là hành động trích dẫn các câu thơ (thường là một câu hoặc một cặp câu lục bát) có sẵn trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du để biểu đạt một tâm trạng, một tình huống hoặc một thông điệp mới trong cuộc sống hàng ngày.

Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước từ năm 1911. Trong suốt 30 năm ở xứ người nhiều lần Bác đã lẩy Kiều để bộc lộ tư tưởng, tâm trạng của mình

Năm 1919, sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, các nước thắng trận họp “Hội nghị hoà bình” ở Vecrsaille (Pháp) có 27 nước liên quan tới dự. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã gửi “Bản yêu sách 8 điểm” cho Hội nghị, sau này là “bản yêu sách của nhân dân Việt Nam” được Bác sáng tác thành bài “Việt Nam yêu cầu ca” theo thể lục bát và song thất lục bát có cả thảy 56 câu. Trong đó có 4 câu cuối theo dạng lẩy Kiều:

Đồng bào bình đẳng tự do

Xét mình rồi lại đem so mấy người (câu 3080)

Ngổn ngang lời vắn tình dài (câu 183)

Anh em đã thấu lòng này cho chưa? (câu 2716 – 2717)

Cũng tại Pháp vào khoảng năm 1921 - 1922, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí lập ra “Hội liên hiệp thuộc địa”. Nguyễn Ái Quốc đã giải thích ý nghĩa đoàn kết đấu tranh mới tạo nên sức mạnh bằng câu Kiều lẩy:

Rằng đây bốn biển một nhà (câu 2435)

Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em

Năm 1928-1929, với tên mới là Thầu Chín, Bác đến Xiêm (Thái Lan) để vận động Kiều bào tham gia cách mạng, một hôm trời đã chập tối, Thầu Chín thoáng nghe tiếng một người mẹ ru con, Bác liền tức cảnh:

Xa nhà chốc mấy mươi niên (câu 2923)

Đêm qua nghe tiếng mẹ hiền ru con

Ngày 3/2/1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Biết đồng chí Lý (tức Trần Phú) đã thức giấc, Bác liền kể cho đồng chí nghe giấc mơ của mình. Kể xong Bác nhìn vào đêm tối thăm thẳm bằng một giọng bồi hồi, khe khẽ đọc mấy câu Kiều cho đỡ nhớ quê hương, đất nước:

Tình sâu mong trả nghĩa dày (câu 1268)

Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa? (câu 1264)

Mối tình đòi đoạn vò tơ (câu 1265)

Giấc hương quan luống lần mơ canh dài (câu 1266)

Song sa vò võ phương trời (câu 1267)

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng (câu 1268)

Giữa năm 1931, Bác bị thực dân Anh bắt giam ở Hương Cảng. Ngồi trong tù Bác lo hết việc này đến việc khác, lo nhưng không giải quyết được gì, ngồi lo suông trong ngục mà lòng đầy ngổn ngang, bèn ngâm câu Kiều lẩy:

Ngổn ngang trăm mối bên lòng (câu 183)

Ngủ không yên giấc, ăn không ngon mồm

Trong “lời tiễn Tổng thống Xu-các-nô tại sân bay Gia Lâm” năm 1959, Người đã 2 lần sử dụng “lẩy Kiều” với 6 câu thơ rất phù hợp và lý thú! Người nói: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/ Trông mòn con mắt phương trời đăm đăm! Rồi nhắc đến tình cảm lưu luyến của Nhân dân Việt Nam với Tổng thống Xu-các-nô: Nhớ nhung trong lúc chia tay/ Tấm lòng lưu luyến cùng bay theo người/ Người về Tổ quốc xa khơi/ Chúc người thắng lợi, chúc người bình an thật trọn vẹn nghĩa tình!

Trong “Lời phát biểu đón tiếp đồng chí Nô-vốt-ny, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Tiệp Khắc vào năm 1963, Bác cũng đã vận dụng Kiều: Trải bao tháng đợi, năm chờ/ Chờ người khách quý bao giờ đến thăm. Và khi được gặp gỡ thì Xuân này, xuân lại thêm xuân/ Nước non xa, anh em gần, vui thật là vui đã diễn tả được tình cảm chân thành khi gặp khách quý.

Trong mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, năm 1963, khi tiếp đoàn đại biểu cấp cao của Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc mấy vần thơ tâm huyết: Bấy lâu cách trở quan hà/ Từ nay Lào - Việt rất là gần nhau/ Thương nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua/ Việt - Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long. Đó là sự khẳng định, lời căn dặn, mong ước và thông điệp cho mai sau.

Năm 1963, trong lời chào mừng đồng chí Lưu Thiếu Kỳ - Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bác đã nói luôn hai câu Kiều: Đến bây giờ mới thấy đây/ Mà lòng đã chắc những ngày một hai. Tiếp đến, Bác khẳng định: Mối tình thắm thiết Việt - Hoa/ Vừa là đồng chí, vừa là anh em rất hợp người, hợp cảnh.

Rồi ngày lên đường, Bác đã vận dụng “lẩy Kiều” mới lý thú và ý nghĩa: Tiễn đưa, chẳng muốn chia tay/ Bạn về cố quốc nước mây nghìn trùng/ Cầm tay lòng lại dặn lòng/ Cùng nhau giương ngọn cờ hồng Mác - Lê. Có thể coi đây là một trong những bài “lẩy Kiều” thành công nhất và có sức lôi cuốn, hấp dẫn người nghe.

Từ vận dụng 6 câu thơ Kiều ở các trường đoạn khác nhau (như câu thứ 3187: Thoắt thôi tay lại cầm tay/ Càng yêu vì nết, càng say vì tình lại về câu thứ 1787 Bốn phương mây trắng một màu/ Trông vời cố quốc biết đâu là nhà, sau đó trở lại câu thứ 1503: Cầm tay dài ngắn thở than/ Chia phôi ngừng chén, hợp tan nghẹn lời đã nói lên tất cả nỗi niềm của người trong cuộc.

Và từ câu thơ tưởng như rất riêng ấy đã dặn dò, nói được cái chung để cùng quyết tâm phấn đấu. Phải là người thực sự am hiểu sâu sắc nội dung, câu chữ trong từng trường đoạn của 3254 câu thơ của Truyện Kiều thì mới vận dụng được một cách tuyệt vời như vậy!

Cách “lẩy Kiều” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại không khí văn chương gần gũi, thân mật, thú vị, tăng hiệu quả ngoại giao. Việc “lẩy Kiều”, “tập Kiều”, “phỏng Kiều” trong tiếp đón các nguyên thủ quốc gia, các vị khách quốc tế của Người vừa kế thừa, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống, vừa thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc.

Hà Nội, ngày 19/5/2026

Ts. Nguyễn Văn Kiệm – Chủ tịch HĐHNVN

Trích nguồn: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM

Thư viện ảnh