Video
Công đức
Giới Thiệu Chung

LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM PHẦN II, CHƯƠNG IV: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM  THỜI NHÀ TRẦN (1225-1400), NHÀ HỒ (1400-1407), NHÀ HẬU TRẦN(1407 – 1413)

Ngày đăng: 02/10/2021
Tóm tắt:

LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM PHẦN II, CHƯƠNG IV: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM  THỜI NHÀ TRẦN (1225-1400), NHÀ HỒ (1400-1407), NHÀ HẬU TRẦN(1407 – 1413)

Nội dung:

CHƯƠNG IV: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM  THỜI NHÀ TRẦN (1225-1400), NHÀ HỒ (1400-1407), NHÀ HẬU TRẦN(1407 – 1413)

4.1. Nhà Trần hoặc Trần triều (Hán-Nôm: 家陳 ・陳朝, nhà Trần  · Trần triều) là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý, trải qua 12 triều vua và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly. Tổng cộng là 175 năm.

Trong thời đại của vương triều này, nhà Trần tiếp tục đóng đô ở kinh đô Thăng Long (nay là Hà Nội) và bảo toàn được lãnh thổ vẹn toàn sau ba lần xâm lược của quân Mông-Nguyên. Về chính sách chính trị, các vua nhà Trần cũng xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn so với nhà Lý. Cả các mặt kinh tế-xã hộigiáo dục và nghệ thuật cũng hoàn chỉnh hơn và cho thấy Nho giáo đã có ảnh hưởng rõ rệt tới triều đại. Dưới triều Trần, lực lượng quân đội được chú trọng phát triển đủ sức đánh dẹp các cuộc nội loạn và đương đầu với quân đội các nước lân bang. Mặc dù nhà Trần rất hưng thịnh trong những năm đầu, tuy nhiên triều đại bắt đầu suy yếu từ năm 1357 khi vua Trần Minh Tông qua đời, và trong tình trạng rối ren, Hồ Quý Ly đã cướp ngôi vào năm 1400. Triều đại Trần chính thức kết thúc từ đây.

Dưới triều Trần, có những sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là sự kiện Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân dân ba lần đánh bại đội quân Mông-Nguyên-vốn được mệnh danh là đội quân mạnh nhất thời bấy giờ. (https://vi.wikipedia.org)

4.2. Nguyễn Nộn

Nguyễn Nộn ( ?- 1219 hoặc 1229) là một sứ quân nổi dậy chống lại triều đình vào cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Nộn người xã Phù Dực (huyện Tiên Du), nay là xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội, Việt Nam.

 Theo Đại Việt sử lược, Nguyễn Nộn là người có gương mặt đẹp, lại có lòng bao dung, có tính bình thản thanh thoát.

Theo phả hệ họ Nguyễn, ông là cháu 5 đời của Định quốc công Nguyễn Bặc thời nhà Đinh.

Sử sách chép không thống nhất về xuất thế của Nguyễn Nộn. Theo các sách Việt sử Tiêu án, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, ông vốn là cư sĩ ở hương Phù Đổng. Tháng 8 năm 1218, ông bắt được vàng và ngọc mà không đem dâng vua Lý Huệ Tông, do đó triều đình xuống chiếu bắt giam ông.

Tháng 2 năm 1219, quyền thần Trần Tự Khánh thấy ông có tài, bèn tâu vua Huệ Tông xin tha cho Nguyễn Nộn, cho đi theo quân đánh giặc để chuộc tội. Vua Huệ Tông bằng lòng. Tháng 10 năm đó, Tự Khánh sai Nguyễn Nộn đem quân đi đánh người Man ở Quốc Oai. Tháng 3 năm 1220, Nguyễn Nộn nhân cầm quân trong tay không trở về triều, giữ hương Phù Đổng, tự xưng là Hoài Đạo Vương, dâng biểu xưng thần, xin đi dẹp loạn để chuộc tội. Vua Huệ Tông sai người đem sắc thư đến tuyên dụ. Song vì vua có bệnh, không thể chế ngự được. Họ Trần cũng đang mưu tính lấy ngôi nhà Lý nên chưa tính tới Nguyễn Nộn.

Tuy nhiên, theo Đại Việt sử lược, cuốn sử ra đời thời Trần, Nguyễn Nộn vốn là bộ tướng của tướng Trần Tự Khánh, theo Tự Khánh tham gia vào những cuộc chinh chiến với các sứ quân và chống lại cả nhà Lý từ đầu thời Lý Huệ Tông chứ không phải tới năm 1218 mới xuất hiện trên chính trường.

Theo sách này, năm 1213, Trần Tự Khánh sai người sang Bắc Giang lừa mời ông về. Nguyễn Nộn về đến nơi, Trần Tự Khánh dùng dây thép trói lại năm vòng, giam cầm ông. Tuy nhiên, chưa rõ vì lý do gì mà Nguyễn Nộn bị Tự Khánh bắt giam.

Tháng 9, Trần Tự Khánh mở trói dây thép cho Nguyễn Nộn. Tuy ở trong cảnh ngục tù mà Nguyễn Nộn thần sắc vẫn tự nhiên. Khi thấy bọn dũng sĩ nhảy, đối lại, ông mang theo cả cái dây xích sắt mà nhảy, nhưng lại nhảy hơn bọn dũng sĩ. Trần Tự Khánh trông thấy, lấy làm lạ, bèn thả ông ra lại cho làm tướng và đem người con gái của bà dì mà gả cho. Sau đó Tự Khánh lại trao cho ông hai ấp là Trần Khê và Cả Lũ.

 Năm 1213, Nguyễn Nộn cầm một cánh quân họ Trần chống lại quân triều đình do đích thân Lý Huệ Tông và Thái sư Đàm Dĩ Mông chỉ huy. Ông cùng các tướng họ Trần đánh bại quân nhà Lý. Em họ Trần Tự Khánh là Trần Thủ Độ cùng Trần Hiến Sâm ở tả ngạn tiến đánh thắng quân triều đình. Nguyễn Nộn từ Quốc Oai tiến đến chợ Dừa cùng Phan Lân đánh thắng các tướng ở Hồng Châu là Đoàn Cấm, Vũ Hốt. Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu.

Sau trận đó, ông được Trần Tự Khánh giao giữ vùng Bắc Giang. Trần Tự Khánh lên Lạng châu rước Huệ Tông không được liền lập hoàng thân khác lên ngôi, tức là vua Càn Ninh.

Năm 1214, anh em họ Đoàn tấn công đất Bắc Giang. Hai bên đánh nhau ở núi Đông Cứu (Gia Lương, Bắc Ninh), Nguyễn Nộn giết chết được Đoàn Nguyễn, nhưng cũng bị thương ở lưng.

Tuy nhiên lúc đó nội bộ phe Tự Khánh xảy ra phản loạn lớn. Tướng ở Cam Giá (thị xã Sơn Tây) là Đỗ Bị lại nổi lên chống cự. Nhân thời cơ đó, Nguyễn Nộn cũng phản lại Tự Khánh, xây dựng một thế lực rất lớn. Do việc cát cứ của Đỗ Bị, Nguyễn Nộn, kinh thành Thăng Long bị uy hiếp. Tự Khánh lấy hết vàng bạc, của cải các kho và phóng hỏa đốt kinh đô rồi đưa vua mới là Càn Ninh xuống hành cung Lý Nhân (Hà Nam).

Nguyễn Nộn đem binh đến Thăng Long đánh nhau với Tự Khánh. Huệ Tông và thái hậu đang ở Nam Sách trở về Thăng Long, phong cho Nguyễn Nộn tước hầu để mượn tay Nộn chống họ Trần. Từ đó cục diện trong nước lúc này đại thể hình thành ba thế lực: Phía bắc là Nguyễn Nộn, phía đông là Đoàn Thượng, phía nam là Trần Tự Khánh.

Tháng 1 năm 1215, hai tướng của Trần Tự Khánh là Nguyễn Đường và Nguyễn Giai thông đồng với Nguyễn Nộn đánh Trần Tự Khánh, nhưng Đường và Giai lại hàng Trần Tự Khánh. Tháng 2, Nguyễn Nộn được phong tước Vương. Tháng 3, Nguyễn Nộn đánh thắng Nguyễn Đường và Nguyễn Giai.

Kết cục của Nguyễn Nộn cũng không được sử sách chép thống nhất. Các nguồn sử liệu khác nhau ghi chênh lệch thời gian khá nhiều. Chỉ có 1 điểm chung duy nhất là: các nguồn sử sách đều xác nhận ông chết bệnh vào năm 1219

Theo Đại Việt sử lược, tháng 6, năm 1219, Trần Tự Khánh sai tướng Vương Lê đem binh về Nam Sách đánh Nguyễn Nộn. Quân hai bên giằng co, Trần Tự Khánh không thắng nổi quân của Nộn. Tháng chạp, Nguyễn Nộn bị bệnh nặng. Quân của Trần Tự Khánh đang đóng ở bến Triều Đông mà Nguyễn Nộn đã chết rồi. Ngày Canh Ngọ, tướng của Nộn là Phí Thám ra hàng Trần Tự Khánh, có mang theo thái hậu và các công chúa (con vua Huệ Tông).

Như vậy, trong khi vua Huệ Tông trong tay Trần Tự Khánh thì có một bộ phận tôn thất nhà Lý lại trong tay Nguyễn Nộn.

Sau khi ngài mất dân địa phương xã Phù Dực (Tiên Du, Bắc Ninh) lập đền thờ gọi là đền thần Hoài Đo để thờ ngài. Các huyện Đông Ngàn, Tiên Du (Bắc Ninh) đều thờ ngài làm phúc thần. Trải qua các triều đại, ngài được phong làm Thượng đẳng tối linh thần. Không rõ lăng ngài táng ở đâu.

 Ngài có 5 người con trai, con gái không rõ.

Con trai                                          

            1. Nguyễn Thế Tứ                           

            2. Nguyễn Long

            3. Nguyễn Hiến

            4. Nguyễn Thức

            5. Nguyễn Diễn.( http://vi.wikipedia.org/)

4.3. Nguyễn Thế Tứ (1225-1257) là con trưởng của Hoài Đạo Vương Nguyễn Nộn, Tiểu sử ngài không rõ. Ngài làm quan dưới triều Trần Thái Tông (1225 - 1226) chức Đô Hiệu Kiểm. (http://vidieuphap.com/)

4.4. Nguyễn Thuyên (阮詮), có tên  là  Hàn Thuyên (15/2/1229- 17/5/?)(chữ Hán: 韓詮),  làm tới chức Thượng thư Bộ Hình dưới thời Trần Nhân Tông.

Ông là người làng Lai Hạ, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là xã Lai Hạ, huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1247.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Mùa thu năm Nhâm Ngọ 1282, khi quân Nguyên đang ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ 2; bấy giờ có cá sấu đến sông Hồng. Vua sai Thuyên làm văn ném xuống sông, con cá sấu tự nhiên đi mất. Vua xem việc này giống như việc Hàn Dũ (đời nhà Đường - Trung Quốc), cho đổi họ là Hàn Thuyên.

Theo báo http://laodong.com.vn/: Hàn Thuyên là một danh nhân nổi tiếng của Việt Nam thời nhà Trần. Hiện nay, tên của ông được đặt cho nhiều đường ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Bắc Ninh…, nhiều trường học, nhà xuất bản cũng mang tên ông. Tuy nhiên, tiểu sử và cuộc đời của ông đến nay vẫn là một ẩn số.Hàn Thuyên giỏi thơ Nôm. Ông được xem là người phát triển, phổ biến chữ Nôm của Việt Nam. Ông là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luật là Hàn luật. ( http://vi.wikipedia.org/).

Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) là cháu gọi cụ Nguyễn Dương là ông nội. Cụ Nguyễn Dương là võ cử làm quan thời nhà Lý được phong Thái Bảo - Quận công. Năm 1151, cụ Nguyễn Dương bị gian thần hãm hại. Sau sự kiện đó, con cháu cụ Nguyễn Dương, trong đó có Nguyễn Thuyên phải sống ẩn dật. Năm Đinh Tỵ 1248, nhà Trần mở khoa thi Đại Tỵ lấy Đại học sĩ, Nguyễn Thuyên tham gia thi và đỗ Tiến sĩ, làm đến chức quan Hình bộ Thượng thư.

Nói về danh nhân Hàn Thuyên, người ta thường nói nhiều đến bài văn tế đuổi cá sấu kỳ lạ. Theo Việt sử cương mục, tháng 8 năm Thiệu Bảo thứ 4 (1282), đời Trần Nhân Tông, Nguyễn Thuyên đang là Hình bộ Thượng thư, theo vua đến sông Phú Lương (nhà nghiên cứu Dương Đình Khuê, Dương Quảng Hàm cho là sông Hồng hiện nay nhưng cũng có ý kiến cho rằng là sông Lô) thì gặp cá sấu nổi lên trước thuyền. Vua sai ông làm bài văn vứt xuống sông. Cá sấu bỏ đi. Vua Trần cho việc này giống Hàn Dũ bên Trung Hoa nên ban cho ông họ Hàn. Bài thơ này về sau được một số người nhắc đến vì ngoài việc sử dụng chữ Nôm khá thành thạo còn có nội dung tràn đầy tinh thần tự tôn dân tộc. Hiện, tại đền thờ của ông ở Lai Hạ vẫn treo bài thơ này.Một trong những đóng góp lớn nhất của Hàn Thuyên đối với đất nước chính là việc phát triển chữ nôm. Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm viết trong Việt Nam văn học sử yếu, cho rằng: "Ông là người đầu tiên biết làm thơ phú bằng quốc âm, nên có thể coi là ông tổ của văn nôm”. Tập thơ nổi tiếng của ông đó là tập “Phi sa giản tập”. Đây là tập thơ được nhiều người khen ngợi. Phi sa giản tập viết về làng cảnh, thiên nhiên, đa phần là thơ cách luật. Thơ nôm theo kiểu Đường luật từ Hàn Thuyên, về sau được nhiều người hưởng ứng làm theo như Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Hồ Quý Ly... Và vì ông là người đầu tiên dùng luật thơ Đường làm thơ Nôm nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luật là Hàn luật (Hàn: Hàn Thuyên) là để ghi lại công trạng này.

Những ngày cuối đời, Nguyễn Thuyên gặp phải muôn vàn sóng gió. Khi về hưu, ông về lại ngôi làng của mình như một người ở ẩn. Tuy nhiên, có một điều khó hiểu mà đến nay vẫn chưa được làm rõ. Là sau khi về hưu, ông xây nhà theo kiểu “nội công ngoại quốc”, trong nhà sắm nhiều đồ giống như ngai vàng, bát bộ… Việc đến tai một số kẻ nịnh thần trong triều. Những tên quan này đã tâu lên vua cho rằng ông có ý định làm phản. Vua tức tốc phái quan khâm sai đến để tìm hiểu thực hư.

Viên quan này đến, Nguyễn Thuyên thật thà cho rằng ông lập nhà như vậy là để thờ Phật, còn việc thờ phụng những đồ giống như cung điện là muốn tỏ ý trung thành, một lòng vẫn hướng về nhà vua và đất nước. Ông không hề có ý làm phản vì trong nhà đâu có kho tàng vũ khí, ông cũng không hề chiêu binh mãi mã… Những lời nói của ông đã thuyết phục được sứ giả và ông thoát khỏi kiếp nạn tai ương. Tuy nhiên, ông vẫn nhận ra mối nguy hiểm rình rập mình. Rồi vào một đêm, ông cùng gia quyến bí mật ra đi và để lại 3 chữ: “Dân nại tri” (nghĩa là một lời từ biệt của ông với dân làng). Hiện 3 chữ nôm này vẫn được treo ở đền của ông.

Từ khi ông đi, không ai biết được tông tích của ông nữa. Phải đến năm 2013 (sau gần 800 năm sau), có một người thanh niên ở Thái Bình đã đến tìm ông Dính cho biết, anh chính là con cháu của cụ Nguyễn Thuyên đến xin nhận lại họ hàng. Anh thanh niên cho biết, hiện mộ của danh nhân Nguyễn Thuyên được chôn ở Thái Bình và đề nghị được công nhận. Tuy nhiên, do sự việc chưa rõ ràng nên dòng họ ông Dính chưa dám quả quyết chuyện này. Thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, ông bày tỏ mong muốn các nhà nghiên cứu hãy vào cuộc làm sáng tỏ để dòng họ ông được nhận lại nhau và để phần đời còn lại của cụ Nguyễn Thuyên được người đời biết đến.

Văn tế cá sấu:

Ngặc ngư kia hỡi! Mày có hay!

Biển Đông rộng rãi là nơi này

Phù Lương đây thuộc về thánh vực

Lạc lối đâu mà lại đến đây

Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa

Dân quen chài lưới chẳng tay vừa

Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy

Xuống nước giao long cũng phải chừa

Thánh thần nối dõi bản triều nay

Dấy từ Hải ấp ngôi trời thay

Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh

Biển lặng sông trong mới có rày

Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy

Nhân vật đều yên đâu ở đấy

Ta vâng đế mạng bảo cho mày

Hãy vào biển khơi mà vùng vẫy...

4.5. Nguyễn Quan Quang (chữ Hán: 阮觀光, ?-?), theo Danh sách trạng nguyên Việt Nam  là người đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 3 (Giáp Ngọ, 1234), đời vua Trần Thái Tông, tuy nhiên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục không thấy chép việc này, ngoài câu 1236...Mùa thu, tháng 8, chọn các nho sinh đã thi đỗ vào chầu, sau làm định lệ  và 1236...Tháng 8, mùa thu. Tuyển nho sinh đã thi đỗ vào hầu vua. nhưng có thể đây là các nho sinh đã thi đỗ khoa Thiên Ứng Chính Bình thứ nhất (1232). Tác giả Vũ Xuân Thảo trong bài Vài số liệu, tư liệu chưa chính xác trong cuốn "Những ông nghè ông cống triều Nguyễn" đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 67, tháng 9 năm 1999 đã cho rằng Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang, đỗ khoa Bính Ngọ (1246).. Bia số 1 tại Văn miếu Bắc Ninh cũng ghi nhận như tác giả Vũ Xuân Thảo, nhưng năm này trong Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng không thấy ghi chép gì.

Có tài liệu như Các nhà khoa bảng Việt Nam (dẫn theo Hồng Đức  lại tính Nguyễn Quan Quang là vị trạng nguyên đầu tiên: Phải tới khoa thi thứ 6 (khoa Đại tỉ thủ sĩ) vào năm Bính Ngọ (1246), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 15, đời vua Trần Thái Tông mới đặt danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên – Bảng nhãn – Thám hoa) và Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên, Phạm Văn Tuấn đậu Bảng nhãn, Vương Hữu Phùng đậu Thám hoa.

Trong danh sách 47 vị trạng nguyên treo ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) thì Nguyễn Quan Quang được ghi đầu tiên rồi sau đó mới là Nguyễn Hiền!

Ông là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Làm quan đến chức Bộc xạ, tặng hàm Đại Tư không.( http://vi.wikipedia.org/).

Sinh ra trong một nhà nông nghèo, không đủ gạo tiền để theo học, nhưng với bản tính vốn ham học hỏi , Nguyễn Quan Quang thường lân la ngoài cửa lớp nghe thầy dạy bọn học trò trong làng học sách Tam tự kinh. Tuy chỉ nghe lỏm nhưng cậu bé Quan Quang ngồi ngay trước sân dùng gạch non (vì không có giấy mực đi học như bọn trẻ trong lớp) viết chữ xuống nền gạch. Nét chữ của cậu rất đẹp. Một hôm, tan buổi học, thầy đồ chợt nhìn thấy sân nhà có rất nhiều nét chữ như rồng bay, phượng múa. Thầy kinh ngạc và nói rằng: “đây mới chính là trò giỏi”. Nói rồi, thầy cho gọi Quan Quang vào lớp và thu nhận làm học trò của thầy.

Nguyễn Quan Quang nổi tiếng thông minh học một biết mười. Chẳng bao lâu, ông đã thông kinh, thuộc sử, ứng khẩu thành thơ, luận bàn việc đời thông thái uyên thâm. Ông dự kỳ thi Hương, đậu luôn giải Nguyên. Đến kỳ thi Hội lại đỗ luôn Hội nguyên. Khi vua Trần Thái Tông mở khoa thi Đại tỉ Thủ sĩ, ông đậu luôn Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (tức Trạng nguyên). Người đương thời khi đó đều gọi Nguyễn Quan Quang là “ông Tam nguyên”.

Sau khi vinh quy bái tổ, Nguyễn Quan Quang vào chầu vua để ra mắt. Bấy giờ quân xâm lược Mông Cổ tiến đến biên giới, lăm le đợi ngày xâm lược nước ta. Vua Trần Thái Tông ra chiếu cử Nguyễn Quan Quang sang thượng nghị với giặc. Tên tướng giặc nổi tiếng là kiêu hùng, thâm thúy. Y cho rằng Trạng nguyên nước Việt đến là để mang ba tấc lưỡi thuyết khách, nên hắn bèn nghĩ cách phải dùng uy để trấn áp ông.

Nhân lúc đi qua ao bèo, tướng giặc Mông Cổ vớt một cây bèo lên, nắm gọn trong lòng bàn tay lại rồi bóp chặt. Lát sau, hắn mở lòng bàn tay ra chìa cho Nguyễn Quan Quang xem. Cây bèo đã nát vụn trong bàn tay hộ pháp của hắn. Tướng giặc cười sằng sặc vẻ rất đắc ý. Thâm ý của tướng giặc ngạo mạn trong hành động bóp nát cánh bèo là: dân nước Việt bé nhỏ chỉ như những cánh bèo non yếu ớt, đạo quân của hắn chỉ cần đánh khẽ sẽ tan như cánh bèo này. Quan Quang hiểu được thâm ý của viên tướng giặc; ông bèn nhặt ngay một hòn đá rất to và ném xuống giữa ao bèo. Bèo dạt nhanh ra thành một khoảng trống, nhưng chỉ ít lát sau, những cánh bèo lại tụ kín mặt ao, không còn thấy dấu vết của viên đá to đâu nữa.  Xem hành động của Nguyễn Quan Quang, tên tướng giặc tái mặt vì đã hiểu rõ thâm ý đối đáp rất nhanh của vị Trạng nguyên trẻ  nước Đại Việt rằng:  nước Việt tuy nhỏ nhưng bao giờ cũng đoàn kết toàn dân để bảo vệ giang sơn. Không một sức mạnh nào có thể khuất phục được truyền thống yêu nước và đoàn kết ấy giống như ao bèo tụ lại sau khi bị ném đá.

Sau chuyện đó, viên tướng giặc đã hoãn binh mà không dám tiến quân sang xâm lược nước ta ngay.

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258), Trạng nguyên Nguyễn Quan Quang có nhiều cống hiến lớn. Ông được vua Trần Thái Tông phong đến chức Bộc xạ (tương đương chức Tể tướng). Khi làm quan, ông quan xuất thân từ gia đình nông dân nghèo khó do đó hết lòng vì dân, vì nước, thanh liêm, trung thực. Ông được cả trong triều cũng như dân chúng mến phục vì đức và tài vẹn toàn. Ông lấy vợ tên là Tuyên Huệ phu nhân. Ở kinh sư một thời gian, thì ông từ quan về quê. Ông lui về quê hương mở trường dạy chữ cho cả con nhà nghèo. Ông sống một cuộc đời thanh đạm như người đi tu. Người dân Tam Sơn cho rằng: ông là người khai sáng việc học của quê hương, mở đường cho đất Ba Gò sau này có một “kho nhân tài”. Yêu mến, cảm phục ông,  nơi Nguyễn Quan Quang dạy học được dân làng dựng lên một ngôi chùa để tưởng nhớ đến ông- một người sống như tu. Chùa mang tên Linh Khánh. Ngôi chùa ấy ngày nay không còn nữa, nhưng vẫn còn một cây hương tạc bằng đá vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Nội dung ghi trên bia nói về công đức của trạng nguyên Nguyễn Quan Quang với dân làng. Sau khi ông mất, dân làng lập đền thờ ông trên núi Viềng. Họ thờ ông làm Thành Hoàng, gọi là Bản thổ Thành Hoàng, Đại vương Phúc Thần. Triều đình cũng truy phong ông là Đại tư không.

Hàng năm cứ vào dịp 22 tháng chạp âm lịch, dân làng lại tổ chức “ Tế phong mã” để tưởng nhớ vị Trạng nguyên tài năng và ân đức của quê hương Kinh Bắc. Âu cũng là để nhắc nhở các thế hệ trẻ tiếp nối truyền thống hiếu học và yêu nước, thương dân của vị Trạng nguyên đầu tiên nước Đại Việt.(http://baotanglichsu.vn/)

4.6. Nguyễn Hiền (chữ Hán: 阮賢, 1234 - 1255) đỗ trạng nguyên khi 12 tuổi. Ông là người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường (nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định).

Ông thi đỗ trạng nguyên khi mới 12 tuổi, trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247) thời vua Trần Thái Tông. Cùng năm đó có Lê Văn Hưu (黎文休) 17 tuổi đỗ Bảng nhãn và Đặng Ma La (鄧麻羅) 14 tuổi đỗ Thám hoa. Đây cũng là khoa thi đầu tiên trong lịch sử đặt ra danh vị Tam khôi, bao gồm trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa. Vì còn thiếu niên nên vua cho ông về quê 3 năm tu dưỡng, sau ra làm quan đến chức Thượng thư bộ Công. Về hưu, mất tại nhà. Có đi sứ Nguyên vài lần

Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, bà mẹ đã cho ông theo học sư cụ chùa Hà Dương ở làng Dương A. Tương truyền, lúc đầu vào học, sư mới viết được 10 trang giấy, Hiền liền đọc ngay được như người đã từng đi học rồi, sư cụ lấy làm lạ. Một đêm, sư cụ nằm mộng thấy Phật quở rằng: “Trạng nguyên mỗi lần vào chùa thường nghịch ngợm, sao nhà ngươi không răn đe, ngăn chặn?”. Sư tỉnh dậy, đốt đuốc khắp chùa thấy sau lưng các pho tượng đều có khắc chữ “phạt 30 roi”, riêng hai pho hộ pháp ghi “phạt 60 roi”, sư nhận ra ngay chữ của Hiền. Một hôm, sư lên lớp bèn lấy một câu trong sách: “Kính quỷ thần mà phải lánh xa” mà dặn Hiền rằng: “Phật tức quỷ thần, trò không được nhạo báng”. Hiền liền nhận lỗi và tự lau sạch những chữ mình đã viết. Từ đó, Hiền càng chăm chỉ học tập, học đến đâu nhớ đến đấy, xuất khẩu thành chương.

Năm 11 tuổi, Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh là “thần đồng”. Bấy giờ có người họ Đặng tự cho mình là đã đọc biết hết các sách, nghe tiếng tăm Hiền liền tìm đến nhà Hiền thử tài, ra đầu đề bài phú:

“Phượng hoàng sào a, kỳ lân du úc" và ra hạn cho Hiền số câu, mỗi câu phải có tiếng chỉ một loài cầm thú. Hiền liền ứng khẩu:

Phi long kiên chiếu

Mã bất xuất hà

Ý bi Hữu Hùng chi thế

Ấp vu Trác Lộc chi a.

Dịch là:

Rồng không bay lên nơi ao, hồ

Ngựa không từ sông phi ra

Đẹp thay đời có họ Hữu Hùng

Làm nhà ở nơi Trác Lộc.

Người họ Đặng hết sức thán phục Hiền và tấm tắc khen là “Thiên tài”. Đến năm thi Đinh Mùi (1247), Nguyễn Hiền dự kỳ thi đình với bài phú “Áp tử từ kê mẫu du hồ phú” (bài phú Vịt con từ giã mẹ gà đi chơi hồ nước). Vua hỏi, Hiền trả lời trôi chảy cả văn lẫn ý, vua khen ngợi và hỏi:

- Học thầy nào?

Nguyễn Hiền trả lời:

- Thần không phải là người sinh ra đã biết, nhưng khi có một đôi chữ không biết thì hỏi thày chùa.

Vua lại nói:

- Vì còn nhỏ mà trạng nguyên ăn nói chưa biết lễ, cần cho về nhà học lễ 3 năm mới bổ dụng.

Vì thế trạng Hiền chưa được ban áo mão.

Xâu chỉ qua vỏ ốc

Nguyễn Hiền trở về quê nuôi dưỡng mẹ, ngày ngày đọc sách. Hiền vẫn rất ham chơi, thường lúc rỗi rãi vẫn cùng trẻ làng chơi khăng, thả diều... Một lần, triều đình tiếp sứ Trung Hoa, viên sứ đưa ra một con ốc xoắn nhờ xâu qua ruột nó bằng một sợi chỉ mảnh. Được như vậy y mới chịu vào thành. Ấy là viên sứ muốn thử tài người Nam ra sao. Vua truyền cho các quan tìm cách xâu thử, nhưng vị nào cũng lè lưỡi, lắc đầu. Bấy giờ vua chợt nghĩ đến trạng nguyên trẻ Nguyễn Hiền, bèn cho triệu trạng về kinh.

Viên quan được giao việc đến quê gặp trạng, gặp ngay một lũ trẻ chăn trâu nghịch đất đầu làng, thấy trong đó có một cậu bé mặt mũi khôi ngô đang bày cho lũ bạn đắp một con voi bằng đất mà bốn chân lẫn tai, vòi… có thể ngoe nguẩy được. Sứ giả đồ chừng đó là trạng Hiền, bèn buông một câu thăm dò:

- Tự là chữ, cắt giằng đầu, chữ tử là con, con ai con ấy?

Cậu bé nghe được, không ngước mặt lên, cũng thủng thẳng buông một câu:

- Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này!

Chủ ý của viên quan xuất một vế đối theo lối chiết tự chữ Hán. Chữ tự có hai bộ phận, trên như cái giằng xay, dưới là chữ tử. Để nguyên tự có nghĩa là chữ, bỏ giằng trên còn lại chữ tử nghĩa là con và gắn luôn với vế đối nôm tiếp đó thành một câu hỏi nửa chữ nửa nôm. Câu hỏi cũng có sắc thái của người trên hỏi kẻ dưới. Trạng Hiền cũng đối lại bằng cách chiết tự kết hợp với một phần nôm: chữ vu là chưng có hai nét ngang và một nét móc, bỏ nét ngang ở dưới thành chữ đinh, nghĩa là đứa, đi với đứa nào đứa này là một vế đối rất chỉnh và rất xược.

Sứ biết đó chính là trạng Hiền, bèn xuống ngựa, truyền lại ý vua vời trạng về kinh.

Nhưng trạng Hiền không chịu, viện lẽ rằng, trước vua cho trạng kém lễ buộc về, nhưng lần này vua cho vời trạng lên cũng không giữ đúng lễ. Viên quan không biết làm thế nào, phải trần tình đầu đuôi câu chuyện sứ giả nước ngoài đưa câu đố mà chưa ai giải được. Trạng Hiền nghe chỉ mỉm cười, trở lại với đám trẻ chăn trâu. Chờ khi viên quan lên ngựa, Hiền mới xui đám trẻ cùng hát:

Tích tịch tình tang!

Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng

Bên thì lấy giấy mà bưng

Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang

Tích tịch tình tang!

Viên quan nghe nhẩm thuộc lời ấy, biết trạng đã chỉ cách giải, vui vẻ trở về kinh.

Bài thơ chữ "Điền"

Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:

Lưỡng nhật bình đầu nhật,

Tứ sơn điên đảo sơn,

Lưỡng vương tranh nhất quốc,

Tứ khẩu tung hoành gian

Dịch là:

Hai mặt trời bằng đầu,

Bốn trái núi điên đảo,

Hai vua tranh nhau một nước,

Bốn miệng ở trong khoảng dọc ngang.

Vua và các quan trong triều không ai giải nghĩa được là gì. Một viên quan tâu với vua xin mời trạng nguyên Nguyễn Hiền (mà vua cho là bé đang ở nhà để rèn luyện thêm) đến để hỏi nghĩa.

Các quan đến quê mời gặp lúc Nguyễn Hiền đang nô đùa với chúng bạn, Nguyễn Hiền nói với các quan:

- Trước đây vua nói ta chưa biết lễ, thì nay chính vua cũng không biết lễ. Không ai đi mời trạng nguyên về kinh lại không có lễ nghĩa.

Quan về tâu lại với vua, rồi đem đồ lễ và xe ngựa đến đón, Nguyễn Hiền mới chịu về kinh.

Về đến kinh đô, vua đưa bài thơ của sứ Tàu ra, trạng Hiền liền giải thích như sau:

Câu thứ nhất có ý nói là hai chữ "nhật" (日) xếp ngang hàng nhau. Câu thứ hai nghĩa là bốn chữ "sơn" (山) xoay ngược xuôi. Câu thứ ba nói về hai chữ "vương" (王) xếp chồng lên nhau. Câu thứ tư là bốn chữ "khẩu" (口) xếp ngang dọc cạnh nhau. Tóm lại, tất cả bài thơ chỉ nói đến chữ "điền" (田), có nghĩa là ruộng đất.

Giải xong, trạng Hiền viết thư đưa cho sứ Trung Hoa, ông ta phải chịu là nước Nam có nhân tài.( https://vi.wikipedia.org/)

Theo http://lazi.vn: Chữ ĐIỀN (田):

“Lưỡng nhật bình đầu nhật: hai chữ NHẬT (日) ghép nối tiếp.
Tứ sơn điên đảo sơn: bốn chữ SƠN (山) chụm đầu lại với nhau.
Lưỡng vương tranh nhất quốc: hai chữ VƯƠNG (王) xếp vuông góc.
Tứ khẩu tung hoành gian: bốn chữ KHẨU (口) ghép ngang, dọc.”

Giải xong, trạng Hiền viết thư đưa cho sứ Trung Hoa, ông ta phải chịu là nước Nam có nhân tài. Nguyễn Hiền vào triều. Vua tuyển ông vào học tiếp Tam giáo chủ khoa, tức đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng và bổ nhiệm làm quan đến chức “Thượng thư bộ Công”.

Những năm làm quan trong triều, Nguyễn Hiền có nhiều kế sách hay để phò vua giúp nước. Năm Ất Hợi, nước ta lại bị giặc Chiêm Thành xâm lược, nhà vua rất lo bèn giao cho trạng nguyên Nguyễn Hiền đánh giặc giữ nước. Chỉ ít lâu sau, quân giặc thất bại, trạng Hiền thu quân về Vũ Minh Sơn mở tiệc khao quân và tâu lên vua. Nhà vua vô cùng vui mừng và phong cho ông Trạng chức “Đệ nhất hiển quý quan”.

Về nông nghiệp, ông cho đắp đê quai vạc sông Hồng, phát triển sản xuất mùa màng thắng lợi. Về quân sự, ông cho mở mang võ đường để rèn quân luyện sĩ.

Ngày 14 tháng 8 năm Bính Tý, trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng và qua đời, thọ 21 tuổi. Nhà vua thương tiếc truy phong ông là “Đại vương thành hoàng” và tôn làm thần ở 32 nơi, trong đó có đình Lại Đà ở xã Đông Hội - huyện Đông Anh, Hà Nội.

Hiện nay, tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A (Nam Thắng, Nam Trực, Nam Định) còn giữ được nhiều bài vị, sắc phong, câu đối, đại tự, đặc biệt bảo tồn được cuốn Ngọc phả nói về sự nghiệp của ông, trong đó có câu ca ngợi tài năng của Nguyễn Hiền như sau:

“Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc, Vạn niên thiên tuế lập tam tài”

Tạm dịch là: “Mười hai tuổi khai khoa hai nước, Nghìn năm ghi mãi chữ tam tài”.

Sau khi ông mất, để tỏ lòng tôn kính một nhân tài mệnh yểu, vua cho đổi tên huyện Thượng Hiền đổi thành Thượng Nguyên để kiêng tên húy của ông. (http://lazi.vn/)

 

 4.7. Nguyễn Bá Tĩnh - Tuệ Tĩnh Thiền sư (慧靜禪師, 1330-?), thường được gọi tắt là Tuệ Tĩnh hoặc Huệ Tĩnh (慧靜), người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương) được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền Việt Nam. Các bộ sách Nam Dược thần hiệu và Hồng Nghĩa giác tư y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc Nam. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, và khu B trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương có tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối trên bia thờ ông ở đền viết, dịch nghĩa như sau:

“Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh

Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm giang

Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư, mất ở đó, không rõ năm nào. Bia văn chỉ ở làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy.Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.

Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Nôm Đường luật, và bài "Phú thuốc Nam" 630 vị cũng bằng chữ Nôm. Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của Tuệ Tĩnh thì chúng không chỉ giá trị trong y học mà còn là tác phẩm quan trọng trong lịch sử văn học bởi vì đây là các tác phẩm ở thời kì đầu của văn học chữ Nôm.

Câu nói của ông: "Nam dược trị Nam nhân" thể hiện quan điểm đầy biện chứng về mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống xung quanh. Quan điểm ấy dẫn dắt ông lên ngôi vị cao nhất của nền y học cổ truyền Việt Nam: Ông Thánh thuốc Nam!

Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:

 Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần

Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình

Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc. Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở ho cả ngành thú y dân tộc của Việt Nam. (http://vi.wikipedia.org/).

Theo http://trungtamvietydao.com, Nǎm 45 tuổi, Tuệ Tĩnh thi đình. đậu Hoàng giáp. Nǎm 55 tuổi ông bị bắt đi sứ sang Trung Quốc. Ông được nhà Minh giữ lại làm việc ở Viện Thái y, rồi mất ở bên ấy, không rõ nǎm nào.

Sự nghiệp trước tác: về phật học, ông đã giải nghĩa bằng chữ nôm 3 sách Thiền tông khóa hư lục của vua Trần Thái Tông soạn.

Về y học ông đã soạn các sách Dược tính chỉ nam và Thập tam phương gia giảm (theo Hải Dương phong vật chí), nhưng phần nguyên tác của Tuệ Tĩnh không còn tròn vẹn do binh hỏa, cụ thể các thư tịch của ta đã bị quân nhà Minh phá hủy hồi đầu thế kỷ XV khi chúng sang xâm chiếm nước ta. Những tác phẩm còn lại đến nay đều do người đời sau biên tập lại với tài liệu thu thập trong nhân dân. Hiện có:

1 Bộ Nam dược thần hiệu, do Hòa thượng Bản Lai ở chùa Hồng Phúc ở Trung Đô (phố Hòe Nhai, dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay) biên tập, bổ sung và in lại nǎm 1761, gồm Bản thảo dược tính 499 vị, (bằng thơ) và 10 khoa chữa bệnh, với 3932 phương thuốc nam ứng trị 184 loại bệnh, kèm theo môn thuốc chữa gia súc.

2. Nam dược chính bản, do triều Lê Dụ Tông đổi tên là Hồng nghĩa giác tư y thư và in lại nǎm 1717, quyển thượng gồm: Nam dược quốc ngữ phú (danh từ được học 590 vị thuốc nam). Trực giải chỉ nam dược tính phú (220 vị thuốc nam và một thiên Y luận về lý luận cơ bản, âm dương ngũ hành, tạng phủ, kinh mạch (thiên này xuất hiện ở bản in lại nǎm 1723: AB. 288)

3 Thập tam phương gia giảm, phụ Bổ âm đơn và Dược tính phú (242 vị) bằng chữ Hán, gồm 13 cổ phương đông y và phương Bổ âm đơn do tác giả sáng chế cùng phương pháp.

4. Thập tam phương gia giảm và Bổ âm đơn đã được đời sau diễn dịch ra ca nôm và in ở Hồng Nghĩa giác tư y thư quyền hạ nǎm 1723 (AB 306).

5. Một bài Nhân thân phú (tương truyền, của Tuệ Tinh), khái quát về lý luận cơ bản người tương ứng với thiên nhiên, cơ nǎng sinh lý, tạng phủ khí huyết và đường hướng dưỡng sinh chú trọng giữ gìn tinh khí thần để nâng cao tuổi thọ.

Tuệ Tĩnh đã xây dựng nền móng của y học nước nhà với truyền thống chữa bệnh bằng thuốc nam, theo phương châm "Thuốc nam Việt chữa người Nam Việt ". Ông đã gây phong trào trồng thuốc ở gia đình, vườn đền chùa và thu trữ thuốc theo thời vụ để có sẵn thuốc chữa bệnh kịp thời. Truyền thống của Tuệ Tĩnh đã được đời sau thừa kế và phát huy rạng rỡ trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát triến y học dân tộc:

- Hoàng Đôn Hòa, Lương dược hầu dưới triều Lê Thế Tông, quê ở Đa Sĩ (xã Kiến Hưng, tỉnh Hà Tây) đã chữa bệnh rộng rãi và cứu cho nhân dân qua khỏi vụ dịch nǎm 1533 với thuốc nam trồng kiếm tại địa phương, và chữa cho quân đội triều Lê khỏi dịch sốt rét và thồ tả ở Thái Nguyên nǎm 1574 với thuốc Tam hoàng hoàn gồm Hoàng nàn, Hoàng lực do Tuệ Tĩnh đã phát hiện ở Nam dược thần hiệu và Hùng hoàng đã được dùng chống khí độc lam chướng ở Thập tam phương gia giảm. Đường lối dưỡng sinh của Tuệ Tĩnh nói ở Bổ âm đơn về phòng bệnh hư lao, đã được Hoàng Đôn Hòa cụ thể bằng thuyết "Thanh tâm tiết dục" với phép "Tịnh công hô hấp" ở sách Hoạt nhân toát yếu.

- Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ XVIII) đã thừa kế 496 bài thơ dược tính của Nam dược thần hiệu chép vào sách Lĩnh nam bản thảo, với nhiều phương thuốc nam của Tuệ Tinh chép vào các tập Hành giản trân nhu và Bách gia trân tàng. Đường hướng dưỡng sinh của Tuệ Tỉnh về giữ gìn tinh khí thần để sống lâu cũng được Lãn Ông phụ họa thêm ở thiên Khởi cư của tập "Vệ sinh yếu quyệt ".

- Đặc biệt truyền thống thuốc nam của Tuệ Tĩnh đã để lại tập quán trong nhân dân: trồng một số cây ở vườn đền chùa vừa làm cảnh vừa làm thuốc, và ở gia đình, mọi người ít nhiều đều biết dùng một số cây gia vị, rau quả hay các vị thuốc thường có quanh mình, cùng các phép xông hơ, chườm nóng, xoa bóp... để chữa một số bệnh ban đầu, khi mới xảy ra, rất tiện lợi.

Truyền thống y học của Tuệ Tĩnh đã phục vụ đắc lực sức khỏe nhân dân từ bao đời nay, sự nghiệp trước tác của ông đã giữ một vị trí trọng đại nhất trong lịch sử y học Việt Nam. Vì vậy, nhân dân ta đã lập đền thờ ông: Đền Thánh thuốc nam ở quê hương thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, đền Bia ở thôn Vǎn Thai, xã Cẩm Vǎn, miếu Nghè ở chùa Giám, xã Tân Sơn, huyện Cẩm Bình, tinh Hải Hưng. Ngoài ra, ông còn được thờ là Thành hoàng ở xã Yên Lư, huyện Thủy Nguyên, ngoại thành Hải Phòng (có sắc phong là Thượng thượng dẳng phúc thần nǎm 1572, theo thần phả do Nguyễn Bính, Đông các đại học sĩ ở Viện Cơ mật triều Lê soạn).

Ngày nay, các di tích nói trên đã được Bộ Vǎn hóa xếp hạng là di tích lịch sử để tưởng nhớ công đức của vị Đại danh y Tuệ Tĩnh đối với sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của dân tộc ta.

4.8. Nguyễn Trung Ngạn (chữ Hán: 阮忠彥;12891370), tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi), tỉnh Hưng Yên. Ông là một nhà chính trị, một đại thần có tài, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần". Cùng với Nguyễn Trung Ngạn là Trần Quang KhảiMạc Đĩnh ChiTrương Hán SiêuLê QuátPhạm Sư MạnhĐoàn Nhữ HàiTrần Thì KiếnPhạm Tông MạiTrần Nguyên Đán.

Nguyễn Trung Ngạn sinh năm Kỷ Sửu (1289, có tài liệu ghi là năm Canh Thìn1280).

Ông đỗ Hoàng giáp năm Giáp Thìn (1304) khi mới 16 tuổi, lần lượt giữ các chức:

< >Năm 1312, Nguyễn Trung Ngạn giữ chức gián quan (một chức quan trong Ngự sử đài).Năm 1314, khi vua Trần Minh Tông lên nối ngôi, ông cùng Phạm Ngộ sang nhà Nguyên báo tin và dâng cống.Năm Tân Dậu, Đại Khánh thứ 8 (1321), Nguyễn Trung Ngạn là Ngự sử đài Thị ngự sử. Sau do bàn bạc không hợp ý vua, ông bị giáng xuống làm Thông phán châu Anh Lãng rồi lại nhờ có tài trong việc cai quản ở nơi trị nhậm mà được điều về kinh giữ chức Thiêm tri Thánh Từ cung sự quản lý mọi việc ở cung Thánh Từ, tức cung của Thái thượng hoàng.Năm 1326, do sai sót trong việc ghi chép quan phục của quan lại, Nguyễn Trung Ngạn lại bị điều ra làm An phủ sứ Thanh HoáNăm 1329, Nguyễn Trung Ngạn theo Thượng hoàng Minh Tông đi đánh dẹp ở Đà Giang và phụng mệnh soạn sách Thực lục.Năm Nhâm Thân (1332), Nguyễn Trung Ngạn được thăng Nội mật viện phó sứ, giữ sổ sách ở nội sảnh cung Quan Triều (cung của vua Trần), nhưng vẫn kiêm An phủ sứ Thanh Hoá.Năm Giáp Tuất (1334), ông theo Thượng hoàng đi đánh giặc Ai Lao. Ai Lao trốn chạy, ông vâng mệnh ghi công ở bia Ma Nhai rồi về.Năm Đinh Sửu (1337), làm An phủ sứ Nghệ An rồi Giám tu Quốc sử viện. Ông cùng Trương Hán Siêu soạn sách Hoàng triều đại điển và bộ luật Hình thư.Năm Tân Tỵ (1341), Nguyễn Trung Ngạn được giao giữ chức Kinh sư Đại doãn trông coi mọi việc ở kinh thành Thăng Long (tương đương với Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ngày nay)Năm 1342, ông được thăng lên làm Hành khiển coi việc ở viện Khu mật.Năm 1355, được thăng Kinh lược sứ trấn Lạng Giang, Đại hành khiển, Thượng thư Hữu bật, Đại học sĩ, hầu ở toà Kinh Duyên, Trụ Quốc, Khai huyện bá rồi Thân Quốc công.Năm Canh Tuất (1370), ông mất thọ hơn 80 tuổi.Tác phẩm

< >Giới Hiên thi tậpHoàng triều đại điểnHình luật thưThanh chinh Đà Giang thực lụcMa Nhai kỷ công bi vănTại Hà Nội, nơi Nguyễn Trung Ngạn từng có nhiều năm gắn bó và làm đến chức Kinh sư đại doãn trực tiếp cai quản kinh thành, đã có bảy nơi thờ Nguyễn Trung Ngạn:

< >Đền Tiên Hạ: 46A ngõ Phất LộcĐền Hương Tượng: 64 Mã MâyĐền Hương Nghĩa: 13B Đào Duy TừĐình Mỹ Lộc: 45 Nguyễn Hữu HuânĐình Hương Bài: 90 Trần Nhật DuậtĐình Ưu Nghĩa: 2A Nguyễn Hữu HuânĐình Phúc Lộc: 6 Lương Ngọc Quyến

http://baohungyen.vn/ 31/07/2015 có bài viết “Nguyễn Trung Ngạn, từ cậu bé thần đồng trở thành danh nhân tài năng xuất chúng”:Tại Nghệ An, có họ Nguyễn Công tại xã Thái Sơn, huyện Đô Lương được coi là dòng dõi của Nguyễn Trung Ngạn, mộ phần của ông tương truyền tại thôn Lệ Nghĩa, nay là xã Minh Sơn, huyện Đô Lương. Nhà thờ họ Nguyễn Công tại xã Thái Sơn, huyện Đô Lương đã được tỉnh Nghệ An công nhận là "Di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, thành phố". Họ Nguyễn Tài tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương cũng là hậu duệ của Nguyễn Trung Ngạn với các tên tuổi như Nguyễn Tài CẩnNguyễn Tài Tuệ. Cũng tại Nghệ An, đền Linh Kiếm cũng là nơi thờ Hoàng Giáp Nguyễn Trung Ngạn, ở thôn Thuận Lý, xã Thuận Sơn, huyện Đô Lương.( https://vi.wikipedia.org).Trên quê hương Thổ Hoàng, Ân Thi, Hưng Yên, phần mộ của cụ Nguyễn Trung Ngạn đặt trên cồn Con Nhạn, nằm ở phía Tây Nam làng Thổ Hoàng, cách khoảng 1 km đường chim bay. Còn nhà thờ cụ Nguyễn Trung Ngạn là một ngôi nhà ngói ba gian, có tổng diên tích khoảng 35 m2 trên một thửa đất rộng gần 200 m2. Hiện nay UBND thành phố Hà Nội, tỉnh Hưng Yên và dòng họ Nguyễn Trung đang có kế hoạch xây dựng một khu tưởng niệm Nguyễn Trung Ngạn tại làng Thổ Hoàng

Danh nhân Nguyễn Trung Ngạn (1289 -1370) được đương thời và hậu thế đánh giá là một tài năng xuất chúng trên nhiều lĩnh vực. 

Tài năng của ông phát lộ từ rất trẻ, ngay lúc nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, đương thời tôn xưng là “thần đồng”. Mới 15 tuổi, ông đã thi đỗ Hoàng giáp (1304), về sau làm quan đến chức Nhập nội Đại Hành khiển (tức Tể tướng), tước Thân Quốc công, đứng đầu hàng ngũ quan lại trong triều đình.

Giáo sư Phan Huy Lê cho biết: Tại hội thảo khoa học  về danh nhân văn hóa Nguyễn Trung Ngạn được tổ chức tại Văn miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) năm 2009, nhân kỷ niệm 720 năm ngày sinh của ông, các nhà khoa học đã làm rõ nhiều vấn đề về sự nghiệp, và đóng góp của ông đối với đất nước.

Ông là một nhà chính trị giỏi, nhà ngoại giao xuất sắc, nhà làm luật công tâm, nhà hoạch định chính sách sáng suốt đồng thời cũng là một nhà thơ có tài. Chính tài năng vượt trội trên nhiều lĩnh vực, cùng lòng yêu nước, trung quân, yêu dân và cuộc sống liêm khiết đã tạo nên tài năng xuất chúng Nguyễn Trung Ngạn với sự tín nhiệm của triều đình và sức làm việc sáng tạo đa dạng, kỳ diệu.    

 Trong Đại việt sử ký toàn thư, so với những nhận vật cùng thế hệ, ghi chép về Nguyễn Trung Ngạn nhiều hơn cả, với nhiều lời ngợi ca hơn. Rõ ràng là trong thế hệ trí thức làm quan trọng yếu cùng thời, Nguyễn Trung Ngạn nổi bật hơn ngay lúc đương thời. Càng làm quan chức vụ càng lớn, ông là người dám đổi mới, biết đổi mới và đổi mới có hiệu quả, 2 lần đứng đầu hàng ngũ quan lại trong triều, ngang Tể tướng. Vừa làm nội trị, vừa ngoại giao, vừa làm thơ, vừa kinh qua thực tiễn ở các địa phương, vừa đảm nhiệm chức trách ở kinh thành. Trước Nguyễn Trung Ngạn, cả triều Lý, triều Trần chưa có tể tướng nào thế cả. 

Theo sử sách, trong cuộc đời làm quan qua năm đời vua triều Trần, Nguyễn Trung Ngạn là một trong 10 người được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức" thời Trần. 

Trong cuộc đời làm quan, với tính cương trực, hai lần Nguyễn Trung Ngạn bị giáng chức, trong đó có lần do ông can vua không được. Nhưng cả hai lần nhờ tài năng trong điều hành chính sự, giải quyết được nhiều vụ việc phức tạp, ông lại được vua thăng chức. 

Mùa xuân năm 1342, Nguyễn Trung Ngạn được tin cẩn trao trọng trách giữ chức Đại doãn Kinh sư Thăng Long (quan đứng đầu kinh thành, tương đương với Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội ngày nay) và là vị Kinh sư đại doãn nổi tiếng nhất trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Ở thủ đô Hà Nội hiện có tới 7 ngôi đình, đền thờ Nguyễn Trung Ngạn. 

Theo nghiên cứu của các nhà sử học, Nguyễn Trung Ngạn là danh nhân có nhiều công trình tưởng niệm nhất ở Hà Nội. Các nhà sử học cho rằng, ngoài vị trí là người đứng đầu kinh thành Thăng Long trong nhiều năm, điều quan trọng nhất khiến ông được người dân tôn kính và thờ phụng như vậy chắc chắn phải là một vị quan liêm khiết, thương dân, làm được nhiều việc tốt cho dân, nên tiếng thơm mới lâu bền như thế. 

Cần nói thêm là theo sử sách, dưới triều Trần vai trò của chức quan đứng đầu kinh thành rất được coi trọng. Những vị quan được cử giữ chức cai quản kinh sư đều là những bậc tài cao đức trọng, danh tiếng và nổi tiếng liêm khiết nhằm bảo đảm tư cách và năng lực của người đứng đầu chính quyền kinh thành Thăng Long.

Trần Nguyên Đán, đại thần, tôn thất nhà Trần, ông ngoại Đại thi hào Nguyễn Trãi, đánh giá rất cao nhân cách cũng như tài kinh bang tế thế của Nguyễn Trung Ngạn:

“Sáng rực như sao Bắc Đẩu, cao vòi vọi như núi Thái Sơn

Dân đều ngưỡng mộ Hữu nhị đài”

Một người làm quan mà được bạn đồng liêu, một nhân cách lớn thời Trần, thuộc dòng tôn thất ca ngợi như vậy thì đủ thấy Nguyễn Trung Ngạn có uy tín chính trị lớn đến chừng nào thời bấy giờ. 

Ông còn là một nhà ngoại giao thông minh, mưu trí, khi mới 26 đã được tin cẩn cử đi sứ nhà Nguyên, một công việc quan trọng liên quan thể diện quốc gia và đầy nguy hiểm, gian nan. Dưới thời phong kiến, những người được cử đi sứ đều phải là những bậc đại khoa, thông minh mẫn tiệp và nhất là phải có tài ứng đối…

Sử sách và trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện ông tiếp sứ nhà Nguyên. Năm 1324, vua Nguyên mới lên ngôi, sai sứ thần Mã Hợp Mưu mang chiếu sang nước ta báo tin. Chúng ngạo nghễ cưỡi ngựa định vào thẳng hoàng cung. Quân thị vệ ngăn lại thì bị mắng om xòm. Các viên quan biết tiếng ra đón tiếp, trình bày hơn 3 giờ liền mà chúng không thèm nghe. Một bên là không thể bất nhã với sứ nước khác, nhất lại là nước lớn láng giềng. Còn một bên là quốc thể không thể để bị hạ thấp. Vua Trần vô cùng tức giận, sai Nguyễn Trung Ngạn ra gặp Mã Hợp Mưu. 

Ông đã dùng kiến thức uyên bác và lý lẽ sắc bén của mình khiến sứ giả nhà Nguyên đuối lý, chịu xuống ngựa, bưng chiếu đi bộ vào yết kiến vua Trần. Khi biết Nguyễn Trung Ngạn là quan Ngự sử, 15 tuổi đã đỗ bảng vàng thì sứ thần nhà Nguyên thay đổi thái độ. Từ đấy cho đến khi về nước, mọi cử chỉ hành động đều khiêm nhường, không ngông nghênh như trước, khiến vua Trần rất hài lòng.

Cuộc đời Nguyễn Trung Ngạn qua sử sách khắc hoạ sâu sắc tố chất của vị quan tài năng, ngay thẳng, yêu nước, thương dân.

Khi làm Tào vận sứ lộ Khoái Châu, ông có sáng kiến lập ra các kho Tào thương để chứa thóc tô kịp thời cấp cho dân lúc đói kém. Sáng kiến này được vua Trần đánh giá cao và xuống chiếu cho các lộ bắt chước thi hành. 

Khi trấn nhậm Thanh Hóa, ông cho rà lại sổ sách và đứng ra xét xử các vụ án một cách công minh làm gương cho các quan lại giữ trọng trách ở địa phương để không làm oan sai cho dân lành. 

Khi làm việc ở Thẩm hình viện, ông lập Bình doãn đường để xét xử ngục tụng, không ai bị oan hoặc bị xử quá đáng, người đương thời lúc đó ví ông như Bao Công.

Vụ án về nho sinh họ Đỗ bị xã trưởng và chánh tổng bắt giải lên huyện cùng một túi vàng có 10 lượng với tội danh giết người cướp của là một thí dụ. Khi thẩm vấn phạm nhân, ông nhận thấy Đỗ Sinh là người thật thà còn xã trưởng và chánh tổng có thái độ đáng ngờ. Ông cải trang thành lái buôn đến tận nơi đào vàng và tìm về quê của thủ phạm để điều tra, vẫn không tìm ra manh mối. 

Không để người ngay chịu tội, ông tiếp tục cho mở rộng điều tra, phát hiện người bạn của Đỗ Sinh đi làm ăn xa trở về có liên quan đến vụ án. Anh ta có giữ hộ Đỗ Sinh giấy biên nhận nộp vàng cho xã trưởng và chánh tổng sau khi nhặt được túi vàng là 20 lượng. Hai kẻ kia đã thông đồng bớt lại nửa số vàng rồi vu cho Đỗ Sinh tội giết người cướp của. Nguyễn Trung Ngạn khám nhà chánh tổng thấy 10 lượng vàng chôn dưới gốc cây thì lập tức lột mũ áo và tống giam 2 kẻ bất lương, còn Đỗ Sinh được thưởng 1 lượng vàng để ăn học… 

Nguyễn Trung Ngạn còn để lại một sự nghiệp trước tác đáng nể trọng cho hậu thế. Ông là đồng tác giả với Trương Hán Siêu soạn hai bộ sách về pháp luật là Hoàng triều đại điển 10 quyển và Hình luật thư 1 quyển. Hai tác phẩm này được xem là cơ sở pháp chế quan trọng của triều đình nhà Trần. 

Là một nhà thơ có tài trên thi đàn dân tộc, thơ của Nguyễn Trung Ngạn được nhiều danh nho  đánh giá rất cao và sưu tập lại, nổi tiếng nhất là tập thơ: Giới Hiên thi tập, được sử gia Phan Huy Chú ở thế kỷ XIX ca ngợi “Lời thơ hùng hồn mạnh mẽ, sở đắc nhiều phong cách thơ của Đỗ Thiếu Lăng – tức Đỗ Phủ đời Đường”. 

Cố giáo sư, NGND Nguyễn Tài Cẩn nhận xét: “Nguyễn Trung Ngạn cũng là người đầu tiên sáng tạo ra lối lục ngôn thể, mở đường cho thơ lục ngôn thể của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đời sau..”.  

Tiếng thơm của danh nhân Nguyễn Trung Ngạn còn lưu mãi tới ngày nay. Ngoài quê hương Hưng Yên, tên ông đã được đặt cho nhiều trường học, đường phố, công trình văn hóa ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác…Hiện nay, di bút duy nhất của Nguyễn Trung Ngạn còn được lưu lại là tấm bia khắc trên vách đá ở Nghệ An với nhan đề “Ma Nhai kỉ công bia văn”. Ngoài giá trị văn học được các nhà sử học ca ngợi bởi ngôn ngữ, bút pháp chặt chẽ, xúc tích, đây cũng chính là tấm văn bia Ma nhai (bia khắc trực tiếp lên vách núi) cổ nhất tại Việt Nam hiện nay. 

4.9. Nhà Hồ (chữ Hán: 胡朝, Hồ Triều) là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần và chấm dứt khi Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt vào năm 1407 – tổng cộng là 7 năm. Quốc hiệu Đại Việt đã đổi thành Đại Ngu năm 1400.

Nhà Hồ do Hồ Quý Ly, một đại quý tộc và đại thần nhà Trần thành lập. Từ năm 1371, Hồ Quý Ly, khi đó mang họ Lê, được tham gia triều chính nhà Trần, được vua Trần Dụ Tông cho làm Trưởng cục Chi hậu. Sau, vua Trần Nghệ Tông đưa ông lên làm Khu mật đại sứ, lại gả em gái là công chúa Huy Ninh.

Nhà Trần, sau biến cố Dương Nhật Lễ, cái chết của Trần Duệ Tông và sự cướp phá của Chiêm Thành, ngày càng suy sụp. Thời hậu kỳ nhà Trần, mọi việc chính sự do thượng hoàng Trần Nghệ Tông quyết định. Trần Nghệ Tông lại rất trọng dụng Hồ Quý Ly nên khi về già thường ủy thác mọi việc cho Quý Ly quyết định. Dần dần binh quyền của Quý Ly ngày một lớn, Nghệ Tông tuổi cao sức yếu cũng không kìm chế nổi.

Năm 1394 Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly được phong làm Phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương, nắm trọn quyền hành trong nước.

Sau khi bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của cháu ngoại là Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ

Tiền giấy được phát hành lần đầu tiên năm 1396 dưới thời vua Trần Thuận Tông, tuy nhiên người quyết định khi đó có lẽ là Hồ Quý Ly. Sau này, trong thời đại của mình, nhà Hồ đã có một số cải cách về hành chính, kinh tế, xã hội như: làm sổ hộ tịch, hạn chế gia nô, lập kho dự trữ thóc gạo, định lại quan chế và hình luật, thuế và tô ruộng, di dân khẩn hoang, lập cơ quan chăm sóc y tế v.v Tuy nhiên, các cải cách của nhà Hồ hầu như không giành được thành công, do những thủ đoạn mà Hồ Quý Ly đã làm để lên ngôi khiến dân chúng xa lánh nhà Hồ.

Qua một số trận giao tranh nhỏ, quân Hồ thắng trận, quân Minh phải giao nộp Thiêm Bình mới được rút lui.Tháng 4 năm 1406, nhà Minh sai Hàn Quan và Hoàng Trung đem 10 vạn quân ở Quảng Tây sang, mượn cớ đưa con cháu nhà Trần là Trần Thiêm Bình về làm vua.

Tháng 9 năm ấy, nhà Minh sai Trương Phụ, Trần Húc, đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy (cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay), Mộc ThạnhLý Bân cũng đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh (gần thị xã Hà Giang ngày nay), hai đạo quân tổng cộng là 80 vạn

Tháng 10, quân Minh hội ở sông Bạch Hạc, bày doanh trại bờ bắc sông Cái, đến tận Trú Giang. Ngày 2 tháng 12, quân Minh chiếm được Việt Trì, bờ sông Mộc Hoan và chỗ đóng cọc ở sông Bạch Hạc. Tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Hồ Xạ không giữ nổi, phải dời hàng trận sang phía nam sông Cái.

Đêm mùng 7, quân Minh cho khiêng thuyền ra bờ phía bắc bãi sông Thiên Mạc. Tướng quân Trần Đĩnh đánh bại quân Minh. Đêm ngày mùng 9, quân Minh đánh úp quân họ Hồ ở bãi Mộc Hoàn. Tướng chỉ huy quân Nguyễn Công Khôi, không phòng bị, thuyền bị cháy gần hết, toàn quân bị tiêu diệt. Thủy quân ở phía trên và phía dưới không ai đến cứu, chỉ từ xa xin Hồ Nguyên Trừng xem ai có thể thay giữ chỗ đó. Quân Minh liền vượt sông làm cầu phao để sang.

Sáng ngày 12, Trương Phụ cùng Hoàng Trung, Thái Phúc tiến công phía tây bắc thành Đa Bang. Mộc Thạnh cùng Trần Tuấn tiến công phía đông nam thành. Nguyễn Tông Đỗ, chỉ huy quân Thiên Trường đào thành cho voi ra. Quân Minh dùng hỏa tiễn bắn voi. Voi lui lại, quân Minh theo voi đánh vào. Thành bị hạ. Quân ở dọc sông tan vỡ, lui giữ Hoàng Giang. Quân Minh vào Đông Đô.

Năm 1407, ngày 20 tháng 2, Hồ Nguyên Trừng tiến quân đến sông Lô, quân Minh giữ hai bên bờ sông đánh kẹp lại, quân Hồ thất bại, lui giữ Muộn Khẩu (cửa sông Hồng ở Giao Thủy, Nam Định ngày nay). Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đều trở về Thanh Hóa. Hồ Đỗ, Hồ Xạ bỏ Bình Than qua Thái Bình, Đại Toàn đến Muộn Khẩu, hợp sức đắp lũy, đúc hỏa khí, đóng thuyền chiến để chống lại. Quân Minh đối lũy với quân Hồ, ngày đêm đánh nhau, vì nắng mưa, dịch bệnh, bùn lầy ẩm uớt khó ở, bèn dời đến đóng ở Hàm Tử, lập doanh trại phòng bị nghiêm ngặt. Hồ Nguyên Trừng và Hồ Đỗ cũng dời quân đến Hoàng Giang, lại đón Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương từ Thanh Hóa tới.

Ngày 13 tháng 3, Hồ Nguyên Trừng cùng Hồ Đỗ, Đỗ Mãn tiến quân đến cửa Hàm Tử đánh quân Minh song thất bại. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương dẫn các tướng và quan lại vượt biển trở về Thanh Hóa. Ngày 23 tháng 4, quân Minh đánh vào Lỗi Giang, quân Hồ không đánh mà tan. Ngày 29, quân Minh đánh vào cửa biển Điển Canh, thủy quân nhà Hồ tự tan vỡ.

Ngày 5 tháng 5, quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Ngày 11, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh. Quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ở bãi Chỉ Chỉ; Hồ Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La. Ngày 12, bắt được Hồ Hán Thương và thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Nhà Hồ sụp đổ.

Trương PhụMộc Thạnh sai Liễu Thăng, Lỗ Lân, Trương Thăng, Du Nhượng, Lương Định, Thân Chí bắt giải Hồ Quý Ly và các con cháu cùng các tướng Hồ Đỗ, Nguyễn Ngạn Quang, Lê Cảnh Kỳ; Đoàn Bổng, Trần Thang Mông, Phạm Lục Tài cùng ấn tín đến Kim Lăng. Tháng 8, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân về, lưu lại Lữ Nghị, Hoàng Phúc trấn giữ. Biết tin nhà Hồ sụp đổ, nông dân đã nổi dậy khởi nghĩa.

Sau 500 năm giành được quyền tự chủ, Việt Nam lại mất về tay Trung Quốc. Sau Khúc Thừa Mỹ, tới đầu thế kỷ 15, người cai trị Việt Nam lại bị bắt làm tù binh. Cha con Hồ Quý Ly chỉ có phong thái của những ông vua văn trị, những ông quan mũ cao áo dài mà không phải là những chiến tướng khi có chiến sự, do đó đều chịu trói về bắc mà không dám chọn lấy cái chết oanh liệt khi đại cuộc không thể cứu vãn. Việc mất nước của nhà Hồ để lại hậu quả tổn thất không nhỏ cho nước Đại Việt, nhất là về văn hoá.( https://vi.wikipedia.org)

4.10. Nhà Hậu Trần (1407 – 1413) (chữ Hán: 後陳朝 (Hậu Trần Triều)) là một giai đoạn lịch sử của Việt Nam mà các sách sử vẫn chưa thống nhất cách gọi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư thì gọi là nhà Hậu Trần, còn Khâm định Việt sử Thông giám cương mục  thì hoàn toàn không nói đến cụm từ này mà chỉ thuật lại sự việc trong những năm đó. Ở đây, theo sách Sách Đại Việt sử ký toàn thư nên gọi là nhà Hậu Trần.

Nhà Hậu Trần thành lập tháng 10 âm lịch năm 1407 sau khi nhà nước Đại Ngu của nhà Hồ bị quân đội nhà Minh xâm chiếm và tiêu diệt. Trong thời kỳ này, nước Đại Ngu bị nhà Minh đổi tên trở lại thành Giao Chỉ và chia thành 17 phủ, 5 châu và 12 vệ trực thuộc Ty Bố Chính. Dù chỉ tồn tại có 6 năm và trên thực tế là không có chủ quyền thực sự trên toàn lãnh thổ, nhưng nhà Hậu Trần đã để lại nhiều bài học quý báu về công cuộc giữ nước.

Khi nhà Minh mới tiêu diệt nhà Hồ thì lòng dân trong nước vẫn không yên, khắp nơi nổi lên chống lại. Trần Ngỗi là con trai vua Trần Nghệ Tông (1321-1394). Khi ông chạy đến Mô ĐộTrường Yên thì người phủ Thiên Trường là Trần Triệu Cơ dựng ông làm vua- xưng là Giản Định Đế, đặt niên hiệu là Hưng Khánh.

Được Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân giúp sức, quân Trần đánh thắng quân Minh và các "Ngụy quan" (quan lại người Việt cộng tác với quân Minh) nhiều trận, giải phóng một vùng rộng lớn từ Thanh Hoá vào tới Thuận Hoá.

Tháng Chạp năm Mậu Tý (1408), Giản Định Đế hội tất cả quân Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh Đông Đô. Quân ra đến Trường An (Ninh Bình) thì các quan thuộc và những kẻ hào kiệt ở các nơi ra theo nhiều lắm.

Quân nhà Minh đem tin ấy về báo cho vua Minh Thành Tổ Chu Đệ biết. Chu Đệ sai Mộc Thạnh đem 40.000 quân ở Vân Nam sang đánh. Quân Minh cũng điều động 20.000 thủy quân tại Trung Quốc sẵn sàng sang tiếp chiến. Thêm vào đó, tiếp vận sứ Minh là Sun Quan từ Quảng Đông sang với 10.000 quân vận tải cũng được tạm thời trưng dụng để tham gia phòng vệ. Các đội quân thổ binh cơ động bản xứ, đông tới 2000 người, cũng được điều động để kịp thời ứng cứu những nơi nguy cấp. Mộc Thạnh cùng với quan đô chưởng là Lữ Nghị vào đến bến Bô Cô (thuộc xã Hiếu Cổ, huyện Phong Doanh) thì gặp quân Hậu Trần. Hai bên giao chiến, Giản Định Đế tự cầm trống thúc quân, tướng sĩ ai nấy hết sức xung phong, phá tan được quân nhà Minh, chém được Lữ Nghị ở trận tiền và đuổi Mộc Thạnh về đến thành Cổ Lộng (thành nhà Minh xây tại khu vực ngày nay là làng Bình Cách, huyện Ý Yên).

Bấy giờ Giản Định Đế muốn thừa thắng đánh tràn ra để lấy lại Đông Quan (tức Đông Đô, Hà Nội). Nhưng Đặng Tất ngăn lại, muốn để đợi quân các lộ về hội đông đủ, rồi sẽ ra đánh. Từ đó vua tôi không được hòa thuận. Giản Định Đế lại nghe người nói gièm, cho rằng Tất không muốn giải phóng Đông Quan vì có "ý khác". Vì vậy tháng 3 năm 1409, Giản Định Đế bắt Đặng Tất và quan tham mưu là Nguyễn Cảnh Chân đem giết đi, thành ra lòng người ai cũng chán nản, không có lòng giúp nữa.

Tháng 3 âm lịch năm 1409, sau khi Giản Định Đế giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân thì các con của hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bỏ đi, đón Trần Quý Khoáng (cháu nội Trần Nghệ Tông và gọi Giản Định Đế là chú) ra làm vua tại Chi La, Nghệ An, tức là Trùng Quang Đế. Để tránh tình trạng phân tán lực lượng, Trùng Quang Đế sai tướng Nguyễn Suý mang quân đánh úp bắt Giản Định đế về, tôn làm thái thượng hoàng.

Tuy được ngồi ở ngôi cao nhưng Giản Định Đế không bằng lòng bị quản chế và nhất là đã gây bất hòa với hai tướng chủ chốt họ Đặng, họ Nguyễn. Cuối năm 1409, nhân khi vua và thượng hoàng chia quân làm hai cánh đi đánh quân Minh, ông mang lực lượng bản bộ gồm những người thân tín tự trốn khỏi quân Trung Quang Đế, muốn khôi phục cơ đồ riêng thì bị quân Minh bắt được và sau đó bị giết. Các nhà sử học cho rằng Trần Ngỗi thất bại do vua không có tài dẹp loạn, lại giết bỏ người giúp mình, tự chuốc lấy diệt vong, chẳng phải vì không may. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: "Vua may thoát khỏi vòng vây hãm nguy hiểm, cầu người cứu giúp nạn nước, được cha con Đặng Tất có tài làm tướng, cha con Cảnh Chân giỏi tài mưu lược, đủ để lập được công khôi phục, dựng được nghiệp trung hưng. Với trận thắng Bô Cô, thế nước lại nổi. Thế mà nghe lời gièm pha ly gián của bọn hoạn quan, một lúc giết hại hai người bề tôi phò tá mình, thì làm sao nên việc được!"

Quân Minh sau trận đại bại ở Bô Cô, Mộc Thạnh phải chạy về cố thủ ở thành Đông Quan. Tháng 7 năm 1409, Thượng hoàng Trần Ngỗi và vua Trùng Quang chia quân hai đường đánh quân Minh. Thượng hoàng đóng ở Hạ Hồng (Ninh Giang), Trùng Quang đế đóng ở Bình Than. Quân Minh cố thủ không dám ra đánh.

Được tin Mộc Thạnh thất trận, nhà Minh điều Trương Phụ mang 47.000 quân sang cứu viện, thế quân Minh lại lên. Trần Ngỗi bỏ thuyền lên bờ, chạy về trấn Thiên Quan. Trùng Quang Đế ngờ thượng hoàng có ý tách lực lượng riêng nên sai Nguyễn Suý đuổi theo nhưng không kịp. Trương Phụ mang quân đuổi theo bắt được Trần Ngỗi và thái bảo Trần Hy Cát, sai giải về Kim Lăng (Trung Quốc) và sát hại.

Tháng 8, Trùng Quang Đế cầm cự với Trương Phụ ở Bình Than. Vua lệnh cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử. Bấy giờ lương thực rất thiếu thốn, Đặng Dung chia quân đi gặt lúa sớm để cấp cho quân. Quân Minh dò biết, dùng thủy quân đánh cửa Hàm Tử, quân của Đặng Dung tan vỡ. Minh sử ghi lại Trương Phụ đánh với 20.000 quân Hậu Trần có 600 thuyền chiến, giết hơn 3.000 người, số bị chết đuối "vô số", và bắt được hơn 400 thuyền chiến.

Sau khi bắt được Trần Ngỗi, quân Minh cho rằng việc bình định đã gần hoàn thành, nên Trương Phụ xin với vua Minh về nước, để Mộc Thạnh ở lại chỉ huy lực lượng quân Minh đã được tăng cường.

Ngày 6/9/1409, quân Minh giao chiến với quân Hậu Trần ở cửa sông Thần Đầu. Quân Hậu Trần có đến 400 chiến thuyền, tiến đánh rất hăng hái, nhưng không đọ lại được với hỏa lực quân Minh nên phải rút lui.

Quân Minh đuổi theo quân Hậu Trần, đến ngày 7/2/1410 đuổi đến châu Ngọc Ma thì thổ binh người Thái cùng voi chiến đổ ra đánh. Quân Minh dùng hỏa hổ bắn voi và quản tượng, voi hoảng sợ quay đầu chạy, quân Thái tan vỡ.

Đến ngày 12 tháng 2 năm 1410, quân Minh lại giao chiến với 2 vạn quân Hậu Trần tại Đông Hồ, giết 4.500 người và bắt làm tù binh 2.000 người, quân nhà Trần thua phải chạy về Nghệ An.

Dù rằng bị đánh lui về phía nam, nhưng lực lượng nhà Trần tiếp tục hoạt động và kiểm soát từ Nghệ An trở vào, nhà Minh liên tục phải điều động quân từ Quảng Tây sang tiếp viện cho Mộc Thạnh. Đầu năm 1411, vua Minh lại điều Trương Phụ dẫn 24.000 quân sang tiếp viện cho Mộc Thạnh để đánh dẹp nhà Hậu Trần. Quân Minh tiến về phía nam, đường thủy do Trương Phụ, đường bộ do Mộc Thạnh chỉ huy, định đánh kẹp quân nhà Trần tại các căn cứ dọc các cửa sông đổ ra biển.

Tháng 6 năm 1412, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân đánh vào Nghệ An, gặp Nguyễn SuýNguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở Mô Độ. Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Nguyễn Súy và Nguyễn Cảnh Dị vượt biển chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, liền đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi.

Tháng 4 năm 1413, Trương Phụ lại đánh vào Nghệ An. Trùng Quang Đế rút lui về Hóa Châu.

Như vậy, từ chỗ áp sát thành Đông Quan, quân Hậu Trần dần dần yếu thế phải lui binh về phía nam trước sự tham chiến của đạo quân viện binh hùng hậu và viên danh tướng Trương Phụ. Hóa châu là mảnh đất cố thủ cuối cùng của quân Hậu Trần.

Tháng 6 năm Quí Tỵ (1413) quân Trương Phụ vào đến Nghệ An, quan Thái phó nhà Hậu Trần là Phan Quí Hữu ra hàng, được mấy hôm thì mất. Trương Phụ cho con Quí Hữu là Phan Liêu làm tri phủ Nghệ An. Phan Liêu muốn tâng công, nên nói cho Phụ biết Trần Quý Khoáng có bao nhiêu tướng tá người nào giỏi, người nào dở, quân số nhiều ít, sơn xuyên chỗ hiểm, chỗ không thế vào.

Trương Phụ bèn quyết ý vào Hóa Châu, và hội chư tướng lại để bàn kế tiến binh. Mộc Thạnh nói rằng: "Hóa Châu núi cao bể rộng khó lấy lắm". Trương Phụ nhất định vào đánh cho được, nói rằng: "Ta sống cũng ở đất Hóa Châu này, mà chết cũng ở đất Hóa Châu này. Hóa Châu mà không lấy được thì không mặt mũi nào về trông thấy chúa thượng!". Lập tức truyền cho quân thủy bộ tiến vào đánh Hóa Châu.

Tháng 9 năm 1413, quân Trương Phụ vào đến Hóa châu, Nguyễn Suý và Đặng Dung nửa đêm đem quân đến đánh trại Trương Phụ. Đặng Dung đã vào được thuyền của Trương Phụ định bắt sống nhưng không biết mặt, vì thế Trương Phụ mới nhảy xuống sông lấy thuyền nhỏ mà chạy thoát được. Bấy giờ quân Hậu Trần còn rất ít, Trương Phụ thấy vậy đem binh đánh úp lại, Đặng Dung địch không nổi phải bỏ chạy. Nguyễn Cảnh Dị thua trận bị Trương Phụ bắt, ông mắng Phụ rồi tự sát.

Từ khi thua trận đó, Trùng Quang Đế thế quá yếu không thể chống với quân Minh được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu vua Trần và các tướng đều bị bắt và bị giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng tự sát. Nguyễn Súy tìm làm thân với viên quan áp giải mình, được cùng người đó đánh cờ. Nhân thời cơ thuận lợi, Nguyễn Suý cầm bàn cờ đập chết viên áp giải rồi mới nhảy xuống sông tự vẫn.

Toàn bộ vua tôi nhà Hậu Trần cuối cùng đều tử tiết oanh liệt chứ không đầu hàng quân Minh. Còn tên hàng tướng bày mưu cho quân Minh là Phan Liêu về sau đã bị quân khởi nghĩa của Lê Lợi giết chết. Ngô Sĩ Liên ca ngợi: "Than ôi, người làm tôi trung với nước tuy chết vì nghĩa không có tội gì, mà để lại tiếng thơm mãi mãi, còn bọn bất trung phản quốc, không tránh khỏi chết, lại còn để tiếng xấu ngàn năm, thực đúng như thế."

Nhà Hậu Trần chỉ truyền được 2 đời, tổng cộng 7 năm. Tính cả nhà Trần trước đây thì tổng số có 14 vua Trần. (http://vi.wikipedia.org/).

4.11. Nguyễn Thị Bích Châu (chữ Hán: 阮氏碧珠, 1356 - 1377), là một cung phi của vua Trần Duệ Tông.

Bà có tài thơ văn, lại nhìn xa trông rộng, từng dâng "Kê minh thập sách" (Mười kế sách trị nước) để can gián Trần Duệ Tông bỏ qua việc chinh chiến mà củng cố đất nước, nhưng nhà vua không nghe, dẫn đến kết cục bi thảm.

Bà quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tướng Công. Bà được cha mẹ nâng niu đặt tên Bích Châu (碧珠), tự là Bích Lưu (碧琉). Ngụ ý con gái của ông bà quí giá sánh với châu ngọclưu ly ở trên đời.

Bà sớm nổi tiếng thông tuệ, hiểu văn chương, biết thi phú, thạo âm luật, lại có dung mạo xinh đẹp, nên rất nổi tiếng trong vùng.

Năm 1373, bà được Trần Duệ Tông tuyển làm cung nhân, lúc đàn ca, khi ngâm vịnh, được nhà vua rất đỗi thương yêu, gọi là Nguyễn Cơ (阮姬), ái phi Bích Lưu hay ái phi Bích Châu.

Các giai thoại

Ứng đối thơ ca

Duệ Tông tỏ vẻ hài lòng hết ngắm trăng lại ngắm đèn, bỗng nhà vua cao hứng ra câu đối:Một hôm, nhân tiết trung thu, bà bày tiệc nhỏ trên gác tía, chung quanh treo đèn lồng sắc trắng chen đủ màu rất đẹp.

"Trời thu gác tía treo đèn bạc, quế đỏ trong trăng"

Hàng quan dự tiệc đều buông đũa suy nghĩ. Họ đang mải miết tìm vần thì bà đã chắp tay, cất tiếng:

"Sắc xuân đài trang mở gương báu, phù dung đáy nước"

Vua đắc ý khen hay và thưởng cho đôi "ngọc long kim nhĩ" (hoa tai vàng cẩn ngọc hình rồng nổi) và nhân đó lại đặt biệt hiệu cho bà là Phù Dung (芙蓉).

Kê minh thập sách

Sau một thời gian, bà Bích Châu nhận thấy đức quân vương tính nóng nảy, thiếu bản lĩnh, triều chính đang có nguy cơ rạn nứt suy sụp, bà đăm chiêu chú tâm soạn thảo bản điều trần dâng vua, nhan đề: Kê minh thập sách - nêu 10 kế sách trị nước an dân. Đại ý mượn tiếng gà gáy sáng để thức tỉnh nhà vua, với những lời tâm huyết được trải ra từng câu, ví như:

Nhất viết, phù quốc bản, hà bạo khứ tắc nhân tâm

Tứ viết - thải nhũng lại dĩ tính dân ngự

Dịch nghĩa:

Điều một - bền gốc nước, trừ kẻ bạo thì dân chúng được yên

Điều bốn - đuổi bọn quan lại tham nhũng để bớt vơ vét của dân

Xem xong bản điều trần của ái phi Bích Châu, nhà vua cảm kích vỗ trán thốt lên:

Không ngờ ái phi lại thông tuệ đến thế? May cho trong cung của trẫm xuất hiện một bậc Từ phi 

Nhưng sau đó, bản điều trần ấy không được vua quan tâm đến nên chẳng thực hiện một điều nào, thật đáng tiếc.

Cái chết

Năm 1376, đất nước ta bị chúa Chiêm Thành Chế Bồng Nga thường sang gây hấn quấy rối. Mùa Đông năm đó giặc lại tràn sâu vào lãnh địa của ta phá phách rất hung bạo. Vua Trần Duệ Tông giận dữ xuống chiếu ngự giá thân chinh đi dẹp giặc. Bà Bích Châu bồn chồn lo lắng dâng biểu khuyên can.

Rồi bà lại viết tiếp đoạn ngắn nhắc nhở nhà vua: "…Việc trị đạo nước trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng yên hàn. Trị cái rắn nên dùng cái mềm, phục rợ xa cốt lất đức… Đó là thượng sách, xin quan gia xét đoán cho minh."

Bài biểu dâng lên cũng không lay chuyển nổi nhà vua. Cung phi Bích Châu buồn lo than thở: "…Nghĩa lớn là vua tôi, ái tình là vợ chồng. Vậy mà không giỏi khuyên can để giữ nền bình trị, không biết khéo lời để ngăn lòng hiếu chiến, như thế ta đã là người vô dụng chăng?" Biết nhà vua nhất định không chịu nghe, bà đành xin đi theo hộ giá.

Thuyết thứ nhất

Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn) vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhưng sau đó lại bất ngờ tiến đánh vào lúc nửa đêm. Quân của Trần Duệ Tông bị tấn công bất ngờ, long thể nhà vua lại bất an, Nguyễn Thị Bích Châu cưỡi ngựa tả xung hữu đột cầm quân xung trận và không may bị trúng tên độc sau đó từ trần.

Ba ngày sau vì vết thương quá nặng nhà vua cũng băng hà, quân nhà Trần rút về kinh đô khi tới địa điểm Châu Hoan vì sóng to gió lớn tàu thuyền phải ghé vào vũng Ô Tôn (Vũng Áng). Lúc này vua Trần Phế Đế mới lên ngôi nghe tin liền xuống chiếu rước linh cữu nhà vua về bằng đường bộ còn linh cữu Thần phi đi bằng đường biển. Sau mấy ngày thời tiết không thuận lợi triều đình xuống chiếu cho an táng Thần phi tại Cửa Khẩu, bến Kỳ La huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan.

Thuyết thứ hai

Quân Trần buổi xuất binh ngày ấy cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, truyền rằng trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gươm giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây. Nhưng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (Kỳ AnhNghệ Tĩnh) (nay là Kỳ LợiKỳ AnhHà Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Đoàn thuyền đành tạm neo ngay lại đấy. Bởi mặt biển thường nổi sóng cao và xoáy lốc, ngay sát bờ đã là dãy vực thẳm đầy đá nhọn, ra càng xa thì vực càng sâu, lòng biển lởm chởm hàng khối đá ngầm.

Binh thuyền phải vất vả thương tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhưng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Đoàn thuyền chiến nhấp nhô đập chúi vào nhau rầm rầm. Nhiều cái bị đứt dây, lao đi vùn vụt đâm vào đá vỡ toang. Quân lính lớp chết, lớp kêu la chới với. Số còn sống ai nấy đều kinh hãi nản lòng. Nhà vua quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp.

Đêm ấy, vua Duệ Tông mộng thấy một vị thần xưng là Nam Minh đô đốc, thủ hạ của Quảng Lợi đại vương, muốn xin vua ban cho một người thiếp, nếu được như ý nguyện, mới làm cho bể yên, sóng lặng để thuyền vua đi qua. Vua sợ hãi, vội cho đòi các quan tướng và phi tần đến chỗ ngự tẩm, kể lại giấc mơ. Trong khi các quan tướng chưa biết ứng đối thế nào, thì Bích Châu từ sau trướng bước ra, nói:

"Việc linh ứng của thần nhân như vậy là rõ ràng, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Tiện thiếp tình nguyện liều tấm thân bèo bọt này để chu toàn cho đoàn ngự giá và quan quân".

Vua Duệ Tông bàng hoàng chưa kịp phán bảo cản ngăn thì bà Bích Châu đã nhanh nhẹn quay ra thuyền lệnh: "… Các quan mau mau sửa soạn lễ vật cúng thần biển, kính báo thời khắc thiếp tôi được nhà vua cử làm sứ giả đi gặp thần biển xin sóng lặng bể yên phù trợ cho vua quan, quân lính nhà Trần được chiến thắng dịp này, đem bình an về cho đất nước".

Bà vừa dứt tiếng thì từ nhà vua đến các quan có mặt quanh đó đều sửng sốt, nghẹn lời… Mặc hết những lời can ngăn, bà Bích Châu vẫn một mực tha thiết tâu xin cho bà có dịp được vinh hạnh phò vua, giúp quân, đền nợ nước. Không làm sao hơn, tất cả đều nén lòng nghe theo ý chí cương quyết của cung phi Bích Châu. Một cung nữ tài sắc, mới kề cận nhà vua được bốn năm, được vua Duệ Tông sủng ái rất mực như vậy mà dám lìa bỏ tất cả, can đảm hy sinh tính mạng thì thật là một việc làm quá phi thường.

Chiếc thuyền rồng chao đảo ngả nghiêng. Bà Bích Châu thanh thản để thị nữ xông trầm, trang điểm cho mình. Thoáng chốc, bà đã trâm thoaxiêm gấmhài thêu lộng lẫy bước ra. Trước mắt mọi người lúc này, vẻ đẹp của bà Bích Châu đang tỏa ánh hào quang như một vị thiên thần. Phải, chính đó là một vị ái phi mới 20 tuổi của nhà vua, giai nhân tuyệt sắc ấy đang đứng ở vị thế là một nữ dũng tướng của quan quân triều Trần Duệ Tông.

Vua Duệ Tông trút bỏ giáp trụ, thương cảm trong lớp hoàng bào. Ngài trịnh trọng đội mũ Triều thiên để kính cẩn đưa tiễn bà ái phi dũng cảm ra đi. Ngài truy tặng cho bà làm Thần phi (宸妃).

Mặc cho sóng đánh tới tấp, nước tràn lênh láng, bà Bích Châu vẫn tươi tắn đến sụp quì lạy nhà vua, cầu chúc nhà vua bình tĩnh và đại thắng, rồi quay về hướng Bắc lạy cha mẹ, vái chào tử biệt hàng quan quân, trang nghiêm đến ngồi gọn vào trong lòng chiếc thuyền thoi nhỏ nhắn có cắm đại hoàng kỳ (cờ nhà vua). Chiếc thuyền được quan quân thòng dây thả từ từ xuống biển, giữa những cơn sóng thần liên tiếp quật nước lên cao. Bà Bích Châu bình tĩnh nắm dây nhắm mắt.

Vừa đụng nước, chiếc thuyền lập tức quay vòng ngụp lặn với sóng cả rồi chìm lỉm mất hút. Đem theo một trái tim rực rỡ ánh châu ngọc lưu ly nhập cõi thuỷ tận.

Hai ngày sau bão mới ngớt, xác phu nhân Bích Châu nổi trên mặt biển, vẫn uy nghi trong bộ triều phục, nhấp nhô theo làn sóng bạc trôi dần vào bờ, được dân làng vớt lên rước đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Cũng là lúc mà đoàn thuyền chiến của vua Trần Duệ Tông đã lướt tiến khá xa, chở đầy những bầu máu nóng sẵn sàng lao vào trận tiền với quyết tâm diệt giặc giữ yên bờ cõi, đền bù tâm nguyện của phu nhân Bích Châu trước giờ tử biệt.

Thế nhưng, vì Trần Duệ Tông không nghe lời can gián, vẫn cho quân tiến sâu vào động Y Mang, đất Chiêm, nên bất ngờ bị trúng mưu của giặc Bà Ma, một tướng của Chế Bồng Nga, toàn quân tan rã. Vua tử trận ở Đồ Bàn (Quy Nhơn ngày nay). Sử ghi đó là ngày 23 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1377).

Tôn thờ

Đến nay, tại xã Kỳ Ninh và làng Hải PhòngKỳ Lợi vẫn còn đền thờ thần phi Bích Châu.

Thần phi Nguyễn Thị Bích Châu đã ra đi từ gần 7 thế kỷ qua, nhưng tấm gương hi sinh vì nước, vì dân của bà vẫn còn chói sáng đến muôn đời sau.

Phần sáng tác của bà Bích Châu, tuy còn lại rất ít, nhưng chỉ với bài “Kê minh thập sách” đã chứng tỏ ngòi bút sắc bén của cung phi nữ sĩ Bích Châu đáng bậc nữ lưu văn học dưới triều Trần Duệ Tông.

Nữ sĩ cung phi Bích Châu đã thực sự đóng góp vào nền văn học nước nhà nói chung và nền văn học viết từ đời Trần của giới nữ nói riêng, một áng văn bác học tinh tế. Lời văn hùng hồn và thiết thực có giá trị như một ngọn đuốc soi đường cứu đất nước một cách tích cực, tỏ rõ tâm hồn tha thiết yêu nước thương dân của nữ sĩ cung phi Bích Châu.

Truy phong

Năm 1471Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, qua chỗ bà Bích Châu đã trầm mình. Bà hiện lên báo mộng cho vua Lê và xin làm lễ giải thoát. Biết chuyện bà Bích Châu, hôm sau, nhà vua liền viết một tờ hịch hạch tội Nam Minh đô đốc, sai thả xuống biển. Truyền thuyết kể lập tức vị này bị chém chết, xác nổi lên mặt nước. Sau khi thắng trận trở về, vua hạ chiếu lập đền, cấp ruộng tế và người trông coi, sắc phong cho bà là Chế Thắng, nên đền được gọi là Chế Thắng Phu Nhân.

Hàng năm, vào 12/2 âm lịch là ngày giỗ.

Vua Lê Thánh Tông còn làm một bài thơ điếu bà Bích Châu:

Nàng xưa cung nữ của Hy Lăng

Vì nước lâm nguy, quyết xả thân

Một trận gió yêu gây sóng cả

Hồn nương bến bãi suốt đêm xuân

Bỗng dưng sông lạnh vùi thân gái

Biết chốn nào đây viếng nữ thần?

Chán nhỉ, vạn ngàn quân tướng mạnh

Chẳng bằng tờ hịch gã thư sinh!

Sáu câu đầu vua ca tụng đức xả thân cứu nước của bà Bích Châu. Hai câu kết có ngụ ý chê vua Duệ Tông và tự đề cao mình. Có lẽ vì vậy hương linh của bà Bích Châu không vui, vì chạm vào tình cảm kính trọng chồng.

Vì thế, khi vua Lê Thánh Tông thắng trận, lúc khải hoàn qua đây, bà lại báo mộng, tạ ơn vua đã cứu mình, với lời van xin: "Bài thơ nhà vua đề ở Đền lời ý đều hay, duy hai câu kết có ý phẩm bình chuyện cũ, khiến lòng thiếp không được yên!". Nhà vua sửa ngay hai câu kết thành: Vạn cổ cương thường lòng chẳng thẹn/ Thư cưu giỡn sóng dưới chân đền.

Tác phẩm

Bài “Kê minh thập sách”, được phiêm âm như sau:

Nhất viết: Phù quốc bản, hà bạo khứ, tắc nhân tâm khả an.

Nhì viết: Thủ cựu qui, phiền nhiễu cách tắc triều cường bất vẩn.

Tam viết: Ức quyền hành dĩ trừ quốc đố.

Tứ viết: Thải nhũng lại, dĩ tính dân ngự.

Ngũ viết: Nguyện chấn nho phong, sử tước hoả dữ nhật nguyện nhị tịnh chiếu.

Lục viết: Nguyện cầu trực gián, hội thành môn dữ ngôn lộ nhi tịnh khai.

Thất viết: Luyện binh đương tiên dũng lực nhi tả thân tài.

Bát viết: Tuyển tướng nghi hậu thế gia, nhi tiên thao lược.

Cửu viết: Khi giới qui kỳ khiên nhuệ, bất tài thi hoa.

Thập viết: Trận pháp giáo dĩ chỉnh tề, hà tu vũ đạo.

Dịch nghĩa:

Điều một: Bền gốc nước, trừ kẻ bạo thì dân chúng được yên.

Điều hai: Giữ nếp xưa, phiền nhiễu nên bỏ thì triều cương không rối.

Điều ba: Ngăn kẻ lạm quyền để trừ mọt nước.

Điều bốn: Loại bọn quan tham nhũng để bớt vơ vét của dân.

Điều năm: Mở lối nho phong để ngọn lửa đóm được soi cùng mặt trời mặt trăng.

Điều sáu: Tìm những lời trực gián để đường ngôn luận được rộng mở như cửa thành.

Điều bảy: Rèn luyện binh sĩ cần lất hạng có dũng lực hơn là hạng vóc vạc lớn.

Điều tám: Chọn tướng trước nên lựa người thao lược sau mới đến là bậc thế gia.

Điều chín: Khí giới cốt tinh nhuệ hơn là lòe loẹt.

Điều mười: Tập trận pháp cần chỉnh tề không cần múa nhảy.( https://vi.wikipedia.org)

4.12. Nguyễn Cảnh Chân (chữ Hán: 阮景真; 1355 - 1409) là danh tướng chống quân Minh đời Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông người làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ AnViệt Nam.

Cuối thời nhà Trần, Nguyễn Cảnh Chân làm an phủ sứ Hoá Châu (Thừa Thiên-Huế). Lúc đó chính quyền nhà Trần đã trong tay Hồ Quý Ly. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần lập ra nhà Hồ. Không lâu sau, Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương, lên làm thái thượng hoàng.

Năm 1402, để củng cố phía Nam, Hồ Quý Ly cho lập ra 4 châu mới chiếm của Chiêm Thành: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và đặt lộ Thăng Hoa để thống nhất cả 4 châu, cử Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa. Theo sử sách, hai họ nhà Nguyễn và Đặng có thân nhau từ trước nên từ đó Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất càng thân thiết và có uy tín lớn trong vùng.

Tuy nhiên, tháng 4 năm 1406, khi quân Minh đưa Thiêm Bình trở về, Hồ Hán Thương sai quân đón đánh, bắt được Thiêm Bình mang về chém chết.Năm 1406, Trần Thiêm Bình mạo xưng là con cháu nhà Trần, sang tố cáo với nhà Minh việc nhà Hồ đoạt ngôi nhà Trần. Minh Thành Tổ (Chu Lệ) sai quân đưa Trần Thiêm Bình về nước. Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân dâng tờ biểu "tạ tội" với nhà Minh và xin đón Thiêm Bình về tôn lên làm chúa. Vua nhà Minh sai hành nhân là Niếp Thông đem tờ sắc sang dụ Hán Thương rằng: "Nếu quả đón Thiêm Bình về tôn làm chúa, thì sẽ ban cho khanh tước thượng công và phong cho một quận lớn". Hồ Hán Thương lại sai ông theo Niếp Thông sang báo cáo về việc đón Thiêm Bình.

Cuối năm 1406, nhà Minh khởi đại quân sang xâm lược. Cha con Hồ Quý Ly nhanh chóng thất bại và bị bắt mang về Trung Quốc.

Nguyễn Cảnh Chân cùng Đặng Tất và một số tướng thuộc lực lượng của Trần Nguyệt Hồ, người vừa bị quân Minh đánh bại ở Đông Triều cũng mang quân đến họp. Thế quân Hậu Trần mạnh lên. Trần Giản Định đế phong Đặng Tất làm quốc công, Nguyễn Cảnh Chân làm Đồng Tri khu mật tham mưu quân sự.Tháng 11 năm 1407, tôn thất nhà Trần là Trần Ngỗi xưng đế ở Mô Độ (Ninh Bình), tức là Giản Định Đế, lập ra nhà Hậu Trần, khởi binh chống quân Minh. Quân Hậu Trần mới họp, bị quân Minh đánh bại phải chạy vào Nghệ An.

Từ đó, Đặng Tất thường làm tướng đánh trận ở ngoài còn Nguyễn Cảnh Chân đóng vai trò tham mưu cho vua Giản Định Đế.

Đầu năm 1408, Giản Định Đế điều quân đánh Nghệ An và Diễn Châu, tiêu diệt lực lượng của hai quý tộc nhà Trần cũ là Trần Thúc Dao và Trần Nhật Chiêu theo hàng quân Minh trấn giữ. Trương Phụ mang quân vào đánh Diễn châu. Quân Hậu Trần ít không chống nổi, rút vào Hoá châu.

Coi như đã dẹp xong Giao Chỉ, Phụ rút về Đông Quan (Hà Nội) rồi mang đại quân về nước.

Tháng 5 năm 1408, Giản Định Đế từ Hoá châu ra đánh chiếm lại Nghệ An, sau đó đánh chiếm Tân Bình do Phạm Thế Căng, viên tướng người Việt theo quân Minh. Quân Hậu Trần làm chủ từ Nghệ An tới Thuận Hoá.

Giản Định đế tiến quân ra bắc. Đặng Tất huy động quân 5 lộ từ Thanh Hoá đến Thuận Hoá, tiến ra Trường Yên (Nam Định), chia đường đánh đồn Bình Than, cửa Hàm Tử, chặn đường qua lại ở Tam Giang và đánh phá ngoại vi Đông Quan.

Minh Thành Tổ sai Mộc Thạnh, Lưu Tuấn mang 4 vạn quân sang tiếp viện. Thạnh họp với Lữ Nghị ở Đông Quan, tập trung ở bến Bô Cô (Nam Định). Ngày 30 tháng 12 năm 1408, quân Hậu Trần đánh bại quân Minh một trận oanh liệt, giết chết thượng thư bộ binh Lưu Tuấn, đô đốc Lữ Nghị, tham chính ty bố Giao Chỉ là Lưu Dục, đô chỉ huy sứ Liễu Tông và 10 vạn quân Minh. Mộc Thạnh dẫn tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng.

Giản Định đế muốn thừa cơ đánh ngay vào lấy Đông Quan, nhưng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đều có chủ trương đánh xong số quân địch còn sót lại rồi mới tiến. Vua tôi bàn mãi chưa quyết định được, viện binh quân Minh ở Đông Quan đã tiếp ứng cho Mộc Thạnh chạy về cố thủ Đông Quan. Đặng Tất chia quân vây các thành và gửi hịch đi các lộ kêu gọi hưởng ứng đánh quân Minh.

Do bất đồng về sách lược, vua Giản Định không bằng lòng với ông và Đặng Tất.

Tháng 3 năm 1409 vua Giản Định đóng ở Hoàng Giang, nội nhân là Nguyễn Quỹ cùng học sinh Nguyễn Mộng Trang mật tâu rằng:

Tham mưu Nguyễn Cảnh Chân và Quốc công Đặng Tất chuyên quyền bổ quan và cách chức, nếu không tính sớm đi sau này khó lòng kiềm chế.

Nghe theo lời gièm pha, vua Giản Định sợ uy tín của hai người quá cao, lại nghi ngờ hai tướng "có ý khác" vì hai người từng làm quan cho nhà Hồ nên sai triệu hai tướng đến rồi sai võ sĩ bóp cổ giết chết Đặng Tất. Nguyễn Cảnh Chân chạy lên bờ cũng bị đuổi theo chém chết.

Hai người con hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bất bình vì cha bị giết oan, bỏ đi lập Trần Quý Khoáng làm vua, tức là TrầnTrùng Quang Đế. Quân Hậu Trần mất đi hai tướng giỏi, thế lực dần dần suy yếu và cuối cùng bị quân Minh đánh bại hoàn toàn năm 1413.

Có ý kiến cho rằng con cháu của ông về sau có lắm người danh tiếng được các vua chúa thời Hậu Lê tin cẩn

< >Thái phó, Tấn quốc công Nguyễn Cảnh HoanThái bảo, Thư quận công Nguyễn Cảnh KiênThiếu phó, Thắng Quận công Nguyễn Cảnh Hàhttp://vi.wikipedia.org/).

4.13. Nguyễn Cảnh Dị (chữ Hán: 阮景異, ? – 1414) là một trong những danh tướng của nhà Hậu Trần chống giặc  Minh. Quê ông ở làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Ông là con trai của Đồng tri khu mật viện tham mưu quân sự Nguyễn Cảnh Chân. Sau khi Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất bị Giản Định Đế giết, ông cùng con Đặng Tất là Đặng Dung tôn Trần Quý Khoáng lên làm vua, chống quân Minh.

Mặc dù tương quan lực lượng giữa quân Hậu Trần và giặc Minh là rất chênh lệch, ông cùng Đặng Dung, Nguyễn Suý đã nhiều lần đánh bại quân Minh, nhiều phen khiến cho quân Minh phải lao đao.

Tại Hà Nội có phố mang tên Nguyễn Cảnh Dị tại khu đô thị Đại Kim quận Hoàng Mai. (http://vi.wikipedia.org/).Về sau, lực lượng nhà Hậu Trần không chống nổi quân Minh dưới quyền chỉ huy của Trương Phụ và Mộc Thạnh. Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị cùng vua Trùng Quang Đế, Đồng bình chương sự  Đặng Dung, Thái phó Nguyễn Suý đều bị bắt. Theo Đại Việt sử kí toàn thư khi bị giặc bắt ông đã mắng vào mặt Trương Phụ. Trương Phụ tức giận đã cho mổ bụng, moi gan ông để ăn.

4.14. Nguyễn Suý (阮帥, ?-1414) là tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Sử sách không chép rõ về quê quán của ông.

Sách “Danh tướng Việt Nam” của Phó giáo sư Nguyễn Khắc Thuần xác nhận rằng sử sách không nói về xuất thân của Nguyễn Suý và chỉ nhắc tới ông từ khi vua Trần Trùng Quang Đế lên ngôi. Khi đó ông đã được giữ chức vị cao là thái phó.

Sau biến cố trên sông Hoàng Giang tháng 3 năm 1409 - Giản Định Đế (vua Hưng Khánh) giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân - các con của hai ông là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bỏ đi, đón Trần Quý Khoáng (cháu nội Trần Nghệ Tông và gọi Giản Định Đế là chú) ra làm vua tại Chi La, Nghệ An, tức là Trùng Quang Đế.

Để tránh tình trạng phân tán lực lượng, Trùng Quang Đế sai Nguyễn Suý mang quân đánh úp bắt Giản Định Đế về. Giản Định Đế đang giữ thành Ngự Thiên (Thái Bình) chống quân Minh thì Nguyễn Suý đánh úp bắt mang về.

Ngày 4 tháng 7 âm lịch năm 1409, mẹ Giản Định Đế cùng các tướng Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh ngầm khởi binh ở sông Hát để đánh úp Trùng Quang Đế, giành lại quyền hành cho vua Giản Định nhưng bị Nguyễn Trạo tiết lộ. Trùng Quang Đế bèn bắt giết Tiệt và Đỉnh.

Ngày 20 tháng 4, Nguyễn Suý rước Trần Ngỗi (Giản Định Đế) về với Trùng Quang Đế, Trùng Quang Đế tôn lên ngôi thái thượng hoàng.

Quân Minh sau trận đại bại ở Bô Cô, Mộc Thạnh phải chạy về cố thủ ở thành Đông Quan. Tháng 7 năm 1409, thượng hoàng và vua Trùng Quang chia quân hai đường đánh quân Minh. Thượng hoàng Trần Ngỗi đóng ở Hạ Hồng (Ninh Giang), Trùng Quang đế đóng ở Bình Than. Quân Minh cố thủ không dám ra đánh.

Trương Phụ mang quân tới tiếp viện thế quân Minh lại lên. Trần Ngỗi bỏ thuyền lên bờ, chạy về trấn Thiên Quan. Trùng Quang Đế ngờ thượng hoàng có ý tách lực lượng riêng nên sai Nguyễn Suý đuổi theo nhưng không kịp. Trương Phụ mang quân đuổi theo bắt được Trần Ngỗi, sai giải về Kim Lăng (Trung Quốc) và sát hại.

Tháng 8, Trùng Quang Đế cầm cự với Trương Phụ ở Bình Than, lệnh cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử. Dò biết quân Hậu Trần thiếu lương thực nên Đặng Dung phải chia quân đi gặt lúa, Trương Phụ dùng thủy quân đánh cửa Hàm Tử, quân của Đặng Dung tan vỡ. Sau hai thất bại liên tiếp ở cửa sông Thần Đầu và châu Ngọc Ma, cuối năm 1410 quân Minh lại thắng quân Hậu Trần tại Đông Hồ. Quân nhà Trần thua phải chạy về Nghệ An.

Tháng 9 năm 1411, Nguyễn Suý cùng Trùng Quang Đế chia đường tiến đến cửa biển, bắt được tên chỉ huy Nguyễn Chính người địa phương ở Bài Lâm, chém bêu đầu rồi rút quân về.

Tháng 6 năm 1412, Nguyễn Súy cùng các tướng Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung đụng đầu quân Minh do Trương Phụ và Mộc Thạnh chỉ huy ở Mô Độ (Nghệ An). Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Nguyễn Súy và Cảnh Dị nản lòng vượt biển chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, liền đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi.

Tháng 4 năm 1413, Trương Phụ lại đánh vào Nghệ An. Trùng Quang Đế rút về Hóa Châu.

Tháng 9, Nguyễn Súy đánh nhau với Trương Phụ ở kênh Sái Già (sông Ái Tử). Quân hai bên đang cầm cự nhau, Đặng Dung mai phục binh tượng, nửa đêm đánh úp doanh trại Trương Phụ. Đặng Dung nhảy lên thuyền của Trương Phụ, định bắt sống Trương Phụ nhưng không nhận ra. Trương Phụ đi thuyền nhỏ trốn chạy. Quân Minh tan vỡ đến một nửa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, nhưng Nguyễn Súy không phối hợp cùng đánh. Trương Phụ thấy quân của Đặng Dung ít, quay lại đánh. Quân của Đặng Dung thua chạy.

Tháng 10, Trương Phụ cho đô đốc Hoàng Trung đi dò trước, chặn ở thượng lưu. Nguyễn Súy sai ba thích khách, đội cỏ xuôi dòng đến thuyền của Trương Phụ. Một người trèo lên mũi thuyền, hai người trèo lên đuôi thuyền. Trương Phụ biết, bắt được hai người, giết một người, thả một người, lại còn cho tiền bạc. Việc làm đó của Phụ khiến lung lạc ý chí chiến đấu của quân Hậu Trần.

Tháng 11, Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung bị Trương Phụ nhà Minh bắt sống. Cảnh Dị mắng Phụ nên bị giết. Từ khi thua trận đó, Trùng Quang Đế thế quá yếu không thể chống với quân Minh được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi Lão Qua còn Nguyễn Suý chạy sang Minh Linh. Chẳng bao lâu, tháng 12 năm 1413, Nguyễn Suý cùng vua Trần và các tướng đều bị bắt. Nhà Hậu Trần mất.

Tháng 4 năm 1414, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Trần Hiệp đem Trùng Quang Đế, Nguyễn Súy và Đặng Dung về Đông Quan rồi sai người giải về Yên Kinh. Đi đến giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng tự sát.

Riêng Nguyễn Suý không muốn hàng giặc nhưng cũng không tự sát ngay. Ông tìm cách làm thân với viên quan áp giải mình, được cùng người đó đánh cờ. Nhân thời cơ thuận lợi, Nguyễn Suý cầm bàn cờ đập chết viên áp giải rồi mới nhảy xuống sông tự vẫn.

Trong sách Đại Việt Sử ký Toàn thưNgô Sĩ Liên viết về các tướng Hậu Trần, trong đó có Nguyễn Súy như sau:

Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ... Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy?

[Các tướng Hậu Trần] vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!

Ngày xưa nước Lỗ đánh nhau với nước Tề ở đất Can Thì bị thất bại, thánh nhân không vì thua mà kiêng né, lại chép rõ để nêu niềm vinh quang chiến đấu với kẻ thù, chứ không bàn đến việc thành bại. Thế thì trận đánh ở Sái Già, quân Minh bị tan vỡ một nửa, quân ta đến khi sức kiệt mới chịu thua cũng vinh quang lắm thay!

Tại thành phố Hồ Chí Minh có phố mang tên ông ở quận Tân Phú. (http://vi.wikipedia.org/).

4.15. Nguyễn Biểu (chữ Hán: 阮表, ?- 1413) là tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam, quê ở quê làng Bình Hồ, huyện La Sơntrấn Nghệ An (nay thuộc xã Yên Hồ, Đức ThọHà Tĩnh).

Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự Sử). Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến.

Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An,vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu. Từ Nghệ An rút vào đây, vua Trần hy vọng có thể nhóm lại lực lượng, rồi từ căn cứ cực nam của đất nước, tung quân đi dẹp bọn xâm lượt nhà Minh, rửa hận cho thần dân, dựng lại cơ nghiệp nhà Trần.

Chiếm giữ được Nghệ An, quân số trong tay còn độ bằng, bốn phần mười, lực lượng khó khăn, cho nên trước sức tấn công ồ ạt của quân xâm lược do Trương Phụ và Mộc Thạch chỉ huy, nhà vua đã cùng bầy tôi chạy vào vùng đất Hóa Châu xa xôi này. Lao đao lận đận nhiều phen vì sự nghiệp chống giặc, trong lúc tình thế lại ngày càng bất lợi, vua sai ông đi sứ giảng hoà.

Sau mấy ngày dừng lại ở quê nhà để bái yết tổ tiên, Nguyễn Biểu dẫn đoàn tùy tòng rời làng Bình Hồ từ sáng sớm. Lúc chia tay nhà vua, Vua Trần Trùng Quang làm bài thơ: Tiễn Nguyễn Biểu đi sứ

Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa

Trịnh trọng rầy nhân dựng khúc ca

Chiếu phượng mười hàng tơ cãn kẽ

Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha

Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ

Khương quế thêm cay tính tuổi già

Việc nước một mai công ngõ vẹn

Gác lân danh tiếng dọi lầu xa

Bài họa Của Nguyễn Biểu:

Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa

Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca

Đường mây vó ký lần lần trải

Ải tuyết cờ mao thức thức pha

Há một cung tên lồng chí trẻ

Bội mười vàng sắt đúc gan già

Hổ mình vả thiếu tài chuyên đối

Dịch lội ba ngàn dám ngại xa

Lúc này, mỗi bước một xa quê hương, Nguyễn Biểu cảm thấy lòng nặng trĩu. Trên đất Chi La này, năm năm về trước, Nguyễn Biểu đã cùng các chiến hữu tôn nhà vua lên ngôi và tự nguyện đứng dưới cờ dấy nghiệp cứu nước. Cũng trên dải đất này, hôm nay cảnh vật đã trở nên điêu tàn, xơ xác dưới lưỡi gươm của giặc. Vì quê hương đất nước, Nguyễn Biểu xin hiến dâng cả cuộc đời. Và giờ đây Nguyễn Biểu đang ung dung đi vào thành giặc mà không phải không biết rằng mình đang nhận một trọng trách. Mải suy nghĩ, Nguyễn Biểu không để ý đến điếm canh của giặc trên bờ sông Lam đã hiện ra trước mắt. Trương Phụ cho mời ông vào yết kiến. Tại đây ông đã gặp tên ngụy quan Chẳng phải là ai xa lạ, chính là Phan Liêu, con Phan Quý Hựu. Thái Bảo của nhà Trần đã đầu hàng giặc. Nay Quý Hựu chết, Phan Liêu được Trương Phụ cho thay cha giữ chức tri phủ Nghệ An đang chắp tay đứng hầu phía bên tả. Nguyễn Biểu cho hai người tùy tòng đem hòm lễ vật và tờ biểu cầu phong cuốn trong hộp sơn son thiếp vàng ra mắt Trương Phụ. Nghe lời nói của Nguyễn Biểu, Trương Phụ gật gù. Trước thái độ đường hoàng chững chạc và lý lẽ đanh thép của một người có chính nghĩa, tên tướng giặc tự thấy yếu thế. Ra lệnh cho Phan Liêu tiếp sứ giả, Trương Phụ lùi vào tư thất với những ý đồ đen tối.

Cho đến đúng ngọ, tổng binh Trương Phụ thiết tiệc sứ giả của nhà Trần. Trong căn phòng trang trí lộng lẫy, một mâm cỗ đặt trên chiếc sập gụ màu nâu sẫm. Chiếc lồng bàn đan bằng sợi ngà trắng toát chụp trên mâm đồng trạm trổ tinh vi càng làm cho mâm tiệc thêm vẻ thanh lịch. Cạnh mâm, một nậm rượu và cái chén đặt ngay ngắn trên khay khảm xà cừ. Đây là bữa tiệc của Trương Phụ dành cho vị khách quý. Khi người lính hầu nhấc chiếc lồng bàn ra thì cũng là lúc Nguyễn Biểu sững sốt: Mâm cỗ quái đản và ghê tởm: Một cái đầu người! Cái đầu của một người bất hạnh nào đó đã được luộc chín, hai hàm răng nhe ra như trút oán hờn vào kẻ thù. Nguyễn Biểu không ngờ Trương Phụ dã tâm đến mức gây ra trò hung bạo nhường ấy. Đây là cái đầu của ai vậy? Và tại sao Trương Phụ lại giở trò này? để ứng phó với hành động man rợ quỷ quyệt của tướng giặc, Nguyễn Biểu không có thì giờ suy nghĩ nhiều. Những chuyện đối đáp thử thách với sứ giả xưa nay có nhiều, Nguyễn Biểu đã từng nghe nói hoặc đọc trong sách vở. Nhưng đến mức này thì Nguyễn Biểu chưa hề thấy. Chắc chắn rằng đây là đầu một người dân lành đã bị Trương Phụ bắt và hành tội. Không ăn thì tên tướng giặc cho là sứ giả hèn nhát, còn ăn thì ghê tởm mà lại ăn thịt đồng bào của mình! Không chút do dự, Nguyễn Biểu ngồi xuống sập, ung dung rót rượu. Sau một tợp rượu khai vị, Nguyễn Biểu cầm đũa ngà moi đôi mắt chấm vào dấm muối nuốt một cách ngon lành. Sau khi cạn chén rượu, Nguyễn Biểu cười kiêu hãnh nói một mình như nhắn bảo cho Trương Phụ biết:

- Không mấy khi người Nam được ăn đầu người Bắc.

Khi rượu đã cạn, Nguyễn Biểu rung đùi ngâm bài thơ tức sự:

Ngọc thiệt, trân tu đã đủ mùi

Gia hào thêm có cỗ đầu người.

Nem chuông, chả phượng còn thua béo.

Thịt gụ, gan lân cũng kém tươi.

Cá lối lộc minh so cũng một

Vật bày thỏ thủ bội hơn mười

Kìa kìa ngon ngọt tày vai lợn.

Tráng sĩ như Phàn tiếng để đời.

Khi nghe quân hầu thuật lại về Nguyễn Biểu với mâm cỗ đầu người, Trương Phụ tròn xoe mắt kinh ngạc. Trong cái nghề làm tướng cầm quân đánh đông dẹp bắc của Trương Phụ, chưa bao giờ hắn gặp một người như Nguyễn Biểu. Tự cho mình là anh hùng hảo hán, tỏ ra mình cũng biết trọng những kẻ có tài năng, khí phách, Trương Phụ lấy lễ tiếp đãi Nguyễn Biểu rồi tiễn chân sứ giả ra về. Ngồi ngả người trên kỷ, tên tướng giặc lấy làm khoái chí vì hành động "Nghĩa khí" của hắn. Rồi đây hắn sẽ làm cỏ Hóa Châu, cả triều đình nhà Trần sẽ không thoát khỏi tay hắn. Ấy thế mà hôm nay Trương Phụ lại tha sứ giả của Trần Trùng Quang. Thấy Trương Phụ tha Nguyễn Biểu, Phan Liêu tỏ nỗi lo lắng của mình:

- Nhưng thưa Tổng binh, ngài muốn lấy nước Nam mà tha người ấy về thì làm sao mà xong việc được.

Cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của Trương Phụ sớm bung ra. Con quỷ dữ hiện nguyên hình. Trương Phụ hạ lệnh cho quân lính đuổi theo đoàn sứ giả. Chiếc cầu gỗ rung rinh. Đoàn sứ giả chưa qua khỏi cầu thì đã nghe tiếng vó ngựa rầm rập từ phía sau. Một toán kỵ binh giặc ập đến. Theo lệnh của Trương Phụ chúng đòi Nguyễn Biểu quay lại. Đến nông nỗi này, Nguyễn Biểu biết khó thoát khỏi tay giặc. Nguyễn Biểu xuống ngựa quay về hướng đông nam, nhìn về Hóa Châu sụp lạy rồi sai người lấy bút mực. Cái nóng hừng hực của nắng chiều đã làm cho hàng chữ đen nhánh vừa viết: "Thất nguyệt, sợ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử" khô đi rất nhanh trên cột cầu bằng gỗ màu bạc thếch. Ngắm lại dòng chữ vừa viết lần cuối cùng, Nguyễn Biểu ung dung lên ngựa. Trước khi thúc ngựa, vị sứ giả của triều Trần dặn đoàn tùy tòng:

- Các ngươi trở về Hóa Châu tâu với nhà vua hãy lo luyện quân để cự giặc.

Không nói với lũ giặc một nữa lời, Nguyễn Biểu giục ngựa vượt lên hàng đầu, trở lại thành giặc. Vừa nghe tin quân lính đã điệu Nguyễn Biểu về, Trương Phụ đem theo một bầy dũng sĩ mang gươm hộ vệ, bước ra thềm dinh đứng đợi sẵn. Tên tướng giặc định ngay từ đầu đã dùng quyền uy bắt Nguyễn Biểu phải khuất phục. Nguyễn Biểu hất tay, bước vội tới, chỉ vào mặt Trương Phụ quát mắng:

- Trong bụng toan tính việc đánh chiếm nước người ta, ngoài mặt lại phô trương là quân nhân nghĩa, trước nói lập con cháu họ Trần, bây giờ lại đặt quận huyện, không những cướp bóc của cải lại còn giết hại nhân dân, bọn mày thật là lũ giặc bạo ngược.

Bất lực trong việc khuất phục Nguyễn Biểu bằng lời nói và thái độ cư xử, Trương Phụ dùng đến sức mạnh của tên tướng giặc bạo tàn. Hắn ra lệnh chém đầu sứ giả. Trên con đường đi tới chân núi Thành Sơn để chịu chết, Nguyễn Biểu vẫn ung dung bình thản. Ông bình thản vì sự nghiệp giữ nước, vì thà chết chứ không bao giờ chịu quỳ gối trước giặc ngoại xâm. Trong khi Nguyễn Biểu cất cao đầu đi đến nơi hành hình thì Trương Phụ quay vào dinh Tổng binh, hắn cúi đầu sợ hãi. Nguyễn Biểu đã bị điệu ra ngoài thành, những tiếng quát tháo chửi mắng của con người ấy đối với tên tướng giặc như còn vọng lại. Trương Phụ thầm nghĩ: Cả dân nước Nam này ai cũng như Nguyễn Biểu thì làm sao có thể dẹp nổi?

Chỉ sau đó năm năm thôi, vào năm Mậu Tuất (1418) cả nước Nam này đã vùng dậy chiến đấu trong mười năm trời, đánh tan đội quân xâm lược của nhà Minh, lật đổ toàn bộ ách thống trị của chúng mà chính bản thân Trương Phụ đã góp phần đặt lên đầu cả dân tộc nhỏ bé ở Phương nam này. Lúc bấy giờ Nguyễn Biểu không còn nữa, nhưng khí phách anh hùng và tinh thần xả thân vì nước của ông được cả dân tộc kế tục để làm tròn sự nghiệp giữ nước mà Nguyễn Biểu còn bỏ dở.

Vua Lê Thái Tổ sau khi chiến thắng quân Minh đã cho lập đền thờ ông ở Nội Diên, phong là Nghĩa Liệt Hiển ứng Uy Linh Trợ Thuận đại vương, tức Nghĩa sỹ Đại Vương. Đến đời vua Lê Thánh Tông sai lập miếu thờ Nghĩa sĩ ở Bình Hồ. Đến cuối thế kỷ 18 đền bị cháy, sau cơn binh lửa vua Gia Long lại có sắc phong, năm Kỷ Tị (1869) nhân dân trùng tu lại đền. Hiện nay đền vẫn giữ được nhà bái đường, Thượng điện, cột nanh, tắc môn, hai tấm bia đá. Nhiều đồ thờ, tượng chạm khắc, câu đối, hoành phi và 5 đạo sắc phong vẫn còn nguyên vẹn.

Từ năm 1941, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã công bố trong Khai trí tiến đức, tập san số 2 và 3, mấy bài thơ Nôm đời Hậu-Trần được gom trong Nghĩa sĩ truyện: một bài của vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc "đầu người" của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra.

Cùng với núi Thành Sơn, với dòng sông Lam, Nguyễn Biểu còn mãi mãi được các thế hệ mai sau ngợi ca cùng câu đối ghi ở đền Nghĩa Liệt:

"Tồn Trần kính tiết Thành sơn thạch. Mạ tặc dư thanh Lam thủy ba".

Tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đều có phố mang tên ông. (http://vi.wikipedia.org/).(Tiết cứng phò Trần đá Nghĩa Liệt .Tiếng vang mắng giặc sóng Lam Giang).

 

Trích nguồn: Lịch sử họ Nguyễn Việt Nam NXB Hồng Đức xuất bản 2018

Thư viện ảnh