Video
Công đức
Giới Thiệu Chung
#591

PHẦN I: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM THỜI TIỀN SỬ- NHỮNG TRUYỀN THUYẾT, TƯ LIỆU VÀ DI ẤN LỊCH SỬ -  CHƯƠNG I: KINH DƯƠNG VƯƠNG THUỶ TỔ CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM THỜI KỲ TIỀN SỬ

Ngày đăng: 03/06/2019
Tóm tắt:

PHẦN I: HỌ NGUYỄN VIỆT NAM THỜI TIỀN SỬ- NHỮNG TRUYỀN THUYẾT, TƯ LIỆU VÀ DI ẤN LỊCH SỬ -  CHƯƠNG I: KINH DƯƠNG VƯƠNG THUỶ TỔ CỦA NGƯỜI VIỆT VÀ HỌ NGUYỄN VIỆT NAM THỜI KỲ TIỀN SỬ

Nội dung:

Người Việt Nam luôn tự hào với quá khứ hào hùng của mình, tôn vinh những bậc vĩ nhân đã tô điểm rạng rỡ quá khứ hào hùng đó. Quá khứ đó có tác động mạnh mẽ vào hiện tại và tương lai

Ở lăng Kinh Dương Vương thôn Á Lữ,  xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành có câu đối:

Câu đối:  “Vạn cổ giang sơn ân hồn tổ

                    Nhất khâu phong vũ ngật hồng bi”

   Nghĩa là: “ Từ vạn đời cả nước Nam  chịu ơn sâu ngọn nguồn tiên tổ

     Một nấm mồ nhỏ, trải bao mưa gió vẫn sừng sững một tấm bia hồng”

Trong quá trình đi tìm về cội nguồn, Hội người họ Nguyễn Việt Nam đã có nhiều tư liệu minh chứng Kinh Dương Vương – Thuỷ tổ của người Việt đồng thời là Thủy tổ của họ Nguyễn Việt Nam thời kỳ tiền sử đang hiện hữu di ấn ở vùng đất địa linh nhân kiệt xứ Kinh Bắc – tỉnh Bắc Ninh ngày nay - nơi có nhiều di ấn văn hoá, lịch sử với Luy Lâu; đền thờ, lăng mộ Kinh Dương Vương ở thôn Á Lữ,  xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành; chùa Phật Tích xã Phật Tích, huyện Tiên Du; chùa Keo xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành; đền Đô nơi thờ tám vị vua nhà Lý ở làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn… Đây là nơi cội nguồn của bao dòng họ nổi tiếng trong đó có họ Nguyễn Việt Nam.

1. Truyền thuyết về Kinh Dương Vương – Thủy tổ của người Việt và họ Nguyễn Việt Nam

1.1. Truyền thuyết: Mỗi dân tộc đều có những truyền thuyết lịch sử được thần thoại hoá thể hiện lòng tự hào của dân tộc mình, ngay cả những dân tộc mà ngày nay được xem là văn minh cũng đều có một con vật biểu trưng cho dân tộc như gà trống Gaulois của nước Pháp, Sư tử của nước Anh, đại bàng của Hoa Kỳ…và Việt Nam là huyền thoại “Rồng Tiên”.

Việt Nam, một dân tộc mà truyền thuyết và hiện thực đan quyện hoà lẫn với nhau đến độ khó có thể phân biệt đâu là truyền thuyết, đâu là hiện thực. Truyền thuyết Vịêt Nam nói đúng hơn đó là truyền kỳ lịch sử được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất lại đề cao con người với ý nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng một triết lý văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy tình đồng bào, nghĩa ruột thịt qua hình tượng “Bọc trăm trứng nở trăm con” của Âu Cơ. Từ ý niệm “đồng bào” dẫn đến tinh thần đoàn kết, yêu nước, thương nòi, yêu quê cha, đất tổ, tất cả đã trở thành giá trị đạo lý truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam. Chẳng vì thế mà mỗi khi đất nước có hoạ xâm lăng thì tất cả các dân tộc Việt (không phân biệt già trẻ trai gái, không phân biệt Kinh, Mường, Thái, Giao…) đều cầm vũ khí đứng lên đánh đuổi quân xâm lược.

Đất nước, con người Việt Nam chắc chắn là có từ khi con người Việt chưa có chữ viết, không lẽ thời kỳ này Việt Nam không có sử? Không có chữ viết, người Việt đã truyền cho nhau và cho đời sau bằng các sự kiện thông qua truyền thuyết cho dễ nhớ “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Không lẽ những truyền thuyết này không có giá trị về lịch sử?

Ngay cả khi có chữ viết rồi, bộ sử đầu tiên được viết là bộ “Việt Trí” của Trần Phổ và bộ “Đại Việt Sử ký” do Lê Văn Hưu biên soạn thời Trần Nhân Tông năm 1272. Cả hai bộ này đều bị giặc ngoại xâm - Nhà Minh tịch thu và tiêu huỷ nên không còn nữa. 

Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lý Xuyên đời Trần đã chép lại truyền thuyết dân gian vào bộ sách: “Lĩnh Nam Trích Quái” và “Việt Điện U Linh” để truyền lưu cho đời sau. Trần Thế Pháp tác giả “Lĩnh Nam Trích Quái” đã viết: “Khi chưa có quốc sử để ghi chép cho nên nhiều truyện bị mất đi, may còn truyện nào không bị thất lạc được dân gian truyền miệng thì đó là sử trong truyện chăng?. Biết bao truyện không khắc vào đá, viết vào tre mà chỉ truyền tụng ở ngoài bia miệng!? Từ đứa trẻ đầu xanh đến cụ già tóc bạc đều truyền tụng và lấy đó làm răn, rất quan hệ đến cương thường, phong hoá. Há đâu phải là điều lợi nhỏ???”.

Trong quá trình biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, bộ quốc sử nổi danh ra đời vào năm 1697, sử gia Ngô Sĩ Liên đã nối dài dòng chảy lịch sử đất nước khi đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư thời Hồng Bàng và đưa chặng huyền sử này trở thành điểm khởi nguyên tiến trình phát triển của dân tộc.

Để thực hiện được công việc này, Ngô Sĩ Liên đã sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu rút ra từ dã sử, những lời truyền tụng và chắc chắn không thể thiếu những truyện tập hợp từ truyền thuyết và cổ tích để tạo lập nên một bộ biên niên sử.

 Dưới triều Nguyễn, khi Quốc sử quán cho ra đời Khâm định Việt sử thông giám cương mục công trình kế thừa đồ sộ của Đại Việt sử ký toàn thư, những huyền sử này vẫn tiếp tục xuất hiện và giữ vị trí chủ chốt trong việc xác định nguồn gốc khởi nguyên của dân tộc và đất nước. (https://news.zing.vn/)

Truyền thuyết thoạt nghe có vẻ hoang đường huyền hoặc nhưng vấn đề nếu chúng ta đặt mình vào thủa ban sơ cách đây mấy ngàn năm mới thấy Tổ tiên ta sống ra sao và suy nghĩ như thế nào ở thời cổ đại? Từ đó mới có thể hiểu được những gì mà Tổ tiên ta đã gửi gắm cho chúng ta qua bức thông điệp lịch sử đó. Huyền thoại mẹ Âu Cơ “đẻ trăm trứng, nở trăm con” phải chăng người Việt cổ đã chọn vật linh biểu trưng của mình là chim hạc đã được khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ bay về hướng Đông xuống miền biển, hình tượng bay lên trời cũng giống như hình tượng Tiên của mẹ Âu Cơ.

Ngày nay không ai phủ nhận được giá trị của huyền thoại và truyền thuyết được coi như lịch sử dân gian mà đôi khi nó có giá trị trung thực hơn cái gọi là chính sử của các chế độ độc tài xưa và nay. Beaudelaire một thi sĩ nổi tiếng đã nhìn nhận sức mạnh của truyền thuyết huyền thoại vì đó là “Sử cô đọng của các dân tộc”. Đại văn hào Pháp Victor Hugo Hugo (1802-1885), một trí thức dấn thân tiêu biểu của thế kỷ 19, đã nhận định: “Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ phản ánh tương lai và lịch sử cũng là sự phản ánh của tương lai ném vào quá khứ”. Trong tác phẩm “Truyền Kỳ các thời đại”, Victor Hugo đã tìm về nguồn cội, khai thác các truyền thuyết thần thoại xa xưa vì đó là “Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết. Truyền kỳ có phần nào hư cấu nhưng tuyệt đối không có ngụy tạo”.

Thật vậy, truyền thuyết tự thân nó không phải là lịch sử biên niên nhưng truyền thuyết là có thật, nó phản ảnh những ý nghĩa có thật của một thời lịch sử ban sơ mà người xưa ký thác vào đó với những hư cấu huyền hoặc để truyền lưu gửi gấm cho những thế hệ sau. Laurens va de Post đã xem huyền thoại là di sản thiêng liêng nhất vì nó diễn tả tinh thần dân tộc ở mức độ cao nhất. Micia Eliado cũng cho rằng “Huyền thoại là gia sản quý báu nhất vì tính chất thiêng liêng điển hình và mang lại ý nghĩa sống cho cả một dân tộc”.

Triết gia thời đại Jung đã viết: “Truyền thuyết huyền thoại hàm chứa những ý nghĩa lịch sử trung thực nhất, vì nhân vật thần thoại là sản phẩm đúc kết biết bao suy tư của một thời đại tạo dựng tỏa sáng nhưng nó phải chờ thế hệ sau diễn đạt bằng ngôn từ minh nhiên lý giải. Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc”. Chính vì vậy, Wallace Cliff khẩn thiết kêu gọi: “Nếu dân tộc nào để mất đi huyền thoại là đánh mất mạch nối vào nguồn cội quá khứ của tổ tiên và cũng sẽ mất luôn căn bản cho việc xây dựng tiền đồ của dân tộc đó”. Karl Jung nhận định“Huyền thoại là đạo sống của một dân tộc. Nếu Dân tộc nào quên đi huyền thoại thì dân tộc đó dù là những dân tộc văn minh nhất, sớm muộn cũng sẽ tiêu vong”. (https://www.vntv.online/?p=2911)

Một triết gia đã nói: “Tất cả nền minh triết cũng như trí khôn loài người đều ẩn tàng trong các huyền thoại, truyền kỳ lịch sử dân gian”. ”(http://www.vietnamvanhien.net)

Truyền thuyết dân gian đã trở thành văn hoá dân gian của người Việt, là nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Việt, nó trường tồn mãi mãi với thời gian, không bị khuất phục trước cường quyền, áp bức và sự thôn tính. Chính vì vậy mà trải qua hàng ngàn năm đô hộ, thống trị của người phương Bắc (thời kỳ Bắc thuộc), người phương Bắc không những muốn thôn tính đất nước Việt về mặt địa lý mà còn muốn thay đổi cả về con người (giết hết đàn ông để đồng hoá người Việt thành người Tầu…), thu hồi sách vở, triệt phá đền đài, xoá đi những dấu ấn mà người Việt đã dựng nên, nhằm triệt tiêu nền văn hoá, ý chí của người Việt. Chúng đưa văn hoá của người phương Bắc vào bắt người Việt phải theo…Với trăm mưu, ngàn kế nhưng cuối cùng cũng không thể thôn tính được nền văn hoá của người Việt. Một nền văn hoá đã được ông cha ta dựng nên và truyền tụng cho nhau từ thế hệ này nối tiếp thế hệ sau chỉ bằng những lời kể chuyện, những câu vè, ngụ ngôn... Đó chính là nền văn hoá dân gian của người Việt. Cũng chính từ đó mà lớp lớp từ thế hệ này đến thế hệ khác đã quật cường đứng lên, đã đem tất cả tinh thần, của cải, sức lực, trí tuệ và tính mạng của mình để bảo vệ lấy non sông đất nước Việt Nam này, bảo vệ nền văn hoá đó, làm cho nó trường tồn mãi mãi với thời gian. Phải chăng giá trị truyền thuyết đó không phải là lịch sử? Vậy chúng ta hy vọng rằng những quan điểm cho rằng chỉ có chính sử với những gì đã được viết thành sách mới là sử nên được cân nhắc thay đổi!

Thể chế, chế độ dù có thay đổi nhưng văn hoá của người Việt không bao giờ đổi thay, nó là nét đặc trưng cho người Việt dù ở trên đất Việt Nam hay ra định cư ở nước ngoài.

GS sử học Phan Huy Lê cho rằng, lịch sử bất cứ nước nào cũng bắt đầu từ kho tàng huyền thoại và truyền thuyết (http://giadinh.net.vn/ Ngày 14 Tháng 2, 2010). Kinh Dương Vương hay Lạc Long Quân, Âu Cơ đều là nhân vật huyền thoại. Việc ghi nhớ đến những nhân vật này là sự tưởng niệm đến nguồn gốc xa xưa của tổ tiên, của cội nguồn dân tộc. Việc tìm thấy những khu lăng mộ cũng đều là chứng tích của những huyền thoại được các thế hệ về sau lịch sử hoá.

Một số huyền thoại thường được lịch sử hoá là chuyện bình thường, nằm trong quy luật lưu truyền và phát triển của loại hình văn hóa dân gian. Sử học mới chỉ chứng minh được thời kỳ Hùng Vương là có thật theo ý nghĩa là thời kỳ hình thành nhà nước đầu tiên trong lịch sử, dù còn sơ khai, phôi thai. Trong lịch sử của bất cứ một quốc gia - dân tộc nào trên thế giới thời cổ đại, đều có hai mốc lịch sử quan trọng. Thứ nhất là sự xuất hiện của con người trên lãnh thổ nước đó, mốc mở đầu lịch sử gắn liền với cuộc sống của con người. Thứ hai là sự hình thành nhà nước đầu tiên khi cư dân nước đó bắt đầu tập hợp lại thành cộng đồng quốc gia, mở đầu lịch sử dựng nước và giữ nước. “Thời Hùng Vương là mốc thứ hai và do đó, không nên hiểu Giỗ tổ Hùng Vương là giỗ của vị tổ đầu tiên của người Việt, của dân tộc Việt Nam”, GS Phan Huy Lê (http://giadinh.net.vn Ngày 14 Tháng 2, 2010)

Truyền thuyết về Kinh Dương Vương: Theo Bách khoa toàn thư mở (http://vi.wikipedia.org/): Kinh Dương Vương, là nhân vật truyền thuyết Việt Nam, tương truyền ông là thủy tổ dân tộc Việt. Dã sử chép Kinh Dương Vương húy là Lộc Tục, là người hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất (~2879 Tr.CN), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân.

Sự nghiệp của ông được tiếp nối bởi Lạc Long Quân và các vua Hùng. Niên đại của Kinh Dương Vương là trước thế kỷ VII TCN là thời kỳ Hồng Bàng (Hán tự: 鴻龐) là giai đoạn lịch sử thời đại thượng cổ (tiền sử) của lịch sử Việt Nam.

Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (Hồ NamTrung Quốc) đóng lại đó rồi lấy con gái bà Vụ Tiên (鶩僊), sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên Lộc Tục (祿續).

Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王).

Ông lấy con gái vua hồ Động Đình tên là Thần Long, sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Lãnh thổ của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ XuyênTrung Hoa ngày nay). Về sau người Việt chỉ thấy có ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, có thể một phần do sự lấn áp của các tộc người Hoa Hạ từ phương Bắc.

Cũng theo http://vi.wikipedia.org Xích Quỷ (chữ Hán: 赤鬼) là một quốc gia cổ đại của cư dân Bách Việt, được xem là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam vào đầu thời Hồng Bàng và  Kinh Dương Vương được coi là người khai sinh ra nước Việt Nam. Vua đặt tên nước là Xích Quỷ, bao gồm một vùng rộng lớn phía nam của Trung Quốc hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền bắc Việt Nam. Nền tảng vật chất của nước Xích Quỷ là nền văn hóa đồng thau với  di vật tiêu biểu là trống đồng cỡ lớn có vai trò đặc biệt trong tín ngưỡng của người Xích Quỷ.

* Theo “Cổ Lôi Ngọc phả truyền thư” được ghi chép từ thời Tự Đức năm thứ nhất “Tự Đức nguyên niên chính nguyệt thập ngũ nhật” được lưu giữ tại từ đường họ Nguyễn (Nguyễn tộc) thôn Vân Nội, xã Phú Lương, huyện Thanh Oai, TP.Hà Nội do Hà Khắc Khoan phiên âm và dịch ngày 10 tháng 02 năm 2012 có ghi:

“Từ khi khai thiên lập địa, tiền tổ của chúng ta sinh cơ lập nghiệp ở Tây Vực, trước sau bảy ngàn năm. Núi có hang làm nhà, đất đai bằng phẳng rộng rãi... Muôn đời tôn xưng Phục Hy đại đế làm tù trưởng. Tên nước là Cực Lạc, đóng đô ở đó... Cuối đời Phục Hy gặp nạn hồng thuỷ Nguyên trưởng còn trẻ, trong nhà có quản gia nô là Hiền Viên dùng binh làm phản. Con vua Viêm Đế phải chạy tị nạn ở Thổ Long đến khi trưởng thành ông cùng với các chúa núi huy động binh đuổi tên gia nô ra khỏi biên giới. Ông kế thừa nghiệp tổ làm Chính Nhân Minh Sứ. Nhân dân kính yêu. Từ dưới núi Tây Phương đến Phương Lãnh, Trầm Đỉnh, Linh Sơn, Tiên Lữ cùng đất Phong Châu thành một dải đất yên bình. Ông dùng cây cỏ làm thuốc trị bệnh… Được bốn trăm năm đều tôn xưng làm Thần Nông. Đến Sở Minh Công nối nghiệp sinh ba người con trai là: Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh. Chia đất nước làm ba nước có ba vua trong đó có nước Xích Quỷ kinh đô ở Phong Châu do Nguyên trưởng Kinh Dương Vương làm chủ. Khởi đầu Nam Việt có vua là Kinh Dương Vương. (tr 11-tr 15).

Trang 13 có ghi: “Đế Thừa Sở Minh Công có hai bà. Bà cả sinh Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân. Bà hai sinh Nguyễn Long Cảnh hiệu Ông Ba Đại Vương. Đời sau tôn là “Tam Toà Đức Chúa Ông”. Nguyễn Minh Khiết cùng ông Ba thống trị 15 bộ… Nguyễn Minh Khiết lấy bà Vu Nữ Tiên Nương. Nàng sinh trưởng nam là Lộc Tục, hiệu là kinh Dương Vương đóng đô ở Việt Trì, sông Bạch Hạc lập Quốc hiệu là Xích Quỷ, đô hiệu là thành Phong Châu”.

Trang 27 có ghi: “Kinh Dương Vương lấy con gái vua Động Đình ở Nghĩa Lĩnh, bà sinh Lạc Long Quân cùng bốn vị hoàng tử, tất thảy 5 vị Hoàng tử nên còn có tên gọi là 5 vị Tôn Ông”.

“Thời Nguyên Thuỷ, trong nước có giặc ở núi Tử Di. Các vị Vương tử đều bất tài sợ chết. Vua cha gọi ông Lộc Tục giao việc dẫn quân dẹp giặc. Ông ba Công Long Cảnh biết rõ ông Lộc Tục còn trẻ chưa giỏi binh pháp nên xin với vua cùng ông Lộc Tục dẫn quân dẹp giặc. Vua chuẩn y lời thỉnh cầu. Ông Lộc cùng với chú là Long Cảnh còn có tên là Lý Lang cất binh đường đường tiến. Khi đến hồ Động Đình nghỉ chân. Ông Lộc cùng các tướng đến phủ Động Đình thăm sức khoẻ vua Động Đình. Trong phủ có cô nàng áo xanh mặt hoa da ngọc thật là thần tiên có một. Ông Lộc dụng ý đề cử ông chú uống trà cùng vua. Ông vào xin phép hai vị một mình ra ngoài xem cảnh vật Động Đình. Vua sai con gái dẫn đường. Hai người cùng đi. Ông Lộc thấy con gái vua Động Đình chính là cô nàng áo xanh. Ông ngỏ ý cầu hôn. Cô gái áo xanh nói: “Hoàng tử đang gánh trọng trách quân mệnh như sơn, việc hôn thú xin đợi khi ca khúc khải hoàn”. Ông lại hỏi họ tên nàng là gì. Cô gái đáp: “Thiếp họ Nguyễn tên Đăng Ngạn, chi thứ họ Hồng Bàng”. Hai người đều tâm đầu ý hợp. Hôm sau hành quân thẳng tới Tử Di Sơn. Ma Mạc không thể cự địch, Lý Lang Công bắt Ma Mạc chờ ngày hạ thủ. Ông Lộc biết, đến đại bản doanh xin Ba Công tha tội cho Ma Mạc. Kẻ có tội Ma Mạc cảm đại ân đức của ông bèn xin vào làm bầy tôi, ông thuận cho. Ma Mạc nói: “Ở trên núi Tử Di có người Vương Đạo tính đến nay đã hơn năm trăm tuổi biết được vận trước sau. Ngày gần đây Vương Đạo nói với ngu thần: “Nay gặp được minh chủ hẳn được trọng dụng”. Qua nhiên là vậy. Ông nghe lời lập tức lên núi. Đi đến giữa đường thì Vương đạo đã xuống núi nghênh tiếp. Cất tiếng kính chào ông Bang Chủ. Ông nói: “Ta là tiểu trưởng vâng mệnh Vua cha bảo vệ dân thường ở khu này đâu dám tự phong là chủ trưởng”. Người Vương Đạo nói: “Ngày nay ta bái trước, hai mươi năm sau ta lại bái. Lòng trời đã định, thần thánh và người đều theo đấy”. Dẹp xong giặc ở phía Bắc, ông quay về đến hồ Động Đình, vua Động Đình thuận gả con gái Đăng Ngạn cho ông. Ông Lộc làm biểu về tâu vua việc chiến thắng và báo hỷ cầu hôn. Vua cha nhận được tin mừmg thân hành đến hồ Động Đình mở tiệc lớn mừng phong ông Lộc Tục hiệu Kinh Dương Vương thống trị Kinh chân dương Việt. Hai mươi năm sau Thái Khương Công mất, mười lăm bộ cùng các chúa núi, bảy mươi hai động chủ tôn Kinh Dương Vương làm Nam Phương Thánh Chủ kế vị lập nước Xích Quỷ đóng đô ở Phong Châu. (tr 31- tr 36). Đến triều đại Hùng Vương tôn hiệu vua Kinh Dương Vương là “Ngọc Hoàng Thượng Đế” (tr38).

“ Vua Lạc Long Quân tên thuỵ là Hùng Lãm, tên tự là Phúc Thọ là con vua Kinh Dương Vương, đổi tên nước là Văn Lang, phân địa dư làm 15 bộ, phân dân làm trăm họ gọi là Bách Việt. Lấy Nguyễn (họ) làm nguyên trưởng. Lạc long Quân lấy con gái vua Đế Lai là bà Âu Cơ. Trên đầu núi có mây lành ngũ sắc rực rỡ. Bà Âu Cơ ở đó có mang sinh ra Hùng Lân nối ngôi vua là Hùng Quốc Vương, kế truyền 18 đời hơn 100 lượt vua đều lấy tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu” (tr 43-44).

Cũng tác phẩm này do Lê Xuân Khải và Đỗ Quang Liên dịch, Đỗ Đình Hạ và Nguyễn Thiên Đồng hiệu đính (tháng 7/2000 – tháng 9/2001) có đoạn viết:

“Là con cháu, há chẳng nhớ về ngọn nguồn xa xưa, vậy nay lập thành gia phả, ghi lấy mồ mả tổ tiên ta ở nơi nào, cho đến các cành nhánh, thế thứ đều có ghi chép để cho con cháu mai sau nối dõi, mãi mãi noi gương… Buổi sơ khai, tên nước là Cực Lạc có Đế Thiên (Phục Hy); rồi đến Đế Viêm là người mở ra con đường văn minh sớm nhất, đã biết dùng lửa luyện kim, nung gạch ngói; rồi đến Đế Khôi hiệu là Thần Nông. Trên toàn cõi Đông Á, các ngày lễ là đầu năm, cuối vụ (thượng điền, hạ điền, cơm mới) đều dâng hương làm lễ để nhớ ơn. Rồi đến Đế Thừa huý là Sở Minh Công. Đế Thừa (Sở Minh Công) sinh được ba con trai:

Thứ nhất là Nguyễn Minh Khiết làm hoàng đế ở phương Nam

Thứ hai là Nguyễn Nghi Nhân làm Đế ở phương Bắc (Trung Quốc)

Thứ ba là Nguyễn Long Cảnh, còn gọi là Lý Lang Công.

Đế Minh là con trưởng của Đế Thừa, huý là Nguyễn Minh Khiết. Đế Minh lấy Vu nữ Tiên Nương (sinh ở Tây Hồ) sinh ra Kinh Dương Vương

Từ cổ đến nay chỉ có một nước. Nay phân làm ba nước, ắt phải có ba vua, nên Kinh Dương Vương lấy ba chữ Vương  hợp lại thành chữ Quỷ , gọi tên nước là Xích Quỷ. (Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh biên soạn, trang 168, Hàn Man Tử hiệu đính, Trường Thi xuất bản năm 1932: Xích Quỷ là tên một ngôi sao có sắc đỏ rực rỡ nhất trong Nhị thập bát tú trên bầu trời. Tục truyền là quốc hiệu của đất nước, được xem là cội nguồn của Việt Nam, vào thời Kinh Dương Vương. Xích nghĩa là đỏ, chỉ phương Nam. Theo Kinh Dịch, Phương Nam là nơi văn minh).

Tổ Kinh Dương Vương, huý Quảng (Nguyễn Quảng). Quốc sử gọi là Lộc Tục, tên chữ là Phúc Lộc, con của Thánh tổ Nguyễn Minh Khiết và Vu Tiên. Sau khi đánh thắng Mạc Ma ở Tử Di Sơn, được phụ vương phong làm Kinh Dương Vương, cho cai trị đất Kinh Châu, Dương Việt, có chú là Long Cảnh cùng Bát Bộ Kim Cương phù trợ. Khi Đế Minh băng hà, mười lăm bộ đồng lòng tôn ông (Ốc tổ) làm Thiên tử, sau tôn hiệu là Nam Triều Thánh tổ Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Ốc tổ (Kinh Dương Vương) sinh được 5 người con là:

- Con trưởng là Nguyễn Nghiêm, huý là Hùng Nghiêm, đời sau tôn là Phong Thần.

- Con thứ hai là Nguyễn Quyền, huý là Hùng Quyền, tên chữ là Pháp Vân.

- Con thứ ba là Nguyễn Đô, huý là Vũ Thiên Hầu, tên chữ là Pháp Vũ.

- Con thứ tư là Nguyễn Khoản (sử ký ghi là Sùng Lãm) là Lạc Long Quân.

- Con thứ năm là Nguyễn Hoạch, tự là Pháp Điện, huý là Quang Anh.

Kinh Dương Vương là hậu duệ Thần Nông huý là Nguyễn Quảng (Quốc sử là Lộc Tục) sinh ra Lạc long Quân. Bấy giờ, con gái Đế Lai là Âu Cơ, tên là Mỹ có sắc đẹp được Lạc Long Quân lấy làm vợ. Bà có thai sau 10 tháng sinh ra một bọc 100 trứng. Sau 7 ngày trứng nở ra 100 người con trai, không bú mớm gì mà trưởng thành. Một hôm Long Quân nói với Âu Cơ: ta vốn là giống Rồng, nàng vốn là giống Tiên, số phận không giống nhau, xum họp thật khó khăn, hãy cùng nhau tương biệt, chia 50 người con theo cha về Biển làm Thuỷ thần và 50 người con theo mẹ về Núi làm Sơn thần, đó là gốc của họ Hùng.

Trước sau họ Hùng có Bách Thần Sông Núi, thường hay ứng hiệu biến hoá thần thông, âm phù giúp nước, giúp dân. Bách Thần cũng thường ứng mộng vào làm con các nhà, nhà nào có phúc thì được.

Có 18 triều vua được tôn huý là Hùng Vương, trước nhất là Hùng Quốc Vương, huý là Lâm Lang.(Tr 1-7).

Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ do GS Ngô Đức Thọ dịch có đoạn viết:

CỔ VIỆT HÙNG THỊ NHẤT THẬP BÁT THẾ THÁNH VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỆN TÍCH XƯA LƯU LẠI CỦA BẢN NGỌC PHẢ CHÉP TRUYỆN TIỀN THÁI TỔ CAO HOÀNG ĐẾ CỦA THÁNH TỔ HÙNG VƯƠNG SƠN THÁNH

[ĐẾ MINH 帝明] Cháu ba đời của vua Viêm Đế là Đế Minh sinh Đế Nghi rồi đi tuần du phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh (giới hạn ở động Bạch Hổ tỉnh Vân Nam - xưa gọi là động Xích Quỷ, nguyên thuộc nước ta gọi là quận Giao Chỉ. Động Xích Qủy sau gọi là nước Xích Quỷ, nay đổi là nước An Nam) thì gặp nàng Vụ Tiên thần nữ, sinh ra Kinh Dương vương.

[Đời thứ 1]

KINH DƯƠNG VƯƠNG 涇陽王

Vua thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh muốn truyền ngôi báu để làm chính thống cho muôn nước. Nhưng Kinh Dương Vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương quay mặt về phương Nam mà cai trị thiên hạ [tức là làm vua phương Nam], gọi tên là nước Xích Quỷ.

Kinh Dương Vương kính tuân chỉ dụ của vua cha, đem quân theo núi Nam Miên mà đi về phía Nam. Trên đường ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa để đóng đô ấp [tức quốc đô].

Qua đất Hoan Châu (nay đổi là xứ Nghệ An. Nơi đó là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Tỉnh Thạch thuộc huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang) vua chọn được một vùng phong cảnh tươi đẹp, [núi non] muốn nhẫn lâu đài, gọi là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 ngọn. (Xưa gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống).

Vùng này giáp biển ở cửa Hội Thốn, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành để định nơi cho bốn phương triều cống.

Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua Kinh Dương bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du hải ngoại. Vua trải xem địa đồ, bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng xem cảnh trời nước. Vua chợt thấy một thiếu nữ lưng eo dung nhan tuyệt sắc từ dưới nước đi lên. Vua cho là cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay, bèn sai quân chèo thuyền đến gần. Vua nói:

-Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?

Thiếu nữ đáp:

-Thiếp tên là Thần Long, là con gái vua Động Đình. Thiếp ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay gặp thiên sứ, nguyện được hầu trầu khăn.

Kinh Dương Vương vui mừng đẹp ý, bèn dắt tay thiếu nữ bước vào trong long thuyền. Vua cho quay thuyền trở về thành đô, lập Thần Long làm Cung vi chính khổn (Hậu cung Chính khổn)

Ngày sau vua lại đi tuần thú, rong ruỗi xa giá xem khắp các nơi sơn xuyên. Đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình đồi non chập chùng, sông đẹp núi lạ. Vua bèn tìm mạch đất, nhận được khí mạch từ trên núi Côn Lôn đi xuống, qua cửa Ải, lòng sông thoát mạch, rồng đi gần xa đến núi Tụ Long tiếp với châu Thu Vật xứ Tuyên Quang, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn. Mạch đất chảy đến các làng Hạ Hoà, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Ninh phủ Lâm Thao, rồi đến chùa Long Hoa thôn Việt Trì ở Ngã ba sông Bạch Hạc là dừng. Mạch này bên trái từ sông Lôi Hà, núi đi đến đâu sông theo đến đó, qua các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương đột khởi núi Tam Đảo, Tả cung Tiên làm thanh long. Trùng sơn vạn thuỷ, nổi lên các dãy núi ở Lập Thạch, Bách Ngoã, Chu Diên, Thanh Tước, Ngọc Bội, Khai Quang. Phụ bên trái có các núi Châu Sơn, Sóc Sơn, Chung Sơn,Trà Sơn, Từ Sơn, Trạm Sơn, Tích Sơn, An Lão sơn thuộc xứ Kinh Bắc chầu về, dẫn đến Hải Dương, Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử thoát ra đến biển, Đồ Sơn tám xã làm Long đầu chầu án. Mạch bên phải từ Ba Thục, Hán Giang, Nhị Hà, Lô Giang, Thao Giang, núi chạy đến đâu sông theo đến đấy. Đến Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thập Châu, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà đến huyện Bất Bạt đột khởi núi Tản Viên. Hữu cung tiên làm Bạch hổ, muôn nhánh quần sơn nổi lên ở Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Thạch Thất,Yên Sơn, Tây Phương, Sài Sơn, Tử Trầm, hữu bật đến Chương Đức, Đại Yên, Hương Tích sơn thuộc xứ Sơn Nam. Bên phải là Na Sơn, Nam Công, Vũ Phượng sơn, Đội sơn, Điệp sơn, Nghi Dương sơn, chầu phục vào trong, chảy thoát đến núi cửa biển Thần Phù ở núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Trà Lý làm đầu hổ chầu, lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường, lấy Ngã Ba Lãnh ở sông Cả thuộc huyện Nam Xương làm Trung minh đường, núi Tượng Sơn ở Nam Hải làm Ngoại minh đường. Nghìn non nâng chủ, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về ngọn tổ sơn Nghĩa Lĩnh. Thu tận hình thế, vua nhận ra thế cục của đất này quý đẹp hơn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập Chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh để thỉnh thoảng ngự giá đến nghỉ. Bên ngoài lại dựng đô thành Phong Châu (nay là Cựu đô thành ở thôn Việt Trì xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (Đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, đến bắc Động Đình hồ, nam tiếp nước Hồ Tôn (nay là nước Chiêm Thành). Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại dựng ở núi Nghĩa Lĩnh, nay lấy núi Nghĩa Lĩnh làm nơi đóng đô ấp của nước Việt Thường. Bấy giờ vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh vừa lúc cung phi con gái vua Thần Long có mang, rồng hiện điềm lành, khắp nhà rực ánh sáng đỏ, trong trướng hương thơm ngào ngạt toả ra. Cung phi nghỉ trong trướng ngọc khoảng một tuần (10 ngày) thì sinh ra Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân huý Sùng Lãm, ở ngôi 400 năm, thọ 420 tuổi. Vợ Lạc Long Quân sinh một bọc trăm trứng, an lành nở ra 100 con trai. Vương định 100 họ (tính), đặt 100 tên, xưng 100 hiệu, làm 100 vị thần, mỗi vị chiếm cứ một khu, đều xưng là Thuỷ tổ của Bách Việt, rất mực linh thiêng. Vua cha là Long Quân hoá sinh bất diệt, trở về biển thành Rồng, là Động Đình đế quân.

Long quân bẩm sinh tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương, bèn được lập làm Hoàng thái tử.

Bấy giờ có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ về sống ở quê mẹ tại động Lăng Sương huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc (nay đổi là Lăng Sương huyện Thanh Thủy). Một hôm Âu Cơ đi chơi ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm Hoàng phi. Thế rồi Kinh Dương vương sai Lạc Long Quân ra ở tại đô thành núi Nghĩa Lĩnh tại Phong Châu thay vua cha làm việc nước.

Kinh Dương vương ở ngôi 215 năm, thọ 260 tuổi. Lạc Long Quân nhiếp chính.

[Đời thứ 2]

LẠC LONG QUÂN tức HÙNG HIỀN VƯƠNG 雄賢王

Lạc Long Quân lên nối ngôi, đổi hiệu là Hùng Hiền vương. Bấy giờ nàng Âu Lạc (tức Âu Cơ) có thai đã 3 năm 3 tháng 10 ngày, mây ngũ sắc sáng bừng đầu núi Ngũ Lĩnh. Giờ ngọ ngày 25 tháng 12 năm Giáp Tí cái thai trong bụng Âu Cơ chuyển động, đến giờ ngọ ngày 28 khắp nhà hương thơm toả nức, ánh sáng loé lên trong trướng, hoàng phi Âu Cơ sinh ra một bọc màu trắng như ngọc. Khi hoàng phi mới sinh, hương lạ thơm nức khắp núi Nghĩa Lĩnh và cả vùng đất tổ Phong Thứu, Ngọc Lĩnh, Liên Trì (đầm sen).

Hiền vương thấy hoàng phi sinh tú bào hết sức dị thường, cổ kim thiên hạ chưa từng thấy. Người trong nước lấy làm lạ. Vua bèn triệu hội bách quan văn võ triều thần đến chầu ở chính điện. Giờ ngọ hôm ấy ba tiếng trống lệnh rung trời chuyển đất vang lên giữa không trung trong thành nội, núi sông cây cỏ muôn vật đều phải kinh hoàng, mây lành ngũ sắc sáng bừng khắp ba ngàn thế giới. Muôn chim bay chầu trên chính điện, dưới núi làn nước tung sóng cuộn dâng. Trăm kình nghê muông thú, muôn vật cá tôm đội gió mưa về chầu cống. Vua thấy quốc gia có điềm lành kỳ lạ, bèn xuống chiếu cho bá quan văn võ sửa sang áo mũ trai giới tịnh khiết đến tề tựu ở điện Kính Thiên, đèn hương phụng hầu chầu lạy Hoàng thiên thượng đế, Tứ phủ vạn linh.

Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân rồng điện Kính Thiên, rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ. Các vị tướng ấy cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, mình mặc cẩm bào xanh, lưng thắt đai ngọc, chân đi hài sắt, nói cười đều loé hào quang lưỡi lửa. Rồi giữa các tầng mây hiện lên nhiều thiên quan thiên tướng. Ngọc Hoàng thượng đế xuống sắc:

Hiền chúa Nam Miên bọc rồng trăm trứng, nở ra trăm trai trị nước. Nay sai Tứ đại Thiên vương phù giúp bảo hộ. Vậy ban sắc này.

Hiền vương sai truyền long bài, truyền các quan văn võ ngước lên trời cao vái vọng, rồi lạy tạ Thiên vương. Thiên vương nói:

Bào ngọc trăm trứng, rồng lành giáng sinh.

Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt chiếu sắc của Ngọc hoàng Thượng đế lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, chuyển cho Từ Sơn Thiên Quang hoà thượng ở ngọn Thứu Lĩnh (sau đổi là Thiên Quang thiền tự) lưu giữ ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Đến ngày bào trứng nở ra. Hiền vương theo lời dặn của Tứ đại thiên vương chờ đợi các trứng tự nhiên biến hoá. Hiền vương thành tâm làm lễ cầu đảo lớn.

Thế là vào giờ ngọ ngày rằm tháng giêng, trăm trứng an lành nở ra trăm con trai. Khắp Long thành đầy mây ngũ sắc, áng lành toả rạng khắp nơi, hương trời thơm ngát bay toả khắp chốn núi sông.

Trong khoảng một tháng các chàng trai không cần bú mớm mà lớn bật lên như người trưởng thành, tướng mạo phương phi, dáng hình kỳ tú, thân cao ba thước bảy tấc, cái thế anh hùng.

Hiền vương triệu phi tần sáu cung đến phát các tấm gấm lĩnh để khâu may 100 bộ áo mũ cấp cho các chàng trai. Trong một ngày các cung nữ được ba lần cười vui, thường lấy hoa sen, lá sen trên hồ đem đến tặng cho các chàng trai. Được một trăm ngày, các chàng trai đã lớn, nhưng không biết nói, chỉ biết cười. Đúng trăm ngày, vào giờ Thìn ngày 20 tháng 7 cả trăm chàng trai đều cười vang, nói lớn:

Trời sinh bậc thánh,

Trị nước sinh vua,

Thanh bình bốn biển,

Thiên hạ vững yên.

Thế là một trăm hoàng tử đều đến trước sân rồng ở điện Kính Thiên.
Bỗng thấy một áng mây ngũ sắc từ trên không bay sà xuống sân rồng. Hiền vương thấy 8 vị thiên tướng đầu đội mũ đồng, mình mặc áo bào giáp sắt, chân đi hia bạc, lưng thắt khăn rồng quá độ (quá độ long cân?), tướng mạo sang quý sáng láng, mắt sáng như sao, miệng nhả hào quang hoả khí, tay cầm thần kiếm linh trượng, chày ngọc búa sắt, dàn hàng đứng hai bên tả hữu chờ lệnh. Bỗng không trung biến hoá, nhất thời mưa gió nổi lên, mây mù vờn bay vây quanh chính điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Trong khoảnh khắc núi non mất hình, sông suối tràn dâng, không ai lường được chuyện gì xẩy ra. Sau khoảng ba giờ bầu trời lại tạnh sáng. Đó là 8 vị thiên tướng gọi là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Chư Phật ở Thượng thiên sai xuống hộ vệ 100 vị hoàng tử. Nay các hoàng tử đã trưởng thành đôn hậu minh mẫn, tám tướng phụng sai đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha trị bình trong nước.

Tâu xong các các thiên tướng biến hoá bay về trời, ban cho Hiền vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một hòn ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển Thiên thư (sách trời), một chiếc thước ngọc, một chiêc mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện. Hiền vương vâng mệnh đón nhận, coi đó là điềm lành lớn trời ban để trị yên thiên hạ.

Hiền vương thấy 100 con trai bỗng nhiên đã trở nên cao lớn, thân cao bảy thước ba tấc, tay cầm thần khí thiên bảo, chia hàng đứng chầu hai bên tả hữu. Các hoàng tử lạy mừng phụ hoàng. Hùng vương xuống chiếu truyền rằng:

Trăm con trời sinh của ta thánh văn thần vũ, hùng tài đại lược, giúp nước yên bình, thiên hạ ngước trông, thi nhân hoá đức, cha con vua tôi cùng vui.

Hiền vương cho triệu bách quan đến lạy mừng rồi cùng triều hội để nghị bàn quốc sự, đổi hiệu thay tên. Trăm con trai trăm hiệu, vị thứ cao thấp trước sau. Trăm hoàng tử đều có tư chất hơn người, anh hùng bậc nhất xưa nay, thần tài thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai dám phân biệt được trong các hoàng tử thì ai là người anh minh quyết đoán hơn, cho nên cũng khó đặt các danh hiệu. Triều đình tâu rằng:

- Nước có Thánh vương, sinh các hiền tướng, đều là những bậc trong triều không ai sánh bằng, vậy nên chúng thần không ai dám bàn định danh hiệu các hoàng tử. Kính thỉnh Thánh phụ xét tài của các hoàng tử để định danh hiệu.

Hiền vương phán rằng:

- Chính sự lớn của triều đình phải có người anh tài nổi bật mới có thể đảm đương được. Trẫm vâng mệnh Trời gây dựng cơ đồ lớn lao, mở nước trị dân, theo mệnh trời sinh đựơc trăm con trai. Nay trẫm muốn phong truyền chức quan cho các con, Trẫm thành tâm lập đàn chay, mật khấn Hoàng thiên cùng vạn linh ngự hội để đặt định danh hiệu trăm quan.

Bấy giờ vua lên đàn tràng khấn lễ cầu đảo lớn. Vua vừa cầu khấn xong, tự nhiên có cảm ứng, có vị thần ở phương Tây tới. Bỗng thấy một ông già râu tóc bạc phơ đầu đội mũ Phật gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi hia, tay cầm gậy tre ra chơi chùa Hoa Long ở thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc. Ông già rửa chân bên sông rồi ngồi nghỉ trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà. Hôm ấy có triều quan là Nguyên suý tiết chế tướng quân trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu bên sông. Quan Nguyên suý trông thấy ông Tiên đang xem phong thuỷ, cúi đầu nhìn xuống đáy sông, một chân ghếch lên tảng đá hình lưng rùa (đá lưng rùa ở thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc; chùa Hoa Long ở bên bờ sông. Nay dấu tích ông Tiên hãy còn). Quan trấn thủ bèn mời cụ già đến hỏi chuyện. Quan đem hết chân tình quốc sự bộc bạch với cụ già, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về điện vua trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua. Vua thân hành ra mời cụ già vào cung mở tiệc chúc mừng.

Hiền vương hỏi:

- Tiên ông từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện lạ, nhờ Tiên ông chỉ giáo cho.

Tiên ông ha hả cười vang.

Hiền vương vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:

- Trẫm có điềm lành sinh đựơc trăm con trai trí tuệ thông minh thì tất cả đạo khái cũng như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu vị thứ, cũng không biết ai anh ai em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho

Tiên ông đáp:

-Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại càn khôn. Trong ba ngàn thế giới ta thích đến nước Nam Miên ngắm xem phong thuỷ. Vua cho mời ta đến đây, ta có một quyển sách thần có thể bói xem mọi việc trong thiên hạ, gọi tên các vị Tiên. Huống chi quốc gia đã có thành tâm lập đàn cầu đảo, đã cầu tất ứng. Xin nhà vua thành tâm để lão vận trù một quẻ hỏi xem tiền định thế nào? Tiên ông bèn xem mặt các hoàng tử, phân định thứ bậc anh em. Đoạn Tiên ông lấy bút giấy ra đặt tên cho một trăm hoàng tử. Viết xong, Tiên ông đặt tờ giấy lên chiêc mâm vàng. Để phân định thứ bậc anh em. Hiền vương lại gọi 100 hoàng tử đến hội ở chính điện để nhận tên đã ghi trong sách. Mọi người xếp thành hai hàng đối nhau đợi lệnh. Một người được gọi tên lập làm thái tử để nối ngôi Vương (còn 99 người khác lần lượt nhận danh hiệu được ban. Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui. Xếp đặt mọi việc đã xong, Tiên ông tự nhiên biến hoá về trời. Hiền vương sai các quan thường xuyên đến chùa Từ Sơn Thiên Quang cầu Phật ứng hộ. Thái tử tục danh là Hùng Lân sau đổi là Hùng quốc vương. Các con thứ có tên là Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Diệu Lang, Tĩnh Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, Tiếu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tán Lang, Quyền Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hãn Lang, Liệt Lang, Ưu Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Thế Lang, Dạng lang, Tróc Lang, Sát Lang,Cốc Lang, Nhật Lang, Sái Lang, Chiểu Lang, Điềm Lang, Kiềm Lang, Trường lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Thai Lang, Triệu Lang, Ích Lang, gồm 50 trai theo lệnh cha. Hương lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Hắc Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế lang, Mã Lang, Chiếu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Miên Lang, Xuyến Lang, Yêu Lang, Thiếp Lang, Bái Lang, Tài Lang, Trừng Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhĩ Lang, Tào Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Lâm Lang, Triều Lang, Quán Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Trình Lang, Tuấn Lang, Tòng Lang, Thanh Lang, gồm 50 trai theo lệnh mẹ.

Từ đó các hoàng tử đều đã có tên gọi, trưởng thành phương trưởng, ngồi chính toạ ở triều đường, vị thứ xếp trên các quan. Hiền vương bèn phong hầu riêng cõi, chia nước làm 15 bộ:

Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chanh, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hoá, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bình, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Trước đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

- Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc.

Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế đựơc rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, đứng đầu so với các tiên vương, dẫu là phong hoá của thời thái cổ cũng không sánh kịp.

Hùng Hiền vương hưởng nước dài lâu, đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Ngọc lụa xe thư, núi sông một mối. Đó là Thuỷ tổ của Bách Việt.

Hiền vương ở ngôi bốn trăm năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình đế quân.

[Đời thứ 3]

HÙNG QUỐC VƯƠNG 雄國王

Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn, sau khi nối ngôi thi hành chính sự đức giáo, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, nước có tích luỹ của dư. Hoàn vũ thanh bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ, vua là bậc nhiều công hưng trị, càng sáng hơn các tiên vương, các đời đều tôn xưng là bậc hiền quân. Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ sơn tinh thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, chia đất đầu núi góc biển, hùng cứ một phương. 50 trấn đầu núi đều gọi là Quan lang phiên thần phụ đạo; 50 trấn góc biển đều gọi là Thuỷ thượng linh thần, tiện cho việc bảo hộ sinh dân, khuông phù xã tắc. Hùng Quốc vương hưởng ngôi hơn 221 năm, thọ 260 tuổi, sinh được con trai con gái, 50 hoàng tử. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng; các vương tử gọi là Quan Lang vương, các vương nữ (công chúa) gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.

* Cuốn “Việt Nam và cội nguồn trăm họ” của tác giả Bùi Văn Nguyên – NXB Khoa học xã hội, năm 2000 có viết: “Sở Minh Công có hai vợ:

Bà chính thất, không chép tên, sinh một bọc hai con trai đầu là Nguyễn Minh Khiết (còn gọi tắt là Đế Minh) và em ra sau là Nguyễn Nghi Nhân (còn gọi là Đế Nghi).

Bà thứ hai sinh con trai là Nguyễn Long Cảnh (còn gọi là ông Ba) sau đổi là Lý Nỏ. Lý Nỏ nhận làm thái sư cho cháu, con anh trưởng là Nguyễn Lộc Tục, tức về sau là kinh Dương Vương… Sở Minh Công chính vừa thức đổi dân tộc Kinh sang Sở vừa đặt tên gốc họ cho ba người con trai của mình trên danh nghĩa là vua trăm họ giống Việt (Bách anh em khác). Tại sao họ Nguyễn lại là họ gốc đầu tiên của dân tộc Kinh cùng nhiều dân tộc anh em khác. Tên Nguyễn ở đâu mà ra? Chữ Nguyễn () bên trái là chữ phu (cái gồ đất) bên phải là chữ nguyên  (bắt đầu, gốc, nguyên thuỷ…) (có lẽ họ Nguyễn bắt đầu là như vậy N.V.K). Ba người con trai của Sở Minh Công như sau:

Chi thứ nhất là chi con trưởng Nguyễn Minh Khiết

Chi thứ hai là chi con thứ hai Nguyễn Nghi Nhân

Chi thứ ba là chi em thứ ba Nguyễn Long Cảnh

… đều sinh đẻ ở Phong Châu (Việt Nam)  (tr 64-65).

Trong cuốn “Tân dính Lĩnh Nam chích quái” của Vũ Quỳnh (1452-1516) có nói: “Nhân giữa mùa xuân, Minh Khiết đi tuần phía nam Ngũ Lĩnh đến núi Vu Tiên gặp cô gái dung mạo đúng đắn, thuần hậu ngang nhiên từ phía trước đi lại giáp mặt, Minh Khiết lấy làm lạ, liền hỏi chuyện, thì cô Vu Tiên thưa rằng: “Thiếp là giá Vu Tiên, nhân lúc lạc đường đi qua đây”. Minh Khiết hài lòng liền thu nạp làm phi tần, rồi thành chính thất sinh ra Lộc Tục Kinh Dương Vương” (tr 69-70).

Theo ngọc phả Hùng Vương từ đời Lê Đại Hành (năm 980) thì Kinh Dương Vương có 5 người con trai là Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Thôi, Nguyễn Lãm (sau đổi là Hùng Lãm được Kinh Dương Vương nhường ngôi cho. Đó là vua Lạc Long Quân) còn hai em là Nguyễn Huê và một người chưa có tên  đều mất sớm.

Lạc Long Quân về sau lấy con gái của Đế Lai, tức bà Âu Cơ, cháu của Đế Nghi, chi họ Nguyễn thứ hai ở  Ô Châu thuộc vùng Cối Kê. Âu Cơ có tên huý là Căn, tên chữ là Nguyệt Tiên là ái nữ của Đế Lai theo Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp. Lạc Long Quân nắm vương quyền vẫn cai quản 15 bộ như thời Kinh Dương Vương” (tr 84, 85).

Lạc Long Quan và Âu Cơ chính thức kết duyên với nhau. Ít lâu sau thì Âu Cơ có mang, đến ba năm ba tháng mười ngày. Thời đó ở đồi Nghĩa Lĩnh tức động Hoa Cái, thường có sắc mây sáng chói. Năm Giáp tý, tháng chạp ngày rằm, giờ ngọ thì Âu Cơ chuyển dạ cho đến giờ ngọ ngày 28 tháng chạp cùng năm, sinh ra một bọc trứng, cũng gọi là một bọc một trăm hòn ngọc (nhất bào bách ngọc) giữa một vùng ánh  sáng chói, hương hoa sực nức.

Ngay giờ ngọ hôm đó, nhà vua truyền nổi hiệu lệnh, triệu tập văn võ bá quan đến điện vua để chứng kiến sự lạ. Trước đó bá quan đã được lệnh chay tịnh sạch sẽ, chuẩn bị áo quần chỉnh tề, để tế lễ tạ ơn trời đất đã trao bọc trăm hòn ngọc vô cùng quý giá.

Hôm đó, trời đang tạnh ráo bỗng có mưa, nhà vua cho rằng đó là điềm tốt. Chờ các quan đến đủ, vua truyền làm lễ tế trời đất. Khoảng xế chiều bỗng thấy có một đám mây từ phía tây kéo đến phủ kín cung điện nhà vua. Từ trong đám mây ở trên cao xanh xuất hiện bóng dáng bốn vị tướng nhà trời, đầu đội mũ hoa, mình mặc áo gấm, lưng thắt đai ngọc, chân đi hài thêu, tay cầm long bài (thẻ rồng có viết chữ) của vua trời vứt xuống, đại ý nói rằng: “Nhà Trời đã ban cho Bọc trăm rồng trăm trứng, nở thành trăm con trai đội mũ vua hiền để cải huấn đất nước. Lệnh này từ Nhà Trời ban xuống, sẽ được Nhà Trời bảo vệ. Y theo sắc chỉ thi hành”.

Tiếp đó Lạc Long Quân nhắc lại ý Nhà Trời trong sắc chỉ cho mọi người cùng nghe. Nhà vua chọn một số quan văn võ, trai giới chỉnh tề, hương đèn túc trực nơi để bọc rồng trăm trứng và tất cả chuẩn bị làm lễ mở bọc. Hôm đó đúng giờ ngọ ngày rằm tháng giêng (không nói năm) lễ mở bọc bắt đầu. Nhà vua liền nhấc bổng bọc rồng giơ lên thì bỗng nhiên bọc kỳ diệu đó tự mở ra. Trăm trứng như trăm hòn ngọc đã nở thành trăm em bé trai. Đô thành Phong Châu có mây sắc phủ ở trên, sông núi toả hương trời ngào ngạt. Mọi người hân hoan vái tạ trời đất.

Một tháng trôi qua, trăm em bé trai không bú mà tự lớn dần, mặt mũi em nào cũng oai hùng sắc sảo. Nhà vua truyền cung phi may áo cho các em mặc. trước cung điện các em ở có hồ sen trải rộng, ban ngày thường có bướm lượn trên không.

Đã gần ba tháng trời mà các em vẫn chưa biết bập bẹ, chưa biết mỉm cười, kể cả em nở đầu tiên được coi như em con trưởng.

Lại đến giờ Thìn (tinh con rồng) ngày hai mươi tháng bẩy, tức 100 ngày sau, thì bỗng cả trăm cười to và tất cả nói rằng: “Trời trong xanh sinh thánh, nước lặng phắc sinh vua. Bốn biển đã thăng bình, thiên hạ ắt yên vui”.

Chẳng bao lâu 100 cậu bé đã lớn thành trăm hoàng tử. Khi các hoàng tử lên điện chầu vua cha, thì nhà vua thấy có tám vị tướng Nhà trời sai xuống bảo vệ các hoàng tử. Tám vị tướng này có thể ví như tám vị tướng Kim Cương trọng đạo Bà La Môn. Trăm hoàng tử đều to cao đến bảy thước năm tấc. Cha con chính thức gặp nhau xiết bao vui vẻ.

Nhà vua truyền vời trăm quan đến hội đồng tại điện vua, để chứng kiến lễ ban danh hiệu cao quý cho cả trăm hoàng tử, mà không cần chia thứ bậc trên dưới, để các hoàng tử cùng nhau phấn khởi. Sau đó vua truyền tổ chức lễ cầu phúc cho các hoàng tử. Bỗng có một cụ già, tự xưng là nhà tu hành ở chùa đạo Bà La Môn Hoa Long được quan chấn thủ Phong Đô triệu về chầu vua. Nhà vua ân cần tiếp và xin cụ giúp vua xử lý việc định ngôi thứ.

Nhà vua phán rằng:

- Nay Trời cho ta trăm trai trưởng thành, ta xét sức lực, tài cán các con thì như nhau, khó cho danh hiệu khác nhau, người này là anh, người kia là em. Vậy xin phiền lão nhân giúp ta.

Cụ già Hoa Long kính cẩn thưa rằng:

- Thưa thánh thượng, kẻ già nua sinh ra từ đời Tiên đế (chỉ Kinh Dương Vương), vốn theo đạo Bà La Môn, đã từng đi khắp nơi để hiểu tình hình. Kẻ già này vốn không có tài gì, may có được quyển sách Thần từ thời Tổ Phục Hy, dựa vào đó mà bói (tức là sách Bát quái).

Nhà vua truyền:

- Vậy mong lão nhân giúp ta cử đích trưởng nối ngôi và thứ tự anh em

Cụ già liền tâu:

- Việc nước rất hệ trọng. Kính mong Thánh thượng hết sức thành tâm thì mọi việc ắt sẽ suôn sẻ.

Lạc Long Quân nghe theo chỉ dẫn của cụ già và đã chọn được Hùng Quốc Vương (Nguyễn Lân) là anh cả, sau này nhường ngôi cho trở thành Vua Hùng Vương thứ nhất, lấy tên nước là Văn Lang. (tr 88- tr 92).

* Tác phẩm “Trường ca tiền sử Việt Nam” của tác giả Đỗ Văn Bình do NXB Văn hoá-Thông tin phát hành Quý III năm 2014 có đoạn viết:

“Đế Thừa (Sở Minh Công) có 2 bà vợ, bà cả là Trần Thị Phú sinh đôi hai con trai là Nguyễn Minh Khiết và Nguyễn Nghi Nhân, giống nhau như hai giọt nước; bà hai là Trần Thị Lãm (em gái bà Trần Thị Phú) sinh được Nguyễn Long Cảnh. Nguyễn Minh Khiết (“Đế Minh” sau còn gọi là Khương Thái Công) là anh cả nối ngôi vua cha Đế Thừa. Đế Minh đã chinh phục và thu phục được 72 bộ lạc (bộ tộc), sau đó phân chia hai em cùng cai quản đất nước, cụ thể là:

Giao cho Nguyễn Nghi Nhân (Đế Nghi) làm vua đất Sở…

Nguyễn Long Cảnh (con bà hai) được Đế Minh giao quản vùng đất Tây Nam…

Đế Minh khi cao tuổi, bèn giao cho con trai trưởng là Nguyễn Lộc Tục (sau này tôn là Kinh Dương Vương) làm chủ trưởng, lấy tên nước là Xích Quỷ (Quỷ là ba chữ vương ghép lại), đóng đô ở Phong Châu” (tr 226).

“Lộc Tục là con của Đế Minh và bà Ngoan Nguy. Tên thật là “Nguyễn Quảng”, sử ký ghi là “Lộc Tục” danh xưng là Kinh Dương Vương sau được dân gian tôn là “Vua cha Ngọc Hoàng – Đức Nam Bang Thánh Tổ Minh Vương; Đệ nhất Quảng Giáo Viên Minh Kinh Dương Vương” (tr 315).

“Kinh Dương Vương lấy con gái vua Động Đình là Long Nữ đẻ ra thái tử Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân, Lạc Long Quân kết hôn với công chúa Âu Cơ, sau thay Kinh Dương Vương đổi tên nước là Văn Lang” (tr 339).

“Sùng Lãm tên thật là Nguyễn Khoản là con đầu của Kinh Dương Vương, được Kinh Dương Vương truyền ngôi lấy hiệu là Hùng Long Quân hay còn gọi là Lạc Long Quân, lấy quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô ở Phong Châu.

Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái thì Văn Lang có kinh đô ở Phong Châu phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên Trung Quốc ngày nay), phía Bắc giáp hồ Động Đình (Hồ Nam Trung Quốc), phía Nam giáp Hồ Tôn (Chămpa sau này). Nước này gồm 15 bộ”.

Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra bọc 100 trứng – nở thành 100 người con trai; sau 50 con theo cha xuống biển, 50 con theo mẹ lên núi. Lạc Long Quân truyền ngôi cho Hùng Quốc Vương tên thật là Hùng Lân” (tr 348, 363).

* Tác phẩm “Nam Bang Thuỷ tổ Kinh Dương Vương” của Trần Quốc Thịnh do NXB Văn hoá dân tộc phát hành năm 2012 đã viết:

Tổ Thần Nông

“Tương truyền từ cổ xa xưa có một cụ Thiên sư nghề nông tìm ra cây lúa nước (cây lúa thần) tạo ra hạt thóc (hạt gạo), gọi là hạt Ngọc, được con cháu người đời tôn sùng là Tổ Thần Nông.

Cụ Thần Nông sinh ra Viêm Đế. Viêm Đế sinh ra Đế Minh (tức cụ Nguyễn Minh Khiết- Theo “Họ Đỗ Việt Nam” – NXB Văn hoá Thông tin – Hà Nội-2001). Đế Minh tuần du đến núi Ngũ Lĩnh gặp con gái cụ Vũ Tiên là Nữ Tiên Nương công chúa, hai người kết duyên cầm sắt. Sau này dân Việt tôn thờ Nữ Tiên công chúa là Mẫu Đoan Trang Công Chúa - tức cụ Đỗ Quý Thị, sau đi tu đắc đạo, pháp danh là Hương Vân Cái Bồ Tát (theo “Họ Đỗ Việt Nam”).

Thuỷ tổ Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ

Vào năm Nhâm Tuất có một vì sao sáng rực gọi là sao Quỷ, đỏ rực và nổi trội nhất trong 28 vì sao Nhị Thập Bát Tú. Cùng lúc đó, ở trời phương Nam có chòm sao Huyền Vũ đầu thai vào Mẫu Đoan Trang công chúa. Mẫu sinh ra người con trai khôi ngô tuấn tú, tướng mạo phi thường, được cha yêu quý đặt tên là Lộc Tục - Kinh Dương Vương”.

Theo Ngọc phả truyền lại: Nguyễn Minh Khiết (Thái Khương Công), tức Đế Minh (cháu 4 đời vua Thần Nông), sau khi thu phục được 72 bộ lạc, cụ giao quyền cho con thứ là Lộc Tục (Kinh Dương Vương) đứng đầu nước Xích Quỷ, dời nơi Phục Hy ở cũ (vùng làng Sở), sau cụ về ở với bà hai ở Khương Thượng và mất ở đấy. Mộ cụ ở làng Đình Cộng, gần đền thờ. Giỗ cụ ngày 2 tháng 2 âm lịch tại Khương Thượng (Hà Nội ngày nay).

Cụ bà, Đỗ Quý Thị, huý là Ngoan, còn gọi là Công chúa Đoan Trang, tục truyền bà là con cụ Long Đỗ, vùng Nghi Tàm (cụ Long Đỗ còn gọi là thần Bạch Mã, một trong tứ trấn Long Thành xa xưa, nay thờ ở đền Bạch Mã trong phố Hàng Buồm Hà Nội).

Hai cụ (Đế Minh, Đỗ Quý Thị) sinh ra Lộc Tục-Kinh Dương Vương, sau được tôn xưng là Vua Cha Ngọc hoàng Thượng đế (theo “Họ Đỗ Việt Nam”- tóm tắt thế thứ các vị tổ từ lúc khai sinh mở vận đất nước đến Hồng Bàng – Văn Lang- PGS Đỗ Tòng – NXB Văn hoá-Thông tin – Hà Nội – 2004).

Ngày ấy, nước Viêm Giao Bàn Cổ có một đám giặc nhà trời gọi là giặc Ma xuống quấy phá mùa màng, con người, gia súc… Cha Đế Minh định xuất quân đánh giặc, lúc này Lộc Tục đã lớn, văn võ song toàn, xin cha Đế Minh đi đánh giặc Trời (giặc Ma). Đế Minh thấy Lộc Tục dũng khí sáng ngời, bèn ưng thuận lời thỉnh cầu của Lộc Tục.

Lộc Tục xuất binh, lên thuyền ra trận trên sông Trường Giang (tức sông Hoàng Hà- Trung Quốc), đổ về sông Dương Tử. Thuyền chiến đi gần tới Hồ Động Đình, cụ Động Đình Quân nghe tin Lộc Tục, con trai Đế Minh đi đánh giặc Ma nhà trời, liền sai con gái mình là Nữ tiên Thần Long mặc áo dài mầu xanh nghênh đón về nghỉ ngơi. Giặc nhà trời nghe tin con gái cụ Động Đình Quân cùng Lộc Tục đang trên đường ra trận, hoảng sợ tự rút lui tan dần. Nhờ thế trận chiến không hao tốn sức người, sức của.

Lộc Tục chiến thắng trở về, cha Đế Minh mừng rỡ, muốn truyền ngôi cho Lộc Tục kế vị. Lộc Tục trong lòng hiếu thuận, không dám nhận, xin vua cha trao cho anh là Đế Nghi. Đế Minh làm theo ý Lộc Tục, phong cho Đế Nghi làm vua cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm vua cai trị phần đất phương Nam, lấy sông Dương Tử làm ranh giới. Lộc Tục đặt hiệu là Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.

Phần đất đai được cha Đế Minh phân chia như sau:

- Bờ bắc sông Dương Tử: do Đế Nghi cai quản.

- Bờ nam sông Dương Tử do Lộc Tục cai quản.

Ranh giới nước Xích Quỷ được xác định:

- Phía Bắc: giáp Hồ Động Đình

- Phía Đông: giáp biển Đông

- Phía Tây: giáp đất Ba Thục

- Phía Nam: giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành)

(Theo “Họ Đỗ Việt Nam, sách đã dẫn- NXB Văn hoá – Thông tin, 2004).

Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ

Lộc Tục sâu nặng nghĩa tình trước khi ra trận cùng Nữ Long (con cụ Động Đình Quân) nên xin cha mẹ cho kết duyên cùng Long Nữ.

Hai gia đình “Môn đăng hộ đối” cũng thuận tình ưng ý đôi uyên ương đang độ tuổi xuân, đã làm lễ kết duyên cho đôi trẻ. Buổi lễ có mặt đông đủ hai gia đình và mọi người trong họ tộc, cùng kính bái Thiên Địa, bái Tổ tiên, họ tộc Thần Nông, Thần sông, Thần núi, mong phù hộ cho “Gia đình bình an, con cháu hưng thịnh”.

Khi nghe tin con trai được cha Đế Minh phong làm Kinh Dương Vương cai quản đất phương Nam, Mẹ xin Đế Minh cho Mẹ mang Lộc Tục về đất phương Nam, hướng dẫn, chăm lo mong Lộc Tục trở thành vị vua anh minh, sinh con cháu giống nòi tiên tổ. Đế Minh chấp nhận lời thỉnh cầu, đồng ý cho Bà và vợ chồng Lộc Tục về đất phương Nam.

Buổi đầu mẹ con Bà trú ngụ tại động Phi Tiên, ngày đêm Bà hương đăng cầu nguyện cho con bà thuận lợi trên con đường lập nghiệp, xây dựng và mở mang giang sơn xã tắc, đông con nhiều cháu nối dõi tông đường. Bà được con cháu người Việt tôn là Hương Vân Cái Bồ Tát, là đạo Mẫu đầu tiên của con cháu đất Việt được lập đền phụng thờ ở động Phi Tiên (nay thuộc tỉnh Hoà Bình).

Kinh đô nước Xích Quỷ

Năm 2879 TCN, Lộc Tục lập nước Xích Quỷ, đây là tên Sao Quỷ (một trong 28 ngôi sao trong Nhị Thập Bát Tú) đầu thai vào Mẫu Đoan Trang. Xích Quỷ có nghĩa là Quỷ Đỏ (xích là đỏ) – Trời Nam có sao Quỷ đỏ nhất, sáng nhất.

Buổi sơ khai khi lập nước Xích Quỷ, Kinh Dương Vương đóng đô tại núi Ngàn Hống (thuộc huyện Can lộc, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay)

Thần Long Nữ theo mẹ chồng và chồng về đất phương Nam. Trên đường về, Bà mang thai đủ tháng đủ ngày. Vào mùa xuân tiết trời ấm áp, cây cối đâm trồi nảy lộc, trăm hoa đua nở, ngày ngày đàn chim Hồng quây quần ca hót véo von. Dưới chân núi Ngàn Hống (có độ cao 778 mét và nằm phía Đông Bắc Biển Đông, trong đó ngọn cao nhất là núi Hồng Lĩnh), Bà sinh cho Đức Vương một người con trai tuấn tú khôi ngô, được cha đặt tên là Sùng Lãm.

Lộc Tục lập kinh đô ở núi Hồng Lĩnh, gọi là Kinh đô Nghĩa Lĩnh (kinh thành nước Xích Quỷ).

Lạc Long Quân

Sùng Lãm sinh ra và lớn lên trong một gia đình tôn thất Đế vương, được cha Kinh Dương Vương phong Hoàng Thái tử, sau truyền ngôi kế vị, phong là Lạc Long Quân.

Theo tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu trong sách “Triết lý trong các truyền thuyết Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ”, “Lạc” có nhiều nghĩa:

- Lạc là tên con sông (Lạc Thuỷ), nơi xuất hiện Lạc Thư, góp phần tạo nên bộ Kinh Dịch nổi tiếng trong nền văn hoá Trung Hoa.

- Lạc là sự vui mừng.

- Lạc còn chỉ một trong các bộ Bách Việt (Lạc Việt)... ”

Vợ chồng Đức Vương cùng con trai Sùng Lãm khai hoang mở nước về phương Nam. Đức Vương về lập đô ở đất Phong Châu, nơi có ngọn núi cao nhất vùng (núi Nghĩa Lĩnh), xung quanh là rừng rậm, núi thấp bao bọc, có những mảnh ruộng cao, có cây ăn quả sum suê. Cây lúa Thần được Tổ tiên truyền nghề tiếp tục được gieo cấy, đất lành, mùa màng bội thu.

Từ Phong Châu, gia đình Đức Vương tiến dần về phía biển Nam Hải (phía Nam), qua các khu rừng nhỏ xen lẫn những mảnh ruộng cao, thấp kéo dài đến dãy rừng Rạm, rừng Chè (còn gọi là núi Rạm, núi Chè). Cách núi Rạm một khoảng có một gò đất nổi cao, xung quanh là thung lũng, gió biển thổi vào mát mẻ. Đức Vương vui mừng quỳ xuống vái lạy thiên, địa và thầm khấn nguyện: “Đây có phải là mảnh đất do Trời ban tặng cho Lộc Tục ở nước Xích Quỷ, là nơi gieo hạt thóc Thần làm nghề nông, lưu truyền cho con cháu mai sau, muôn đời kế nghiệp... ? ”.

Sau lời khấn của Đức Vương, cây cối bỗng im phăng phắc, mặt trời đỏ rực hồng, oi bức nóng ran, rồi phong ba bão táp ập đến, sấm chớp vang rền vùng biển Nam Hải. Trời đổ mưa như trút từ giờ Thìn, Tỵ kéo hết giờ Ngọ, đầu giờ Mùi. Đó là trận mưa rào tháng ba. Sau trận mưa cây cối đâm hoa kết trái, nước phù sa đổ về phủ đầy vùng đất linh. Rồi nước rút đến đâu dân gieo cấy tới đó, mùa màng bội thu Đức Vương rất vui lòng.

Quốc mẫu Âu Cơ

Lúc đó Đế Nghi làm vương phương Bắc, sinh ra Đế Lai. Đế Lai nghe tin chú ruột là Kinh Dương Vương sinh con trai là Sùng Lãm, đang mở bờ cõi phương Nam, bèn đến bờ biển Nam Hải gặp chú. Cuộc hội ngộ gia đình được tổ chức trọng thể tại kinh đô Hồng Lĩnh (tức Nghĩa Lĩnh).

Gia tộc Thần Nông có Sùng Lãm là cháu 5 đời và Âu Cơ là cháu 6 đời cùng ưng ý. Đôi trẻ đang độ tuổi trăng tròn, được ông Tơ bà Nguyệt se duyên. Lễ thành hôn của hai con trẻ được tổ chức long trọng. Đức Vương vui mừng, sau ngày làm lễ kính báo tổ tiên trời đất, tấn phong cho Âu Cơ là Hoàng hậu.

Theo tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu: “Âu là giống chim nước, đầu to, mỏ cứng. Âu còn chỉ một trong Bách Việt cổ (Âu Việt). Cơ là nền, gốc, nguyên lai, đàn bà, số lẻ ”.

Vợ chồng Đế Lai rất đỗi vui mừng sau cuộc hội ngộ ở đất phương Nam. Con gái Âu Cơ đã xây dựng gia đình hạnh phúc và là dâu trưởng được phong là Hoàng hậu đất phương Nam.

Truyền thuyết trăm trứng

Ngày qua tháng lại, Bà Âu Cơ đã có mang được 3 năm 3 tháng nhưng vẫn chưa đến kỳ khai hoa. Gia đình Đức Vương lo âu, cử người đi cầu một thiền sư tu hành lâu năm ở chùa Hương Tích (Hương Sơn ngày nay). Thiền sư tụng lễ liên tục 10 ngày, 10 đêm đến khoảng giờ Ngọ năm Giáp Tý, mẹ Âu Cơ sinh ra một bọc tròn, khiến cả nhà đều sợ hãi.

Sau một lúc trấn tĩnh, Đức Vương mang mâm Rồng ra sân Rồng, trước lâu đài Viễn Cổ, cùng Thiền sư tiếp tục cầu Thiên Địa, Tổ tiên : “Âu Cơ sinh bọc lành hay dữ ? Kính mong Trời Đất, Tổ tiên độ cho nàng dâu Âu Cơ phúc lành. Bọc lành thì ở, bọc dữ biến đi.. ”.

Trời đang yên lặng, bỗng mây đen kéo tới, mưa như trút nước. Một tiếng sấm nổ vang trời. Bọc Rồng tung ra 100 người con trai. Đức Vương cả mừng, mở tiệc  linh đình, phong cho cháu nội ba đời đầu tiên nở ra từ bọc Rồng là cháu trưởng đích tôn, đặt tên là Hùng Đoàn, hiệu Hùng Quốc Vương. 99 cháu còn lại, xin Thiền sư đặt tên mang họ Lang, thứ tự từ 2 đến 99. Tiệc tùng xong, Thiền sư xin phép Đức Vương trở về núi Hương Tích tu luyện.

Ông nội (Đức Vương) cùng Cha Rồng (Lạc Long Quân), Mẹ Tiên (Âu Cơ) ra sức chăm lo, dạy dỗ, tạo dựng ban đầu cho đàn cháu, con đông đúc và trưởng thành 100 người tự lực tự cường...

Mẹ Âu Cơ mang 50 người con lên rừng, cha Lạc Long Quân mang 50 người con về biển

Ngày qua tháng lại, các con đã khôn lớn. Một đêm trăng thanh gió mát, mẹ Âu Cơ mằm mơ thấy một cụ Tiên râu tóc bạc, tay cầm cây Bông Thần, có hai vệ sỹ nhà Trời mang theo binh đao hộ vệ. Cụ Tiên đến gặp và nói với mẹ Âu Cơ : “Trời xe duyên cho con. Con là Tiên, chồng con là Rồng. Tiên gốc mặt trăng trên trời, Rồng gốc dưới nước, các con tiếp tục ăn ở sẽ xung khắc. Con mang 50 con lên rừng, chồng con mang 50 con xuống biển, phúc đức sẽ hưởng muôn đời”. Nói xong cụ Tiên và 2 vệ sỹ biến mất. Mẹ Âu Cơ tỉnh dậy, bàng hoàng. Hôm sau kể lại câu chuyện gặp Tiên trong giấc mơ cho cả gia đình cùng nghe.

Đức Vương nghe chuyện, bèn chọn ngày lành tháng tốt (Ngày mồng 10 tháng 3) năm Giáp Tý, dời kinh đô từ Ngàn Hống về Ao Việt (tức Việt Trì- Phú Thọ) và phong cho cháu trưởng kế ngôi Vương, cùng Mẹ Âu Cơ mang 49 người con lên rừng lập nghiệp và 50 người con theo cha Lạc Long Quân về biển Nam Hải mở mang bờ cõi.

Hùng Vương đổi tên nước là Văn Lang và nối dài được 18 đời (tr 34 - 52).

* Truyền thuyết Kinh Dương Vương trong thư tịch Hán Nôm của Ts. Nguyễn Tá Nhi (Khu di tích lăng Kinh Dương Vương và văn hoá Luy Lâu, UBND huyện Thuận Thành, Sở VHTT, 2002) có viết: “Tư liệu Hán Nôm trong kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn ghi lại được nhiều truyền thuyết về Kinh Dương Vương. Các bản thần tích ở làng xã, phần mở đầu đều xác nhận lịch sử nước Việt có từ thời Hồng Bàng, đã khẳng định công lao dựng nước của tổ kinh Dương Vương. Trong sách Thiên Nam ngữ lục gồm 8.000 câu lục bát Nôm để ghi chép lịch sử nước Việt, trong đó có 130 câu lục bát viết về kinh Dương Vương. So với tư liệu chính sử, thì các tư liệu truyền thuyết huyền thoại thường bổ sung thêm các yếu tố truyền kỳ để câu chuyện thêm sinh động...

Một bộ phận tư liệu Hán Nôm quan trọng khác là những lời nhận xét bình phẩm về Kinh Dương Vương. Đây là những bài thơ ca ngợi hành vi cao đạo không nhận ngôi ở phương Bắc của Kinh Dương Vương. Các bài thơ xưng tụng này chép trong các sách vịnh sử như : Thoát Hiên vịnh sử thi tập, Vịnh sử tập, Tri vịnh sử... ” 

Và còn nhiều nhiều lắm truyền thuyết về Kinh Dương Vương đã được lưu truyền trong dân gian và ở các nơi tôn thờ Ngài (lăng, miếu, đình, quán…).

* Thần phả làng Á Lữ cũng ghi: “Vua Kinh Dương Vương tự là Lộc Tục có tư chất thông minh, tài đức hơn người. Ngài lấy con gái Thần Động Đình là Long Nữ, sinh ra Lạc Long Quân, tự Sùng Lãm. Lạch Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, con cả nối ngôi là Hùng Vương thứ nhất. Kinh Dương Vương hoá ngày 18/1 (không rõ năm) tại trang Phúc Khang, bộ Vũ Ninh (nay là Bắc Ninh)”.

“Lịch sử được lắng nghe ở ngưỡng cửa của truyền thuyết” như lời đại văn hào Victor Hugo nhận định. Ở đây truyền thuyết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ đã được viết thành sách như Bách khoa toàn thư mở (http://vi.wikipedia.org), Cổ Lôi Ngọc phả truyền thư, Ngọc phả Hùng Vương, Việt Nam và cội nguồn trăm họ, Trường ca tiền sử Việt Nam, Nam Bang Thuỷ tổ Kinh Dương Vương...Tất cả đều cho thấy Kinh Dương Vương (Lộc Tục – Nguyễn Quảng) là con trai của Đế Minh (Nguyễn Minh Khiết) là cha của Lạc Long Quân, ông nội của Hùng Vương. Kinh Dương Vương là người lập ra nước Xích Quỷ - quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam vào đầu thời Hồng Bàng rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ XuyênTrung Hoa ngày nay). (còn nữa)

Trích nguồn: Lịch sử họ Nguyễn Việt Nam của tác giả Ts. Nguyễn Văn Kiệm do NXB Hồng Đức XB năm 2018

Thư viện ảnh
Thông báo hoạt động